Mid Exam
Mid Exam
Mid Exam
Mid Exam
1. Anh chị hãy trình bày những chức năng cơ bản của triết học và mối quan hệ của triết học với các khoa học khác.
2. Anh chị hãy trình bày quan điểm "nhân - quả" trong thuyết Tứ Diệu Đế của triết học Phật giáo và đưa ra một số nhận xét của
mình về quan điểm này.
3. Anh chị hãy trình bày quan điểm về "Nhân - Quả thiện" trong thuyết Tứ Diệu Đế của triết học Phật giáo và nêu lên một số ảnh
hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay.
4. Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản quản điểm sống "chính danh" của triết học Nho gia và đưa ra một số nhận xét của
mình về quan điểm này.
5. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản và những cống hiến cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển
của tư duy nhân loại.
6. Anh chị hãy phân tích sự khác nhau cơ bản giữa khuynh hướng tư duy triết học phương Đông và khuynh hướng tư duy triết
học phương Tây thời cổ đại.
7. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Tây Âu thời kì trung cổ và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển
của xã hội thời kì này.
8. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Tây Âu thời kì phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát
triển của xã hội thời kì này.
9. Anh chị hãy trình bay vai trò của triết học cổ điển Đức đối với sự ra đời của triết học Mác.
10. Bằng sự ra đời và nội dung cơ bản của triết học Phật giáo hoặc triết học Nho gia, Anh chị hãy chứng minh rằng đời sống tinh
thần của con người nói chung và nội dung của các học thuyết triết học nói riêng do điều kiện sống quy định.
11. Bằng sự ra đời và nội dung cơ bản của một trong những học thuyết triết học trước mác, Anh chị hãy chứng minh rằng đời
sống tinh thần của con người nói chung, nội dung của các học thuyết triết học nói riêng do điều kiện sống quy định.
12. Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo và nêu một số ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội
Việt Nam giai đoạn hiện nay.
13. Trong tất cả các học thuyết trước Mác, theo anh chị, học thuyết nào ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống của người Việt
Nam? Tóm tắt nội dung học thuyết và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay.
14. Anh chị hãy trình bày những ảnh hưởng tích cực của một trong những học thuyết triết học trước Mác đối với xã hội Việt Nam
giai đoạn hiện nay.
Câu 1: Anh(chị) hãy trình bày những chức năng cơ bản của triết học và mối
quan hệ của triết học với các khoa học khác.
Mid Exam 1
Chức năng cơ bản của triết học
Chức năng cơ bản của triết học là cung cấp thế giới quan và phương pháp luân cho các môn khoa học khác.
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con ngƣời về thế giới (vũ trụ); về bản thân con ngƣời và vị trí của con
ngƣời trong thế giới đo
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con ngƣời về thế giới.
Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm những nguyên tắc
xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức
và thực tiễn.
Tầm quan trọng của phương pháp luận Giúp con người hiểu về phƣơng pháp, lựa chọn phương pháp, vận dụng
phƣơng pháp và tìm ra những phƣơng pháp mới.
Mối quan hệ của triết học với các khoa học khác
Triết học và khoa học tự nhiên xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển trên cơ sở những điều kiện kinh tế – xã hội và chịu sự
chi phối của những quy luật nhất định. Đồng thời, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
thúc đẩy nhau cùng phát triển
Chức năng cơ bản của triết học là cung cấp thế giới quan và phương pháp luân cho các môn khoa học khác.
2. Triết học là cơ sở để giải thích, định hướng nhận thức, hoạt động của khoa học
3. Nhà khoa học không thể thiếu phương pháp luận triết học sáng suốt dẫn đường.
_____________________________________________________________________________________________________
Triết học là môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra các quy
luật của các đối tượng nghiên cứu. Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận.
Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức. Nó là vấn đề cơ bản vì
việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch
Mid Exam 2
sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học.
Triết học đưa ra các câu hỏi về bản thể, nhận thức, chân lý, đạo đức, thẩm mỹ. Các vấn đề cơ bản của triết học là:
Vấn đề về bản thể: vật chất và ý thức là gì? Mối quan hệ giữa chúng như thế nào?
Vấn đề về chân lý: làm thế nào để xác định được một luận cứ đi từ tiền đề đến kết luận có hiệu
lực hay không? Làm thế nào để biết được một phát biểu là đúng hay sai? Ta có thể trả lời những loại câu hỏi nào?
Vấn đề về nhận thức: quá trình nhận thức diễn ra thế nào? Chúng ta có thể nhận thức chính xác
thế giới khách quan hay không? Thực tại là gì? Chúng ta nhận thức thực tại như thế nào, có nhận thức toàn bộ thực tại
hay không?
Vấn đề về đạo đức: thế nào là "tốt", thế nào là "xấu" (hoặc thế nào là "giá trị", thế nào là "phi giá trị")? Sự khác biệt giữa tốt
và xấu? Hành động như thế nào là đúng? Các giá trị có tính chất tuyệt đối hay tương đối? Thế nào là các quy tắc tự
nhiên? Hạnh phúc là gì?
Vấn đề về thẩm mỹ: đẹp là gì, xấu là gì? Nghệ thuật là gì?
Các KH thực tế không thể tồn tại và phát triển tách rời với triết học khoa học, và ngược
lại, triết học khoa học đòi hỏi phải có các KH, những khoa học này đang vừa tiếp tục
phân nghành, lại vừa tiếp tục hợp nghành và đang dẫn đến những luận điểm và những
phát minh đòi hỏi phải có những kết luận về mặt nhận thức luận. Triết học không chỉ là
sự khái quát các thành tựu của các KH và của thực tiễn loài người, nó còn liên kết chúng
lại thành một khối thống nhất và là cơ sở phương pháp luận hay tiền đề của sự phát triển
hơn nữa của các tri thức khoa học.
Cả triết học và khoa học đều phải nhận thức cái phổ biến, cái bản chất, nhưng sự khác
nhau là: một bên nhiệm vụ nhận thức là cái chung ở mức trừu tượng và khái quát cao
nhất, đưa đến những quan điểm có ý nghĩa tiên đề, còn một bên là nhận thức cái riêng,
cái riêng này cũng trừu tượng và khái quát nhưng ở mức thấp hơn, và có biểu hiện ở
những đối tượng vật chất có mức trừu tượng nhiều hay ít tùy theo trình độ phát triển của
khoa học từng thời kỳ lịch sử. Cái riêng này, về sau – từ thời cận đại – khi khoa học đã
phát triển đến trình độ cao và tách khỏi triết học, được gọi là bức tranh KH về thế giới.
Trong các công việc xây dựng các khái niệm và các lý thuyết – các nhà khoa học dù có ý
thức hay không, luôn luôn phải giải quyết hai vấn đề, thuộc về đối tượng nhận thức hay
về sự nhận thức đối tượng ấy. Triết học tác động lên khoa học chính là qua hai vấn đề đó,
thông qua các quan điểm của mình, xoay quanh vấn đề cơ bản của triết học (quan hệ giữa
vật chất và ý thức) với hai mặt của nó và quan điểm về trạng thái tồn tại của thế giới và
cách tiếp cận nhận thức (biện chứng hay siêu hình) Nguyên lý triết học về nhân quả biểu hiện cái chung, cái thống nhất và ổn
định có trong kết cấu của tất cả các quy luật về sự phát sinh và phát triển của một số hiện tượng này bởi các hiện tượng khác.
Các quy luật phổ biến của tồn tại đã được nhận thức sẽ trở thành những nguyên lý phương pháp luận của sự nghiên cứu
trong KH.
Việc nghiên cứu các phạm trù triết học chung và các quy luật cũng giúp vào sự hiểu biết
đúng đắn và sự phát triển của toàn bộ bộ máy khái quát của khoa học hiện đại, kể cả bộ
máy của từng khoa học. Triết học không nhận giải quyết những vấn đề chung của KHTN
cụ thể nào, nhưng triết học không thể phát triển được nếu không liên hệ với KHTN và
bản thân KHTN cũng sẽ mất mát nhiều thứ nếu mối liên minh của nó với triết học của
chủ nghĩa duy vật biện chứng bị yếu đi.
Câu 2: Anh(chị) hãy trình bày quan điểm”nhân-quả” trong thuyết Tứ Diệu Đế
của triết học phật giáo và đưa ra một số nhận xét của mình về quan điểm này.
Mid Exam 3
Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả.
Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân - quả.
Theo Phật giáo, nhân - quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có
nghĩa là nhân nào quả ấy. Mối quan hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên
với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả
khác.
Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra
một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Tối cao (Brahman)
nào sáng tạo ra vũ trụ.
Cùng với sự phủ định Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù([Anatman], nghĩa là
không có tôi) và quan điểm "vô thường".
Quan điểm "vô ngã" cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự "giả hợp" do hội đủ nhân
duyên nên thành ra "có" (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng
qua là do "ngũ uẩn" (5 yếu tố) hội tụ lại là: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn
tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức). Như vậy là không có cái gọi là "tôi" (vô ngã).
Quan điểm "vô thường" cho rằng vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: sinh -
trụ - dị - diệt. Vậy thì "có có" - "không không" luân hồi bất tận; "thoáng có", "thoáng
không", cái còn thì chẳng còn, cái mất thì chẳng mất.
Về nhân sinh quan, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự "giải thoát"
(Moksa) khỏi vòng luân hồi, "nghiệp báo" để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn [Nirvana].
Nội dung triết học nhân sinh tập trung trong thuyết "tứ đế"- có nghĩa là bốn chân lý,
cũng có thể gọi là "tứ diệu đế" với ý nghĩa là bốn chân lý tuyệt vời.
Mid Exam 4
3. Diệt đế (Nirodha - satya).
Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ có thể tiêu diệt để đạt tới
trạng thái Niết bàn.
7/ Chính niệm (có niềm tin bền vững vào giải thoát);
Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào "Tam học", tức ba điều cần học tập và rèn luyện là Giới - Định - Tuệ. Giới là giữ cho
thân, tâm thanh tịnh, trong sạch. Định là thu tâm, nhiếp tâm để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại cảnh làm xáo động. Tuệ
là trí tuệ. Phật giáo coi trọng khai mở trí tuệ để thực hiện giải thoát.
Câu 3: Anh(chị) hãy trình bày quan điểm về ”nhân – quả - thiện" trong thuyết tứ
diệu đế của triết học phật giáo và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với xã hội
Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Ảnh hưởng của phật giáo đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay
Mặt tích cực :
Phật giáo góp phần kiến tạo một xã hội bình đẳng, bác ái
Phật giáo góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc
Phật giáo khuyên mọi người sống lương thiện, tu tâm dưỡng tính
Giáo lý của Đạo Phật góp phần giáo dục đạo đức con người
Mid Exam 5
Phật giáo có ảnh hưởng tích cực đến các mối quan hệ gia đình, xã hội
Con người trở nên buông bỏ, không có tham vọng, bằng lòng với những gì mình có. Tách con người khỏi thực tiễn.
Phật giáo ngày nay đã bị mai một đi nhiều, không còn vai trò hướng đạo.
Bị các thành phần khác lợi dụng để lừa đảo, kiếm tiền,..mê tín dị đoan.
______________________________________________________________________
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I sau công nguyên kết hợp với phong tục, tập quán truyền thống dân tộc Việt Nam
hình thành nên Phật giáo Việt Nam. Trải qua một khoảng thời gian dài, Phật giáo ở Việt Nam không ngừng phát triển, lớn
mạnh và đã tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong việc hình thành đạo đức, nhân cách con người Việt Nam, nền văn hoá Việt
Nam. Những ảnh hưởng tích cực của Phật giáo vẫn đang được con người Việt Nam phát huy để phục vụ cuộc sống. Song
bên cạnh đó, Phật giáo cũng có những ảnh hưởng tiêu cực. Trong chương này chúng ta sẽ đi sâu phân tích các vấn đề trên.
1. ĐẠO PHẬT VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT
NAM.
Phật giáo là một tôn giáo, như các tôn giáo khác, Phật giáo cũng gồm có giáo lý và
hoạt động tín ngưỡng. Giáo lý là một hệ thống các quan điểm về thế giới và con
người, về cách thức tu luyện và hoạt động tín ngưỡng, là những hành vi, những nghi
lễ cần phải thực hiện để đạt tới ước nguyện. Cả hai đều có ý nghĩa đối với việc hình
thành nhân cách của các tín đồ.
Nhân cách Phật giáo đã góp phần làm nên nhân cách của con người Việt Nam ngày
nay. Nhân cách đó có tác dụng hai mặt. Mặt tích cực là chấp nhận sự biến đổi của thế
giới và con người, sống có nền nếp, trong sạch, giản dị, quan tâm đến nỗi khổ của
người khác, thương người, vị tha, cứu giúp người hoạn nạn, hành động thì lấy tự giác
làm đầu... Mặt tiêu cực là nhìn đời một cách bi quan, có pha trộn chất hư vô chủ
nghĩa, nặng về tin tưởng ở quyền năng và phép màu nhiệm của một vị siêu nhiên mà
nhẹ về tin tưởng năng lực hoạt động của con người, nếp sống thì khổ hạnh và không
tránh khỏi nương theo những nghi lễ thần bí. Đặc biệt là có hiện tượng mê tín dị đoan
như: Lên đồng, đốt vàng mã, những đồ dùng bằng giấy. Những tư tưởng mê lầm đó
vừa phung phí tiền bạc, thời gian lại làm xuất hiện trong xã hội những loại người chỉ
dựa vào những nghề nghiệp ấy mà kiếm sống gây ra một sự bất công trong xã hội.
Tuy nhiên, nhân cách con người Phật giáo có những điều phù hợp với xã hội hiện nay.
Nhưng những điều đó chỉ giới hạn trong những trường hợp nhất định và chúng ta phải
phát huy những mặt đó. Vượt qua những giới hạn đó, nó sẽ có những mâu thuẫn với
giáo lý và trở nên lạc lõng, mất hiệu quả. Vậy con người am hiểu đạo lý, mến đạo, mộ
đạo không phải chỉ là con người tu hành một cách cần mẫn mà phải có cả phần trí tuệ
để biết vận dụng giáo lý vào cuộc sống một cách hữu ích. Hiểu được và làm được như
thế, con người sẽ thấy đạo đức Phật đẹp đẽ và cao thượng biết bao.
3. ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM.
Nhìn vào đời sống văn hoá, tinh thần của xã hội Việt Nam trong những năm qua, ta
thấy hiện tượng Phật giáo đang được phục hồi và phát triển. Bên cạnh sự phát triển
ngày một lớn mạnh của kiến trúc hiện đại, Việt Nam vẫn phục hồi kiến trúc cổ xưa
qua việc tu sửa lại những đền chùa, miếu mạo, những danh lam thắng cảnh. Đó là những nơi mà dấu ấn của đạo phật thể
hiện rõ nhất.
Ngày nay, những nghệ thuật, kiến trúc phật gia vẫn tồn tại và được trùng tu, sửa sang
để làm nơi du lịch của khách thập phương và nơi lễ bái của nhân dân trong vùng.
Những công trình đó tuy mang đậm dấu ấn Phật giáo nhưng vẫn là sáng tạo nghệ
thuật dân gian phản ánh đời sống tinh thần của con người Việt Nam xưa.
Mid Exam 6
4. ĐẠO PHẬT VỚI CHIẾN TRANH VÀ HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM.
Đạo Phật chủ trương từ, bi, hỷ, xả. Xã hội loài người thực hiện được bốn chữ từ, bi,
hỷ, xả trong cuộc sống hàng ngày là một xã hội an lạc, hạnh phúc.
Đạo Phật chủ trương một cuộc sống vị tha, một cuộc sống hoà hợp, loại trừ mọi oán
thù. Lịch sử Phật giáo chứng minh, trong suốt 2500 năm truyền bá trong khắp cõi Á
Đông. Đạo Phật không làm rơ một giọt máu nào.
KẾT LUẬN:
Qua những vấn đề cơ bản trong Phật học, ta thấy Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng
thống nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây
dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến
tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến
tới con người từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Vì thế vấn đề nhân vị trong đạo Phật là một
vấn đề quan trọng vì đạo Phật cho rằng con người là tất cả, con người quyết định số phận
của mình, quyết định hình thái xã hội. Con người ác chỉ biết lợi mình hại người tạo ra
một xã hội với áp bức bất công. Con người thiện, sống vị tha xây dựng một xã hội tiến
bộ, lành mạnh.
Người học Phật, tu Phật hàng ngày phải sống với đạo, thực nghiệm đạo, không một phút
nào xa lìa đạo. Trong mọi hoạt động của thân, khẩu, ý đều phải gắn liền với Đạo, thể hiện
Đạo. Với cách sống như thế, người tu hành luôn là người dũng cảm có đủ nghị lực chiến
thắng ngũ dục, chiến thắng những bất công áp bức.
Và một đặc điểm lớn nhất của đạo Phật là suốt đời, Phật không bao giờ tự nhận là người
duy nhất đem lại sự giải thoát cho loài người. Phật nói: Con người ai ai cũng có Phật tính.
Trước người đã có hằng hà sa số Phật.
Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội về kinh tế như lịch
sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tận gốc mọi đau khổ là tham
lam và dục vọng. Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có
thể làm thay được và mỗi người đều coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời.
Như vậy, đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý. Hạnh
phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo lý Phật,
con người vị tha, từ, bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công bằng, mọi
người sống vì lợi ích của nhau, còn tập thể.
Trái lại. con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái
gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy
sẽ là xã hội địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.
Mid Exam 7
Câu 4: Anh(chị) hãy trình bày nội dung cơ bản quan điểm sống “chính danh”
của triết học nho gia và đưa ra một số nhận xét của mình về quan điểm này.
Khổng Tử cho rằng nếu mỗi người mỗi đẳng cấp thực hiện đúng danh phận của mình thì
xã hội có chính danh và một xã hội có chính danh là một xã hội có kỷ cương thì đất nước
sẽ thái bình thịnh trị.
Đức Nhân, Nghĩa của Nho giáo đã làm cho con người có sự đối xử nhân ái, khoan
dung, độ lượng với nhau.
Đức lễ, với hệ thống các qui định chặt chẽ đã giúp con người có thái độ và hành vi ứng xử với nhau theo thứ bậc, theo
khuôn phép.
Tiêu cực:
Một số người do quá “trọng đức”, “duy tình” trong khi xử lý các công việc và các mối quan hệ xã hội, dẫn đến buông lỏng
kỷ cương phép nước và vi phạm pháp luật.
Mid Exam 8
Việc coi trọng lễ và cách giáo dục con người theo lễ một cách cứng nhắc, bảo thủ
là cơ sở cho tư tưởng tôn ti, tư tưởng bè phái, cục bộ, đề cao địa vị, coi thường lớp trẻ,
trọng nam khinh nữ… hiện nay vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ và hành động của không ít
người.
Câu 5: Anh(chị) hãy trình bày những đặc trưng cơ bản và những cống hiến cơ
bản của triết học Hy Lạp cổ đại đối với sự phát triển của tư duy nhân loại?
Thiên về bản thể luận, khuynh hướng truy tìm bản nguyên của vũ trụ.
Đóng góp là ở khuynh hướng duy vật trong việc giải thích bản chất thế giới, với đỉnh cao nhất là học thuyết nguyên tử của
Đêmôcrít.
Triết học Hy lạp cổ đại chứa đựng hầu như tất cả những hình thái và phương thức tư duy căn bản nhất, được tiếp tục
hoàn thiện cải biến và phát triển sau này.
→ Đó là nên móng cho triết học duy vật Châu Âu sau này.
____________________________________________________
Sự hình thành, phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại Lịch sử triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại có thể chia làm ba thời
kỳ. Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh
giữa đường lối duy vật của Đê-mô-crít và đường lối duy tâm của Pla-tôn.
Mid Exam 9
Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ mới hình thành. Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo,
thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về
con người, về vũ trụ. Trên cơ sở đó, triết học với tư cách là một khoa học bao
quát mọi tri thức (khoa học của khoa học) ra đời.
a. Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy Lạp) là
Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất đầu tiên,
vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. Theo Talét đó là nước, theo
Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn, theo Anaximen đó là không
khí.
Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản nguyên của vũ
trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật.
b. Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở miền
nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại có
những quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế giới là
một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên của vũ
trụ (trường phái Pitago).
a. Theo khuynh hướng duy vật. Ămpeđôclơ cho rằng, bản nguyên của vũ trụ
không phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4
thực thể: đất, nước, lửa, không khí. Anaxago lại cho rằng, mọi vật đều được cấu
tạo từ hạt cực nhỏ nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng.
Đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này là học thuyết về nguyên tử
của Đêmôcrít. Theo ông, tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử.
Nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, chúng
vĩnh viễn vận động, không có điểm kết thúc.
b. Đối lập lại chủ nghĩa duy vật trên đây là chủ nghĩa duy tâm khách quan của
Platôn. Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã
xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự
nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
c. Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn
là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp - La
Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý
niệm của Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự
vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).
Mid Exam 10
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay
từ đầu, lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau. Cuộc đấu tranh ấy
phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã hội có giai cấp đối kháng.
Câu 6: Anh (chị) hãy phân tích sự khác nhau cơ bản giữa khunh hướng tư duy
triết học phương đông và khunh hướng tư duy triết học phương tây thời cổ đại.
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông
khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý dân số mà hơn cả là phương thức của sản xuất...
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng
chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII
– VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các
nước khác.
Theo quan điểm của Mác xít triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những
nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa
học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Như vậy triết học là một hình
thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương
Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý dân số mà hơn cả là phương thức
của sản xuất của phương Đông là phương thức sản xuất nhỏ còn phương Tây là phương thức sản
xuất của tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng khác: văn hoá phương Đông mang nặng tính
chất cộng đồng còn phương Tây mang tính cá thể.
Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông còn được thể hiện cụ thể như
sau:
Thứ nhất đó là triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa con
người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất”. Cụ thể là:
Triết học Trung quốc là nền triết học có truyền thống lịch sử lâu đời nhất, hình thành cuối thiên niên kỷ II đầu thiên
niên kỷ I trước công nguyên. Đó là những kho tàng tư tưởng phản ánh lịch sử phát triển của những quan điểm của
nhân dân Trung hoa về tự nhiên, xã hội và quan hệ con người với thế giới xung quanh, họ coi con người là tiểu vũ trụ
trong hệ thống lớn... trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một. Như vậy con người cũng chứa đựng tất cả những
tính chất, những điều huyền bí của vũ trụ bao la. Từ điều này cho ta thấy hình thành ra các khuynh hướngnhư:
khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thứcchủ quan vầ trong ý niệm đạo
đức Trời phú cho con người. Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đềucó đầy đủ trong ta”. Ta tự xét mình mà thành thực, thì
có cái thú vui nào lớn hơn nữa. Ông dạymọi người phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét
ở trong tâm, “tậntâm” của mình mà thôi. Như vậy theo ông chỉ cần tĩnh tâm quay lại với chính mình thì mọi sựvật đều
Mid Exam 11
yên ổn, không có gì vui thú hơn. Còn theo Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ trong lòng ta,lòng ta là vũ trụ. Đối với khuynh
hướng duy vật thô sơ - kinh dịch thì biết đến cùng cái tính củacon người thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật,
trời đất: trời có chín phương, con ngườicó chín khiếu. Ở phương Đông khuynh hướng duy vật chưa rõ ràng đôi khi
còn đan xen với duy tâm, mặc dù nó là kết quả của quá trình khái quát những kinh nghiệm thực tiến lâu dài của nhân
dân Trung hoa thời cổ đại. Quan điểm duy vật được thể hiện rõ ở học thuyết Âm dương, tuy nó còn mang tính chất
trực quan, chất phác, ngây thơ và có những quan điểm duy tâm, thần bí về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học
này đã bộ lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận
động, biến hoá của sự vật hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội.
Ở Ấn độ tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại được hình thành từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công
nguyên, bắt nguồn từ thế giới quan thần thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính chất tự
nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân loại. Ở Ấn độ nguyên tắc “thiên nhiên hợp nhất” lại
có màu sắc riêng như:
Xu hướng chính của Upanishad lànhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm, tôn giáo trong kinh Vêđa về cái gọi là “tinh
thần sáng tạo tối cao” sángtạo và chi phối thế giới này. Để trả lời câu hỏi cái gì là thực tại cao nhất, là căn nguyên của
tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát được linh hồn khỏi
sự lo âu khổ nào của đời sống trần tục và ràng buộc của thế giới này là “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman, là thực thể
duy nhất, có trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về với nó sau khi
chết. Tóm lại Brahman là tinh thần vũ trụ, là đấng sáng tạo duy nhất, là đại ngã, đại đinh, là vũ trụ xung quanh cái tồn
tại thực sự, là khách thể.
Còn Atman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hoá, là chủ thể và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ trụ
cư trú trong con người mà thôi. Linh hồn con người (Atman) chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “tinh thần tối cao”.
Vì Atman “linh hồn” là cái tồn tại trong thể xác con người ở đời sống trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng
linh hồn, “cái ngã” là cái khác với “linh hồn vũ trụ”, khác với nguồn sống không có sinh, không có diệt vong của vũ trụ.
Vậy nên kinh Vê-đa nối con người với vũ trụ bằng cầu khẩn, cúng tế bắt chước hoà điệu của vũ trụ bằng lễ nghi, hành
lễ ở hình thức bên ngoài. Còn kinh Upanishad quay vào hướng nội để đi từ trong ra, đồng nhất cá nhân với vũ trụ
bằng tri thức thuần tuý kinh nghiệm.
Đối với phương Tây lại nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể, chúa tể để nghiên cứu
chinh phục vũ trụ – thế giới khách quan. Và cũng chính từ thế giới khách quan khách nhau nên dẫn đến hướng nghiên
cứu tiếp cận cũng khác nhau:
Từ thế giới quan triết học “thiên nhân hợp nhất” là cơ sở quyết định nhiều đặc điểm khác của triết học phương Đông
như: lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – tính chất hướng nội; hay như nghiên cứu thế giới cũng là để
làm rõ con người và vấn đề bản thảo luận trong triết học phương Đông bị mờ nhạt. Nhưng ngược lại triết học phương
Tây lại đặ trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người chỉ được nghiên cứu để
giải thích thế giới mà thôi. Cho nên phương Tây bàn đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Cái khác biệt nữa là ngay trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệm khác phương Tây:
Ở Phương Đông người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người và đời sống tâm linh, ít quan
tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp trống
trị cho nên nghiên cưú con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị con người, không thấy
quan hệ giữa người với người trong lao động sản xuất.
Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con
người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc để
giải phóng con người.
Thứ hai, ở phương Đông những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái
ý thức xã hội khác. Cái nọ lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có những triết gia với
những tác phẩm triết học độc lập. Và có những thời kỳ người ta đã lầm tưởng triết học là khoa học của khoa học như triết
học Trung hoa đan xen với chính trị lý luận, còn triết học Ấn độ lại đan xen tôn giáo với nghệ thuật. Nói chung ở phương
Đông thì triết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học.
Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học học độc lập với các môn khoa học khác mà các khoa học
lại thường ẩn dấu đằng sau triết học. Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học muốn tồn tại phải khoác áo tôn giáo, phải
tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội.
Mid Exam 12
Thứ ba, Lịch sử triết học phương Đông ít thấy có những bước nhảy vọt về chất có tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là
sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ. Ở Ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời cổ đại vẫn giữ nguyên tên
gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước công nguyên đến thế kỷ 19).
Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền tần, Hán nho,
Tống nho vẫn trên cơ sở nhân – lễ – chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó ví như Lễ thời tiền Tần là
cung kính, lễ phép, văn hoá, thời Hán biến thành tam cương ngũ thường, đời Tống biến thành chữ Lý...
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ, bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để
hoàn thiện và phát triển nó hớn là vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thức triết học mới. Do vậy nó
không mâu thuận với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc
đấu tranh trong các trường phái không gay gắt và cũng không triệt đêt. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến quá
kéo dài và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen cộng sinh bên nhau.
Ngược lại ở phương Tây lại có điểm khác biệt. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên cạnh các
trường phái cũ lại có những trường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường phái Talét,
Hêraclit... đến Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ở Anh, Hà lan, triết học cổ điển Đức... Và hơn nữa cuộc đấu
tranh giữa duy tâm và duy vật mang tính chất quyết liệt, triệt để hơn.
Thứ tư, Sự phân chia trường phái triết học cũng khác:
Phương Đông đan xen các trường phái, yếu tố duy vật, duy tâm biện chứng, siêu hình không rõ nét. Sự phân chia chỉ
xét về đại thể, còn đi sâu vào những nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm có mặt duy vật, sơ kỳ là duy vật, hậu
kỳ là nhị nguyên hay duy tâm, thể hiện rõ thế giới quan thiếu nhất quán, thiếu triệt để của triết học vì phân kỳ lịch sử
trong các xã hội phương Đông cũng không mạch lạc như phương Tây.
Phương Tây thì sự phân chia các trường phái rõ nét hơn và các hình thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất
phác thô sơ đến duy vật siêu hình rồi đến duy vật biện chứng.
Thứ năm, Hệ thống thuật ngữ của triết học phương Đông cung khác so với triết học phương Tây ở 3 mảng:
Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật chất”.
Phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình, vạn pháp,... hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ...
Để nói về bản chất của vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ thì
Phương Tây dùng phạm trù khách thể – chủ thể; con người với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy.
Phương Đông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần. Trong đó hình thần là những phạm trù xuất hiện
sớm và dùng nhiều nhất.
Phương Tây dùng thuật ngữ “biện chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấy cái đấu tranh cái
động là chính.
Phương Đông dùng thuật ngữ động – tĩnh, biến dịch, vô thường, thường còn, vô ngã và lấy cái thống nhất, lấy cái
tĩnh làm gốc là vì phương Đông triết học được xây dựng trên quan điểm vũ trụ là một, phải mang tính nhịp điệu.
Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì
Phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật”.
Phương Đông dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”, cũng xuất phát từ thế giới quan thiên nhân hợp nhất nên
tất cả phải mang tính nhịp điệu, tính quy luật, tính soắn ốc của vũ trụ như thái cực đến lưỡng nghi... Có nhịp điệu
là hài hoà âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc...
Thứ sáu,
Tuy cả hai dòng triết học phương Đông và phương Tây đều nhằm giải quyết vấn đề cơ
bản của triết học nhưng
Phương Tây nghiêng nặng về giải quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề có liên quan.
Phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ hai cho nên dẫn đến hai phương pháp tư duy khác nhau.
Mid Exam 13
Tư duy:
Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nên là tư duy tất định – tư duy vật lý chính xác nhưng lại không gói
được cái ngẫu nhiên xuất hiện.
Phương Đông đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những cấu cách ngôn, ngụ ngôn nên không
chính xác nhưng lại hiểu cách nào cũng được, nó gói được cả cái ngẫu nhiên mà ngày nay khoa học gọi là khoa
học hỗn mang – dự báo.(...).
Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực
Tinh thần - Đời người - Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ
thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng -- Vũ trụ, học
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức Con người, đạo học
thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội
cá nhân, cách mạng xã hội
Câu 7: Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học tây âu thời
trung cổ và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội thời kỳ này?
Thứ nhất, sự phát triển của những tư tưởng triết học các nước Tây Âu thời Trung cổ bị chi phối rất mạnh bởi tư tưởng tôn
giáo và thần học của thiên chúa giáo.
Theo Ăngghen, trong thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu, triết học chỉ là “đầy tớ”, “con sen” cho thần học.
Bởi vì, nhiệm vụ của triết học là giải thích đúng đắn và chứng minh về mặt hình thức cho những tín điều tôn giáo do nhà
thờ thiên chúa giáo thống trị, đứng đầu là Giáo hoàng La Mã đặt ra.
Đây là thời kỳ lịch sử mà tiếng nói “trí tuệ và lương tri nhân loại ” bị áp đảo bởi sự
tuyên truyền của giáo hội về đức tin nơi Thiên chúa. Đây cũng là thời kỳ các nhà thần
học được phép tuyên bố rằng mọi tri thức của nhân loại đều có thể rút ra từ Kinh thánh; rằng tất cả những gì trái với kinh
thánh đều đáng nguyền rủa và xử tội.
Thứ hai, sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của tư tưởng triết học kinh viện cũng là một nét nổi bật của thời kỳ Trung cổ ở
Tây Âu; chủ nghĩa kinh viện với tư cách là một trường phái triết học - một thứ triết học “nhà trường”, “sách vở”. Nghĩa là,
một thứ triết học đặt ra và giải quyết các vấn đề xa rời thực tế cuộc sống.
Mid Exam 14
Những căn cứ để triết học kinh viện “luận chứng” chính là những tín điều trong các
cuốn kinh thánh của đạo Thiên chúa, chứ không phải là những kiến thức khoa học, 5
không phải là thực tiễn quan sát và thí nghiệm của khoa học như giai đoạn sau này, cũng
không phải là thực tiễn kinh tế xã hội hiện thực. Bởi vậy, những luận chứng của nó
mang tính “sáo rỗng” hình thức mà thiếu đi nội dung hiện thực của cuộc sống sinh động.
Triết học kinh viện là triết học chính thức của giai cấp phong kiến, đã kìm hãm sự phát
triển của khoa học và triết học duy vật.
Thứ ba, cuộc đấu tranh giữa hai phái Duy thực và Duy danh cũng là đặc trưng của tư
tưởng triết học Trung cổ Tây Âu. Xét đến cùng, cuộc đấu tranh này phản ánh ít nhiều hai
xu hướng triết học đối l ậpnhau: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Duy thể tìm cách xây dựng một hệ thống tư tưởng theo lý tính để củng cố tôn giáo. Duy danh đề cao cá thể - đề cao
quyền lợi thực tế chống lại những quyền lợi của hệ thống phong kiến, những khuôn khổ cố định của hệ thống phong
kiến. Duy danh không trực tiếp phản đối tôn giáo, nhưng đề ra những điểm mới giải phóng tư tưởng ngoài truyền
thống cũ - điểm mới là quyền của cá thể ; là cơ sở lý luận cho các cuộc cách mạng Tư sản.
Trung cổ là thời đại chiếm ưu thế của hình thức tư duy tôn giáo, mà đối với Tây Âu là
Kytô giáo. Đó là thời đại thống trị của các tín điều nhà thờ, sự loại trừ tự do tư tưởng,
truy bức các nhà triết học và khoa học tiến bộ. Những tội ác do nhà thờ gây ra (Tòa án
Giáo hội, các cuộc thập tự chinh…) vẫn còn để l ại những dấu ấn nặng nề trong lị ch sử
nhân lọai. Triết học trở thành công cụ của thần học, chịu sự chi phối toàn diện của thần
học Kytô giáo ở khía cạnh bản thể lu ận, nhận thức luận và đạo đức, nhân sinh – xã hội.
Chức năng của triết học không phải là tìm kiếm và khám phá chân lý, mà chứng minh
cho chân lý đã sẵn có. Quá trình chuyển biến từ hình thức tín ngưỡng đa thần sang nhất
thần song hành với sự chuyển biến từ tinh thần đa nguyên triết lý của người Hy Lạp –
La Mã sang độc quyền tư tưởng.
Bên cạnh đó, chính trên cơ sở triết học tôn giáo thời trung cổ, với mục đích đưa những
cái tản mạn, phân liệt về sự thống nhất, gắn với xu thế chuẩn hóa tư duy, dù đó là chuẩn
hóa trong phạm vi tư tưởng Kytô giáo, mà khủng hỏang chính trị – xã hội và tinh thần,
vốn là nhân tố bên trong của sự sụp đổ nhà nước và văn hóa cổ đại, đã được khắc phục.
Sự thống trị của ý thức hệ tôn giáo trong một thời gian nh ất định góp phần tạo nên sự
ổn định chính trị tại nhiều quốc gia. Lẽ cố nhiên việc duy trì quá lâu một môtíp tư duy,
xem các tín điều là những chân lý bất biến, tuyệt đ ỉnh, đưa đến sự ngưng đọng, trì trệ
trong hoạt động sáng tạo của con người, loại trừ nhân tố mới, tạo nên cả vùng cấm lẫn
khoảng trống trong sinh hoạt tri thức.Triết học kinh viện Trung cổ từ nửa sau thế kỷ
XIV rơi vào khủng hoảng, vì nó không còn đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn xã hội và
nhu cầu nhận thức của con người.
“Đêm trường trung cổ” là cách diễn đạt về sức ỳ của tư duy triết học, khoa học, song
trong một số lĩnh vực khác của văn hóa (kiến trúc, hội họa, văn chương…) thời đại này
đã để l ại nhiều công trình đáng trân trọng. Bên cạnh đó triết học Kytô giáo cũng thiết
lập được những tiêu chí đạo đức xã hội căn bản, truyền bá những giá trị nhân loại
chung (thông qua tôn giáo, giáo d ục con người theo tinh th ần vị tha, khoan dung, tính
cách “hiệp sỹ”. Một số giá trị về sau trở nên lỗi thời, bị đào thải, song một số khác
vẫn được duy trì trong điều kiện mới. Một số giá trị bị nhà thờ trung cổ xuyên tạc
(chủ nghĩa thần quyền) đã trở về với diện mạo thật sự của mình, hoặc trải qua cách tân,
cải bi ến. Thời Ph ục hưng làm cho quá trình này trở nên thiết thực.
Đời sống văn hoá tinh thần các nước Tây Âu thời k ỳ trung cổ, trong đó có triết học chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ của Cơ đốc giáo và sau này là Thiên chúa giáo. Mặc dù chúng ta
Mid Exam 15
không thể phủ nhận tính chất duy tâm th ần bí của triết học thời k ỳ này, song khi xem
xét một cách toàn diện, có thể thấy rằng triết học thời k ỳ này không hoàn toànlà một
màu xám, không hoàn toàn đứt gãy với n ền triết học trước hay sau đó. Hơn nữa, trong
thời k ỳ Tây Âu trung cổ diễn ra cuộc đấu tranh rất quyết liệt giữa chủ nghĩa duy thực
và chủ nghĩa duy danh, giữa tư tưởng thần học - triết học, giữa niềm tin tôn giáo -lý trí…
và thông qua những cuộc đấu tranh ấy, các nhà triết học thể hiện mong muốn tạo ra
được những dấu ấn riêng, góp phần tìm tòi, nghiên cứu, tạo ra màu sắc riêng trong tư
tưởng triết học nhân loại. Đặc biệt, tri ết học thời k ỳ này đã không chỉ bàn đến mà còn
đề cao một vấn đề quan trọng, gắn liền với con người: vấn đề niềm tin. Tuy việc giải
quyết vấn đề niềm tin, mối quan hệ niềm tin - lý tính trong triết học thời kỳ này chưa
thật sự thoả đáng nhưng cũng đã cho chúng ta thấy được phần nào đặc trưng, sức mạnh
của niềm tin nói chung cũng như niềm tin tôn giáo trong triết học Tây Âu trung cổ nói
riêng, góp thêm tri thức về niềm tin đã có.
Sự phát triển của chủ nghĩa Kinh viện là thể hiện sự tìm kiếm cơ sở lý luận cho thế giới quan tôn giáo.
Quan hệ giữa niềm tin tôn giáo với lý trí cũng là vấn đề trung tâm của triết học. Cuộc đấu tranh giữa phái Duy thực với
phái duy Danh quanh việc giải quyết những vấn đề trung tâm của triết học là biểu hiện đặc thù cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy tâm với chủ nghĩa duy vật.
Sau thời suy thoái, xã hội tây Âu đã có sự phát triển về cả vật chất và tinh thần. Những cuộc Thập tự chinh về phía Đông
đã giúp cho phương Tây tiếp thu được nhiều điều của nền văn hoá phương Đông. Thiên văn học, toán học, cơ học, hoá
học, vật lý học hình thành và phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIII.
Câu 8: Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Tây Âu thời
kì phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội thời kì này.
Mid Exam 16
Tư tưởng triết học tây âu thời kỳ phục hưng Triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng thế kỷ XV - XVI
Thế kỷ XV - XVI ở Tây Âu được gọi là thời kỳ Phục hưng với ý nghĩa là thời kỳ có sự khôi
phục lại nền văn hóa cổ đại. Về mặt hình thái kinh tế - xã hội đó là thời kỳ quá độ từ xã hội
phong kiến sang xã hội tư bản.
Thời kỳ này, sự phát triển của khoa học đã dần dần đoạn tuyệt với thần học và tôn giáo thời
kỳ trung cổ, bước lên con đường phát triển độc lập. Giai cấp tư sản mới hình thành và là giai
cấp tiến bộ, có nhu cầu phát triển khoa học tự nhiên để tạo cơ sở cho sự phát triển kỹ thuật và
sản xuất. Sự phát triển của khoa học, về khách quan đã trở thành vũ khí mạnh mẽ chống thế
giới quan duy tâm tôn giáo.
Sự phát triển khoa học tự nhiên đã đòi hỏi có sự khái quát triết học, rút ra những kết luận có
tính chất duy vật từ các tri thức khoa học cụ thể.
Thời kỳ này đã có những nhà khoa học và triết học tiêu biểu như: Nicôlai Côpécních, Brunô,
Galilê, Nicôlai Kuzan, Tômát Morơ, v.v..
Trong các nhà tư tưởng đó thì :
Côpécních (1475 - 1543), người Ba Lan, có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của triết học và khoa học thời kỳ phục
hưng sau này. Thuyết mặt trời là trung tâm do ông xây dựng đã giáng một đòn rất nặng vào tôn giáo và nhà thờ, bác bỏ
quan điểm của kinh thánh đạo Cơ đốc về Thượng đế sáng tạo ra thế giới trong vài ngày. Thuyết này đã đánh đổ thuyết
"trái đất là trung tâm" của Ptôlêmê (người Hy Lạp, thế kỷ II) cho rằng, trái đất là bất động và ở trung tâm vũ trụ, còn vũ trụ
xoay xung quanh trái đất. Côpécních đã chứng minh rằng, mặt trời ở trung tâm vũ trụ, các hành tinh (kể cả trái đất) di
chuyển xung quanh mặt trời. Thuyết nhật tâm đã đả kích vào chính nền tảng của thế giới quan tôn giáo và đánh dấu sự
giải phóng khoa học tự nhiên khỏi thần học và tôn giáo. Phát minh của Côpécních là "một cuộc cách mạng trên trời", báo
trước một cuộc cách mạng trong các quan hệ xã hội.
Brunô (1548 - 1600), nhà triết học Italia, người kế tục và phát triển học thuyết của Côpécních.
Khi tán thành quan niệm của Côpécních "mặt trời là trung tâm", Brunô đã bổ sung thêm rằng, có vô số thế giới, xung
quanh trái đất có một bầu không khí cùng xoay với trái đất và mặt trời cũng đổi chỗ với các vì sao. Ông đã chứng minh về
tính thống nhất vật chất của thế giới (vũ trụ). Theo ông có vô vàn thế giới giống thái dương hệ của chúng ta. Với học
thuyết đó, Brunô đã bác bỏ một quan điểm cơ bản của tôn giáo về sự tồn tại của thế giới bên kia, thế giới thần linh. Ông
còn cho rằng, thế giới vật chất vận động không ngừng.
Triết học của Brunô cũng như các nhà triết học tiến bộ khác thời kỳ phục hưng đã bị nhà thờ lên án; bản thân Brunô đã bị
toà án tôn giáo kết án tử hình và thiêu sống tại La Mã. Điều đó phản ánh lịch sử vào thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo diễn ra gay gắt.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, triết học của hầu hết các nhà tư tưởng thời kỳ này còn lẫn lộn các yếu tố duy vật với duy
tâm và có tính chất phiếm thần luận (chẳng hạn, Brunô cho rằng Thượng đế và tự nhiên chỉ là một).
Cùng với Côpécních và Brunô, các nhà triết học và khoa học khác như Galilê, Kuzan, Tômát
Morơ... cũng đã có những đóng góp quan trọng cho sự phục hưng nền văn hóa cổ đại.
Nhân xét:
Triết học Tây Âu thời Phục hưng và cận đại có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của triết học nói riêng, xã hội nói
chung bằng tư tưởng của chủ nghĩa nhân đạo, giải phóng con ngƣời khỏi tín điều tôn giáo, tuyên bố tự do cá nhận, quyền
bình đẳng của con ngƣời.
Triết học Tây Âu thời Phục hưng và cận đại đã gắn kết được với thành tựu của khoa học. Mặc dù có những bước phát triển
mạnh, song, nhìn chung triết học Tây Âu Phục hƣng và cận đại vẫn nặng về phương pháp tư duy siêu hình và duy tâm về xã
hội.
Câu 9: Anh(chị) hãy trình bày vai trò của triết học cổ điển Đức đối với sự ra đời
của triết học Mác?
Mid Exam 17
Nhận định về nền triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn nhưng nó đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử
triết học.
Thành quả lớn nhất của nó là những tư tưởng biện chứng đạt tới trình độ một hệ thống lý luận – điều mà phép biện chứng
thời cổ đại Hy Lạp đã chưa có thể đạt tới và chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII Tây Âu cũng không có khả năng tạo ra.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của triết học cổ điển Đức là tính chất duy tâm, nhất là duy tâm khách quan của Hêghen, còn
chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc thì xét về thực chất không vượt qua được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật thế kỷ
XVII – XVIII Tây Âu.
Triết học cổ điển Đức đã được triết học Mác kế thừa một cách có phê phán và nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy
vật hiện đại.
Mặc dù còn những hạn chế, triết học của Phoiơbắc vẫn có ý nghĩa to lớn trong lịch sử triết học và trở thành một trong
những nguồn gốc lý luận quan trọng của triết học Mác.
Câu 10: Bằng sự ra đời với nội dung cơ bản của triết học phật giáo hoặc triết
học nho giáo.
Anh(chị) hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nổi tiếng, đời
sống của con người nói chung do điều kiện sống quy định.
Mid Exam 18
Với lịch sử 1900 năm truyền bá ở Việt Nam, trong đó có hai giai đoạn chiếm địa vị độc tôn là Hậu Lê (1428 - 1527) và Nguyễn
sơ (1802 - 1883), Nho giáo đã tác động mạnh mẽ đến văn hóa Việt Nam. Nho giáo tác động chủ yếu đến các giai cấp, tầng
lớp trên trong xã hội, nhưng không ăn sâu bén rễ vào các giai cấp, tầng lớp dưới. Đối với văn hóa tinh thần, Nho giáo góp
Mid Exam 19
phần làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống, bên cạnh dòng văn hóa dân gian gắn với ý thức tộc người, làm
nên cốt lõi của văn hóa tộc người. Nho giáo làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một phần đáng
kể, đồng thời kìm hãm, gây hại cho nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, cả trong lĩnh vực văn hóa tinh thần lẫn văn hóa
vật chất. Nho giáo càng đạt tới tột đỉnh quyền uy thì đất nước Việt Nam càng suy yếu, văn hóa Việt Nam càng suy thoái. Và
cuối cùng, trước nạn vong quốc cuối thế kỷ XIX, Nho giáo đã bất lực và tàn lụi.
2. Những tác động tích cực chủ yếu của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam
Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã có lịch sử 1900 năm truyền bá ở Việt Nam. Thời Bắc thuộc,
trong những thế kỷ đầu công nguyên, các quan cai trị người Hán như Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên (29 - 33), Sĩ Nhiếp (187 -
226), Đỗ Tuệ Độ (đầu thế kỷ V) đã ra sức truyền bá Nho giáo ở Giao Châu. Cũng trong thời kỳ này, các đoàn người Hán di
thực và tị nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang theo văn hóa Hán. Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà văn hóa Việt -
Mường đã đạt tới những thành tựu đỉnh cao, có sức mạnh văn hóa nội tại, và có khả năng chọn lọc, chuyển hóa những yếu tố
văn hóa mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn hóa nội tại của mình. Trong khi đó, Nho giáo là công cụ củng cố thể chế
nhà nước của quân xâm lược. Vì vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáo vẫn không thâm nhập được vào văn hóa Việt - Mường.
Cư dân Việt - Mường vẫn bảo tồn được văn hóa tộc người, ý thức tộc người, ý chí quật cường và nhu cầu đấu tranh vì độc
lập tự do.
Phải đến thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ XI trở đi, Nho giáo mới được Nhà nước phong kiến chú trọng đề cao. Để xây dựng, hoàn
thiện thể chế nhà nước, giai cấp phong kiến đã tìm thấy ở Nho giáo những lợi khí mà Phật giáo và Đạo giáo đương thời không
có: sự thần bí hóa vương quyền, sự thiêng liêng hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực và nội dung đào tạo quan lại thích
hợp để nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua. Đến thời Hậu Lê, Nho giáo vươn lên chiếm địa vị độc tôn trong văn hóa cung
đình, đẩy Phật giáo và Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian. Nhưng Nho giáo có vị trí hàng “Quốc giáo” thật sự ở triều
Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và triệt để khai thác đạo lý tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân
thần và quyền thống trị vĩnh viễn của tông tộc nhà vua. Trên đỉnh cao quyền lực, Nho giáo đã phát tác tối đa sức mạnh kìm
hãm của nó, trở thành nguyên nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc và trì trệ kéo dài suốt thế kỷ XIX cho đến khi mất nước về
tay Pháp. Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự suy tàn của nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn là ý
thức hệ chính thống và cũng không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thống điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa.
Sự đột khởi của phong trào Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào nắp quan tài của Nho giáo ở
Việt Nam.
Điểm sơ qua như vậy, có thể thấy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng tôn Nho giáo không chỉ do nhu cầu xây dựng
quốc gia, mà còn vì và chủ yếu là vì Nho giáo có ích đối với việc cai trị nhân dân. Vì vậy, tuy có lúc thăng lúc trầm, nhưng bao
giờ Nho giáo cũng là chiếc phao chống đắm của các triều đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi vua Lý Thánh Tông dựng Văn
Miếu ở Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi (năm 1883) giao chủ quyền quốc gia cho
Pháp.
Do sự truyền bá chủ động và kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời trung đại, Nho giáo đã thẩm thấu vào một một bộ
phận của chủ thể văn hóa Việt Nam là giai cấp quý tộc, quan lại và tầng lớp nho sĩ, quan viên. Nho giáo cũng bén rễ vào một
bộ phận văn hóa tinh thần của xã hội, làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống bên cạnh các hoạt động văn
hóa tinh thần của dân gian. Bằng cách đó, văn hóa tinh thần của Việt Nam đã bị Hán hóa một phần. Cũng bằng cách đó, Nho
giáo đã được Việt hóa một phần trong quá trình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam.
Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội ở Việt Nam thêm sâu sắc, chủ thể văn hóa Việt Nam bị chia đôi; hình thành
tầng lớp nho sĩ, giai cấp quý tộc, quan lại theo hình mẫu Nho giáo, tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng lớp sẵn có của xã hội
Việt Nam xưa (nông dân, thợ thủ công, thương nhân). Tầng lớp nho sĩ và quan lại ấy có trách nhiệm kinh bang tế thế, trị quốc
an dân, và tùy theo thời thế mà chọn lựa cách ứng xử, xuất và xử, hành và tàng. Còn các giai cấp, tầng lớp lao động thì có
trách nhiệm bảo đảm nhu cầu vật chất cho các giai cấp, tầng lớp bên trên và cho bản thân mình.
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Công Trứ, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng, ... Những nhà nho này, dù lúc bình thời hay khi vận nước gian nan, vẫn tỏ rõ khí tiết và phẩm hạnh, đồng thời có thái
độ và hành động vì nước, vì dân.
Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động văn hóa tinh thần. Trong văn hóa tổ chức cộng
đồng, ở cấp độ gia đình, Nho giáo phối hợp với văn hóa Hán làm hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi với nam quyền cực
Mid Exam 20
đoan, tồn tại song hành với truyền thống trọng nam đi đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian. Trong gia đình, gia tộc, quốc gia,
Nho giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp, trao quyền thừa kế, thừa tự cho con trai trưởng chính dòng, song hành
với tập quán trao quyền thừa kế, thừa tự cho con trai út của dân gian. Trên bình diện quốc gia, Nho giáo là cơ sở làm hình
thành tổ chức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ thống hành chính, tổ chức quân sự, quan chế, lương bổng... mô phỏng
Trung Hoa, tồn tại song hành với tổ chức cộng đồng cấp làng quê ra đời từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như là tôn giáo; gạt bỏ, bài xích các tôn giáo khác ngoại trừ những nội
dung được Nho giáo chấp nhận và khuyến khích, như lòng tin vào thiên mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ tiên... Vì vậy,
trong Nho giáo là tôn giáo của đàn ông người Việt, bên cạnh các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạo
Mẫu...
Về phong tục, sự tác động của Nho giáo và văn hóa Hán đã làm Hán hóa một phần các phong tục vòng đời, đặc biệt là
phong tục hôn nhân, phong tục tang ma. Trong thời trung đại, các phong tục này đều lấy hình mẫu của Nho giáo và văn
hóa Hán làm chuẩn mực. Chính vì vậy mà cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều người viết sách mô tả các phong tục và nghi
thức ấy trong văn hóa Việt Nam hiện đại như thể chúng là bản sao của phong tục Trung Hoa trung đại! Thật ra, bên cạnh
các phong tục hôn nhân, phong tục tang ma theo hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán trước đây, người Việt ở các
vùng miền khác nhau và các tôn giáo ở Việt Nam đều có cách thức riêng để thực hiện các phong tục ấy.
Trong giáo dục, Nho giáo là cơ sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống của Việt Nam trung đại ở bốn cấp kinh đô -
tỉnh/đạo - phủ - huyện/châu, và chế độ thi tuyển gồm bốn cấp khảo hạch - thi Hương - thi Hội - thi Đình, để đào tạo ra
quan lại nhà nước, quan viên làng xã. Hệ thống giáo dục chính thống này tồn tại song hành với mạng lưới giáo dục dân
gian trong gia đình, làng xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng xử với gia đình, cha mẹ, ông bà, tổ tiên, họ hàng, làng
xóm, thần linh... Trong lịch sử 844 năm khoa cử Hán học ở Việt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục Nho giáo đã tạo ra hàng
nghìn ông Nghè, ông Cử, ông Tú mà trong số đó nhiều người đã nổi lên thành nhà văn hóa hay nhà khoa học, như nhà sử
học Lê Văn Hưu, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Trạng Lường Lương Thế Vinh, Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà bác học Lê Quý Đôn, thi hào Nguyễn Du, nhà bác học
Phan Huy Chú…
Về văn học và nghệ thuật, Nho giáo đã góp phần làm hình thành các thể văn khoa cử (kinh nghĩa, chiếu, biểu, luận, văn
sách, thơ, phú...), các thể loại văn học mô phỏng Trung Hoa (thơ Đường luật, phú, từ, đối...), các điển tích văn học, các
sách giáo khoa truyền thụ Nho giáo, các tác phẩm văn học và nghệ thuật chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Những sản phẩm
ấy làm thành dòng văn học nghệ thuật quan phương chính thống, tồn tại song hành với dòng văn học dân gian, nghệ
thuật dân gian.
Về ngôn ngữ và văn tự, quá trình tiếp biến văn hóa Hán nói chung, Nho giáo nói riêng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong
ngôn ngữ và chữ viết ở Việt Nam. Về ngữ âm, tiếng Việt, tiếng Mường đã biến đổi các phụ âm cuối, hình thành thanh điệu
và rơi rụng các âm tiết phụ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng Việt hiện đại còn rơi rụng các tổ hợp phụ âm đầu. Về ngữ
pháp, tiếng Việt, tiếng Mường đã rơi rụng các phụ tố tạo từ của thời Môn - Khơme; riêng tiếng Việt hiện đại còn hình thành
các phụ tố tạo từ gốc Hán - Việt, và mượn nhiều cách diễn đạt của tiếng Hán. Về từ vựng, trong tiếng Việt, tiếng Mường
đều có nhiều yếu tố gốc Hán; riêng tiếng Việt có đến 70% từ gốc Hán. Hiện nay, tiếng Việt đang sử dụng một bộ phận từ
vựng gốc Hán có số lượng và tần suất sử dụng rất lớn, bao gồm Hán - Việt cổ, Hán - Việt trung đại, Hán - Việt cận đại
(khẩu ngữ của người Hoa Nam bộ), từ ngữ có yếu tố Hán - Việt. Trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt là lớp từ vựng văn hóa,
số lượng các yếu tố gốc Hán chiếm một tỷ lệ áp đảo, cả ở ba cấp độ: từ, ngữ, phụ tố. Bộ phận từ vựng gốc Hán này bao
gồm hầu hết các bình diện văn hóa mà cư dân Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong đó ảnh hưởng rõ rệt nhất là
các hoạt động văn hóa tinh thần: cách thức tổ chức xã hội cổ truyền (con người, họ tên, quan hệ thân tộc, tổ chức hành
chính, tổ chức quân sự, bộ máy quan lại...); tín ngưỡng, phong tục, lễ hội (tín ngưỡng, tôn giáo, giáo dục, khoa cử, phong
tục vòng đời, lễ hội...); văn học, nghệ thuật (thuật ngữ, các thể văn hành chính và khoa cử, các thể loại văn học bác học,
một số loại hình sân khấu...); ngôn ngữ (đặt địa danh, vay mượn và sao phỏng từ ngữ, cấu tạo từ mới từ các yếu tố gốc
Hán...). Quá trình tiếp biến văn hóa Hán và Nho giáo trong ngôn ngữ ấy tồn tại song hành với quá trình bảo tồn ngữ âm,
ngữ pháp, từ vựng gốc Môn - Khơme, và tiếp biến các ngôn ngữ Tày, Chăm, Hoa, Khơme, Pháp trong tiếng Việt.
Về văn tự, chữ Hán là văn tự chính thức của Việt Nam trong suốt thời phong kiến tự chủ, và vì là phương tiện chuyên
dùng chuyển tải Nho giáo, nên chữ Hán thường được gọi là chữ Nho, chữ Thánh hiền. Quá trình tiếp biến văn hóa Hán và
Nho giáo trong chữ viết ấy tồn tại song hành với quá trình Việt hóa các văn tự ngoại lai. Từ khi ra đời dưới thời Trần, chữ
Nôm, loại văn tự phái sinh từ chữ Hán, vừa được dùng để chuyển tải văn hóa dân gian, vừa được dùng để chuyển tải văn
hóa quan phương chính thống theo Nho giáo. Và đến đầu thế kỷ XX, với phong trào Duy Tân - Đông Du, chữ Quốc ngữ,
Mid Exam 21
hình thành từ thế kỷ XVII, đã phát triển thành văn tự của toàn dân, giúp chuyển tải những tư tưởng, tri thức mới, thoát ly
Nho giáo.
Như vậy, trong chặng đường hơn 2000 năm tiếp xúc văn hóa Hán của Việt Nam, Nho giáo đã thật sự tác động mạnh vào xã
hội Việt Nam trong hai giai đoạn: Hậu Lê (1428 - 1527) và Nguyễn sơ (1802 - 1883). Hai đối tượng chịu ảnh hưởng rõ nhất
của Nho giáo và văn hóa Hán là chủ thể văn hóa và văn hóa tinh thần. Trong chủ thể văn hóa, Nho giáo đã tác động chủ yếu
đến các giai cấp, tầng lớp trên trong xã hội, chứ không ăn sâu bén rễ vào các giai cấp, tầng lớp dưới. Đối với văn hóa tinh
thần, Nho giáo đã góp phần làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống, chứ không thay thế được dòng văn hóa
dân gian vốn có một bề dày lịch sử gắn với ý thức tộc người, làm nên cốt lõi của văn hóa tộc người. Tức là, Nho giáo đã làm
tách đôi kiến trúc thượng tầng của xã hội Việt Nam, làm hình thành dòng văn hóa quan phương theo Nho giáo, song hành và
đối lập với dòng văn hóa dân gian bản địa. Hai dòng văn hóa này dung hợp lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Nho giáo ở Việt
Nam được Việt hóa một phần, khác với Nho giáo ở Trung Hoa. Văn hóa dân gian Việt cũng bị Nho giáo hóa một phần, nhiều
phong tục gốc Hán và gốc Việt tồn tại song song. Cho nên, sẽ rất sai lầm nếu quan niệm hoặc mô tả văn hóa Việt như một
bản sao của văn hóa Hán.
Vả chăng, ảnh hưởng của Nho giáo và văn hóa Hán đối với văn hóa Việt Nam cũng chỉ kéo dài đến cuối thế kỷ XIX. Trong nền
văn hóa Việt Nam đương đại, Nho giáo không còn là tôn giáo, ý thức hệ hay học thuyết chính thống, chỉ là tàn dư trong một số
phong tục và nghi lễ.
3. Những tác hại chính yếu của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam
Bên cạnh những “đóng góp” mà tác dụng chủ yếu là làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một
phần đáng kể, Nho giáo đã trực tiếp và gián tiếp gây hại cho nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Những tác hại này
không chỉ xảy ra trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, mà cả văn hóa vật chất của đất nước Việt Nam.
Mid Exam 22
Về bộ máy quan lại:
Việc đào tạo con người sai lầm từ gốc như vậy, nên bộ máy quan lại là sản phẩm của hệ thống giáo dục đó phần lớn đều
là những kẻ bán thân bất toại. Các tân quan được tuyển bổ qua khoa cử chẳng phải làm gì khác ngoài việc ký duyệt các
văn bản hành chính do bộ máy thư lại chuyên nghiệp kiểm soát và chuẩn bị. Việc các quan được thăng chức, hay giáng
chức, cách chức, điều chuyển, không ảnh hưởng gì đến nền hành chính ở các địa phương và các bộ, vì đã có bộ máy thư
lại thường trực chăm lo. Còn ở triều đình, việc triều chính đã có nhà vua và các đại thần làm chủ. Đó là thực chất và mặt
trái của cái gọi là thành tích đào tạo và tuyển dụng quan lại của Nho giáo mà những người sính Nho thường nói. Trong
lịch sử giáo dục thời phong kiến ở Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam là ba địa phương nổi tiếng về truyền thống học
hành, đỗ đạt. Nghệ Tĩnh là một vùng đất địa linh nhân kiệt và nổi tiếng hiếu học, sản sinh nhiều anh hùng dân tộc và trong
lịch sử là nơi chuyên cung cấp những “ông đồ Nghệ” cho các vùng miền khác. Quảng Bình nổi tiếng với “Bát danh hương”
(Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim), có nhiều danh nhân học rộng đỗ cao. Quảng Nam nổi tiếng là vùng đất
“ngũ phụng tề phi”, sản sinh ra nhiều hiền tài cho đất nước. Tuy nhiên, “truyền thống hiếu học” đó là chỉ sản xuất ra những
nho sĩ và quan lại giỏi từ chương thơ phú, chẳng có ích gì cho quốc kế dân sinh. Một số người trong số họ sở dĩ làm được
những việc ích quốc lợi quần (như Nguyễn Công Trứ, người Hà Tĩnh, một nho tướng từng cầm quân đánh nam dẹp bắc,
lại chỉ huy công cuộc khai hoang lấn biển ở Kim Sơn, Tiền Hải,...) là nhờ những dưỡng chất văn hóa mà nền giáo dục
khoa cử, từ chương không cung cấp.
Về chính trị, tư tưởng trung quân của Nho giáo khiến cho nhiều nho thần, nho sĩ Đại Việt đều dốc sức bảo vệ ngai vàng,
khôi phục ngai vàng cho những dòng vua, những ông vua ăn hại, bù nhìn. Thay vì làm cho non sông nhất thống, họ lại làm
cho chính sự suy đồi, đất nước loạn lạc, dân chúng lầm than. Nhà Mạc giết vua cướp ngôi, sau khi mất nước lại dấy binh
làm loạn, vẫn được nhiều người tôn phò để tái lập vương triều ở Cao Bằng. Nguyễn Kim lập Lê Duy Ninh, một gã lang
thang bất tài vô tướng, làm vua Lê Trang Tông để tái lập nhà Lê, chỉ vì y là con cháu nhà Lê. Trịnh Tùng và con cháu giết
hại các vua Lê, nhưng không chính thức cướp ngôi, không phải vì sợ cái uy tín đã tiêu mòn của các vua Lê, mà vì tư
tưởng trung quân sâu nặng trong xã hội Đàng Ngoài. Nguyễn Gia Long thống nhất đất nước, chấm dứt chiến tranh, nhiều
người vẫn nhân danh khôi phục nhà Lê để khởi binh chống lại, gây loạn lạc kéo dài trên đất Bắc. Tệ hại hơn nữa, những
kẻ ngu trung hoặc lợi dụng chữ trung còn vứt bỏ cả liêm sỉ, lòng tự hào dân tộc, để làm tay sai cho giặc, mãi quốc cầu
vinh. Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, vẫn được các cựu thần, hoàng tộc tôn phò. Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại
là những vua bù nhìn, nhưng vẫn được triều thần phò tá, trung thành, dẫu biết rằng trung quân như vậy thực chất là trung
thành với Pháp. Thời trước, những châm ngôn như: “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong
bất hiếu” là châm ngôn cửa miệng của nhà nho. Bao nhiêu đạo và đức mà bậc chính nhân quân tử cần phải có, chung quy
lại đều không qua được cái đạo trung quân vô điều kiện.
Về kinh tế, sự độc tôn Nho giáo đã kiềm hãm kinh tế Việt Nam, làm suy yếu các nguồn nội lực, là một trong những nguyên
nhân làm cho Việt Nam mất nước. Do ý thức hệ Nho giáo, một số nghề nghiệp trong xã hội Việt Nam đã bị coi khinh, mặc
dù cần thiết, có ích cho cuộc sống của con người như nghề xướng ca, nghề thương mại... Những người theo nghề xướng
ca chuyên nghiệp (tuồng, chèo, ca trù, hát bội) thì bị khinh miệt với câu ngạn ngữ “xướng ca vô loại”, có nghĩa là nghề
xướng ca không thuộc loại nào cả, không có chỗ trong bốn loại “tứ dân” (sĩ - nông - công - thương), theo quan điểm nhà
nho. Những người theo nghề thương mại chuyên nghiệp cũng bị coi khinh, vì trong “tứ dân”, thương nhân là mạt hạng. Vì
thế mới có câu chuyện Đào Duy Từ, một nhà nho xuất thân gia đình con hát nên bị cấm thi, phải vào Đàng Trong tìm
đường lập nghiệp, trách chúa Nguyễn lo việc buôn bán (việc của con buôn) và khuyên nhà chúa chỉ chuyên lo quốc sự
cho xứng với bậc minh quân thánh chúa. Tuy vậy, thời Nam Bắc phân tranh, do nhu cầu tranh thủ các nguồn lực bên
ngoài, các chính quyền Đàng Ngoài và Đàng Trong đều thi hành chính sách mở cửa giao thương, hình thành cảng thị như
Phố Hiến, Hội An, Nông Nại đại phố, Mỹ Tho đại phố, Sài Gòn, Hà Tiên. Bước sang thời nhà Nguyễn, khi đất nước thống
nhất, ý thức hệ Nho giáo hoàn toàn thắng thế, chính sách “trọng nông ức thương”, “bế quan tỏa cảng” trở thành một thứ
quốc sách, kìm hãm đất nước trong vòng lạc hậu đói nghèo, là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất nước về tay
Pháp.
Về xã hội, quan điểm bất bình đẳng của Nho giáo đã chà đạp phụ nữ Việt Nam xuống đất đen. “Đạo” mà Nho giáo dành
cho người phụ nữ là đạo tam tòng: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. “Đức” mà Nho giáo dạy cho phụ
nữ là tứ đức: “Công, dung, ngôn, hạnh”. Tất cả là để cho người phụ nữ làm tròn chức trách phục vụ đàn ông. Đã thế, nền
giáo dục và khoa cử theo Nho giáo cũng chỉ dành cho nam giới; gần 100% phụ nữ Việt Nam bị gạt ra ngoài, chỉ được thụ
hưởng giáo dục gia đình, giáo dục dân gian, rất hiếm người được học chữ, học hỏi kiến thức qua Nho giáo. Vì vậy mà
trong suốt thời trung đại, toàn bộ việc làng, việc nước là việc của đàn ông. Việc của phụ nữ chỉ là “tề gia, nội trợ”, có thể
kiêm thêm việc chạy chợ, chạy đồng, đầu tắt mặt tối, nhưng không vì thế mà địa vị trong gia đình, xã hội của họ được
nâng lên.
Mid Exam 23
Về đối ngoại, ý thức hệ Nho giáo đã bóp méo nhãn quan người Việt đối với văn hóa Trung Hoa, văn hóa các tộc người lân
cận. Đối với văn hóa Trung Hoa, nhà nho Việt Nam thường có cái nhìn tự ti, vong bản. Đối với các nền văn hóa bản địa,
họ có cái nhìn trịnh thượng, tự tôn. Tuy một bộ phận nhà nho cũng có ý thức về cội nguồn dân tộc, ý thức về cái riêng của
văn hóa dân tộc, nhưng do ảnh hưởng của Nho giáo, trong một bộ phận nhà nho đã hình thành ý thức đồng nhất cội
nguồn dân tộc Việt với cội nguồn dân tộc Hán, đồng nhất văn hóa Việt đã trải qua “giáo hóa” với văn hóa Hán. Đối với họ,
“văn hiến” đồng nghĩa với văn hóa Trung Hoa. Do quan điểm sai lệch đó, họ đã cải biên thần thoại và truyền thuyết về cội
nguồn tộc Việt theo hướng gắn nó với cội nguồn Hán tộc (truyền thuyết về họ Hồng Bàng). Họ xem tiếng Việt, chữ Nôm,
văn Nôm là “nôm na mách qué” để thượng tôn chữ Hán và tất cả những gì được chuyển tải qua chữ Hán (hầu hết các
triều vua, trừ nhà Hồ và nhà Tây Sơn). Họ khinh miệt và chủ trương xóa bỏ những phong tục tập quán bản địa để bắt
chước Trung Hoa (Minh Mạng cấm phụ nữ Bắc Hà mặc váy mà phải mặc quần như người Hán). Họ xem những tộc người
chưa bị Hán hóa là “man di mọi rợ”, và tiến hành “giáo hóa” mà thực tế là đồng hóa họ cho giống Hán (rõ nhất là dưới thời
Minh Mạng),...
Chính vì những lẽ trên, Nho giáo càng đạt tới tột đỉnh quyền uy thì đất nước Việt Nam càng suy yếu, văn hóa Việt Nam càng
suy thoái. Tệ hại hơn nữa, là khi đụng độ với văn minh vật chất vượt trội của Phương Tây, nguy cơ mất nước đã gần kề,
những đồ đệ trung thành của cửa Khổng sân Trình vẫn còn bám vào những tư tưởng “siêu việt” của Nho giáo để dè bỉu bọn
“Tây di”, từ chối các yêu cầu cải cách, duy tân. Trước nạn vong quốc, Nho giáo đã bất lực và tàn lụi. Khi Việt Nam trở thành
thuộc địa và đất bảo hộ của thực dân, Nho giáo trở thành đống rác cũ, nhưng vẫn được chế độ thực dân bán phong kiến lưu
dụng để tiếp tay cho chúng nô dịch nhân dân. Phải đến đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân - Đông Du do các trí thức Nho học
và Tây học khởi xướng mới thật sự kết liễu số phận của Nho giáo, mở ra cho đất nước một chặng đường mới trong quá trình
tiếp biến văn hóa Phương Tây và hội nhập văn hóa thế giới.
4. Kết luận
Nho giáo đã làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một phần đáng kể. Nho giáo ảnh hưởng cả
trong văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất của Việt Nam. Nho giáo có mặt trái, gây hại cho văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt
Nam trước kia có rất nhiều lúc, nhiều nơi không cần Nho giáo. Văn hóa Việt Nam ngày nay càng không cần Nho giáo. Để hình
thành các chuẩn mực đạo đức cho những con người mới ở Việt Nam, chúng ta cần những cơ sở lý thuyết và những giá trị
tinh thần kết hợp truyền thống và hiện đại. Trong những giá trị tinh thần truyền thống, cần chú ý tìm hiểu, phát huy những giá
trị truyền thống bản địa Việt Nam, thay vì cố đào xới lại nấm mồ Nho giáo như một số người vọng ngoại và hoài cổ đã làm.
Như ý kiến của nhà nghiên cứu Quang Đạm: “Nói tóm lại, đạo lý Nho giáo thường xuyên kìm hãm xã hội chúng ta thuở trước
ở một trạng thái thấp kém. Trong khuôn khổ thiên hạ của đạo lý Nho giáo không có con đường nào tốt hơn con đường tìm
hướng quay ngược trở về với Tây Chu, với Đường, Ngu. Trong khi đó, truyền thống Việt Nam vì độc lập của Tổ quốc và vì
quyền sống chính đáng của cả dân tộc vẫn không ngừng thể hiện một tinh hoa, một bản sắc không có thế lực nào vùi lấp, xóa
bỏ được. Chế độ trị nước trị dân của các thế lực Hán tộc xâm lược và các triều đại phong kiến Việt Nam, tôn sùng Nho giáo
luôn luôn ngăn cản sự vươn lên của truyền thống Việt Nam. Tinh hoa và khí phách Việt Nam cũng luôn luôn tỏ rõ sức sống bất
diệt của mình trong mọi hoàn cảnh”.
Câu 11 : Bằng sự ra đời và nội dung cơ bản của một trong những học thuyết
triết học trước mác, Anh chị hãy chứng minh rằng đời sống tinh thần của con
người nói chung, nội dung của các học thuyết triết học nói riêng do điều kiện
sống quy định.
Mid Exam 24
Câu 12 : Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
và nêu một số ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện
nay.
Mid Exam 25
Câu 13: Trong tất cả các học thuyết triết học trước Mác, theo anh(chị) học
thuyết nào ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống của người Việt Nam? Tóm tắt
nội dung học thuyết và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với dân tộc ta
trong giai đoạn hiện nay.
Câu 14: Anh chị hãy trình bày những ảnh hưởng tích cực của một trong những học thuyết
triết học trước Mác đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Mid Exam 26
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để
tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị
kiểu mẫu – người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp
trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu nhân”, những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau
“quân tử” còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp,
phân biệt với “tiểu nhân” là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện.
Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những
người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải “tự đào tạo”,
phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành đạo”
(Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các
nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề
là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là
phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là
nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người
sẽ được gọi là Mệnh). Cần phải hiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát
triển và tồn tại của nó.
TU THÂN
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… để làm chuẩn mực
cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là lẽ
đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam
cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình.
Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua
tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những
nguyên tắc“chết người”
Quân thần: (“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới
chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới
không trung với vua)Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi
trung thành một dạ.
Phụ tử: (“phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con không
chết thì con không có hiếu)”)
Phu phụ: (“phu xướng phụ tùy” nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo)
Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong
khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại
gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con”
Mid Exam 27
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là:
công – dung – ngôn – hạnh.
Đạt đạo:
Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người quân tử
phải thực hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha
con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung), tương đương với “quân
thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân.
Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được
tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn
gọi là Tam tòng.
Đạt đức:
Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân – trí – dũng”. Khổng Tử nói: “Đức của
người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không
nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay “dũng”
bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân, nghĩa, lễ, trí”. Hán nho thêm một
đức là “tín” nên có tất cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Năm đức này còn gọi là
ngũ thường.
Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải
biết “thi, thư, lễ, nhạc”. Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện.
Ảnh hửơng phụ nữ công dung ngôn hạnh, trọng nam khinh nữ đâu đó vẫn còn,
quan hệ gia đình cha con, vợ chồng, anh em. Trò ko dám cải thầy, cấp dưới ko
dám cải cấp trên …
Câu 6: Anh chị hãy trình bày khái quát nội dung cơ bản của phép biện chứng duy
vật?
2 nguyên lý, 3 quy luật, 6 cặp phạm trù
Mid Exam 28
6. Tất nhiên và ngẫu nhiên
Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt,
các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa vào 3 tính chất cơ bản
(tính khách quan, tính phổ biến và tínhđa dạng, phong phú) theo không gian và thời
gian cụ thể.
1. Quy luật mâu thuẫn: Chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển
2. Quy luật lượng - chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển
3. Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.
Biện chứng là một phương pháp lý luận, một lý thuyết cho rằng một cái gì đó - cụ thể
hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba
đoạn:
Chính đề:
Đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động
nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế thường sẽ tạo ra cái đối lập,
do là các sự vật tồn tại trên trời đất nó ssẽ có giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếu.
Phản đề:
Ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là “phản đề”, nó nhằm
phản lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa chính đề và phản đề diễn ra
cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó, ở một vài khía cạnh nhất định, nó vượt lên
trên cả chính đề và phản đề do nó phát hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do
nó cố gằng bảo tồn các tinh hoa và tránh các hạn chế của cả hai.
Hợp đề:
Giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là “hợp đề”. Đến khi đạt
được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn
biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt
được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp
này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể
được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra được một phản đề mới. Do
đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp
độ thứ ba khi một hợp đề thứ hai đạt được.
Mid Exam 29