MỤC LỤC

MỤC LỤC...........................................................................................................................1 Chương 7: ĐỊNH TUYẾN TRONG CÁC MẠNG QUANG..............................................2 7.1 Giới thiệu...................................................................................................................2 7.2 Mạng quang: Khảo sát công nghệ..............................................................................2 7.3 Các mạng quang: phân loại dựa trên định tuyến .......................................................4 7.4 Optical-Link Networks..............................................................................................5 7.5 Single-Hop Optical Networks....................................................................................5 7.6 Các mạng quang đa chặng.......................................................................................13 7.7 Các mạng quang lai ghép ( Hybrid Optical Networks):.........................................20 7.8 Mạng Photon:...........................................................................................................23 7.9 Kết luận: ..................................................................................................................25 CHƯƠNG 10: ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG DI ĐỘNG TẾ BÀO.............................27 10.1 Giới thiệu...............................................................................................................27 10.2 Cơ bản về hệ thống tế bào......................................................................................28 10.2.1 Khái niệm về tế bào........................................................................................28 10.2.2 Chú ý trong thuật ngữ....................................................................................31 10.2.3 Cấp phát tần số cho dịch vụ tế bào................................................................31 10.2.3.1 Phân bố mới cho PCS..............................................................................33 10.3 Kiến trúc mạng ......................................................................................................33 10.3.1 Các phần tử mạng tế bào.................................................................................33 10.3.2 Giao diện bên trong.........................................................................................36 10.3.3 Các giao diện bên ngoài..................................................................................36 10.4 Chức năng giao diện không gian...........................................................................38 10.4.1 Truyền dẫn thoại.............................................................................................38 10.4.2 Các mã màu.....................................................................................................38 10.4.3 Các kênh báo hiệu...........................................................................................39 10.4.2.1 Kênh bản tin mào đầu hệ thống ............................................................39 10..4.3.2 Kênh paging............................................................................................39 10.4.3.3 Kênh truy cập...........................................................................................40 10.5 Các tiêu chuẩn hệ thống di động............................................................................40 10.5.1 Các tiêu chuẩn thoại tương tự.........................................................................41 10.5.2 Các tiêu chuẩn di động số : TDMA................................................................42 10.5.3 Các tiêu chuẩn di động số : CDMA................................................................45 10.6 Quản lý tính di động trong các hệ thống tế bào.....................................................47 10.6.1 Nhắn tin, truy cập, và lựa chọn kênh tín hiệu.................................................49 10.6.2. Truy nhập hệ thống ( System access)............................................................49 10.6.3.Paging.............................................................................................................50 10.6.4. Registration....................................................................................................51 10.6.5 Những vùng định vị........................................................................................52 10.6.6 Chuyển giao....................................................................................................53 10.6.7 Roaming..........................................................................................................57 10.7Dịch vụ số liệu phi kết nối cho các hệ thống tế bào...............................................59 10.7.1 Đặc điểm kĩ thuật gói dữ liệu số tế bào ( CDPD )..........................................60

1

Chương 7: ĐỊNH TUYẾN TRONG CÁC MẠNG QUANG
7.1 Giới thiệu Mạng truyền dẫn quang mang các bản tin được mã hóa như các tín hiệu sóng ánh sáng - bức xạ điện từ trong quang phổ thấy được và quang phổ gần vùng thấy được .Khả năng truyền dẫn tín hiệu sóng ánh sáng qua ống dẫn sóng quang bằng silica với tốc độ dữ liệu và độ tin cậy cao được tăng tốc để phát triển mạng quang. Mạng quang bao gồm các hệ thống từ các mạng sợi biến đổi đơn giản, thay thế các đường truyền dẫn điện bằng liên kết sợi quang, đến các mạng toàn quang được đề xuất gần đây, trong đó quá trình xử lý và truyền dẫn bản tin nằm toàn bộ trong miền quang. Do các công nghệ tồn tại dưới mạng quang đang phát triển rất nhanh chóng, nên các mạng quang đang xuất hiện dưới rất nhiều dạng khác nhau. Sự tiến bộ trong công nghệ gần như luôn luôn đi theo kiến trúc mạng mới làm thuận lợi cho nó. Khả năng xử lý tốt trong mạng quang giải thích tại sao nhiều chiến lược chuyển mạch duy nhất được ra đời và phát triển trong phạm vi của mạng quang Mạng quang chia sẻ với mạng điện thông thường về mục đích cơ bản của lưu lượng tích hợp phân phối hiệu suất cao (ví dụ: video, voice, và dữ liệu) dưới những điều kiện thay đổi không thể đoán trước được (như sai hỏng, tắc nghẽn, và các lỗi nguy hiểm). Vì vậy chúng ta cần chuyển mạch gói, các dịch vụ datagram, và chuyển mạch kênh – đây là những công nghệ không phù hợp trong các mạng quang, do không yêu cầu mạch điện - các dịch vụ định hướng kết nối. Lưu lượng chuyển mạch gói có thể trễ, không liên tục, mất gói. Các lớp lưu lượng không yêu cầu đảm bảo chuyển giao đầu cuối đến đầu cuối cũng như độ tin cậy trong giao thức lớp cao để tạo ra độ đảm bảo chuyển từ đầu cuối tới đầu cuối. Tuy nhiên, lớp lưu lượng thời gian thực đòi hỏi độ trễ xác định và chuyển giao theo thứ tự của thông tin; nó cũng yêu cầu tỉ lệ lỗi không được vượt quá giới hạn và kênh ảo cung cấp một thông lượng cho trước Nhưng chúng ta có thể hoàn toàn phân biệt được quang với mạng điện thông thường .Sợi quang đơn mode là môi trường chủ yếu cho truyền dẫn tín hiệu sóng ánh sáng có khả năng hướng sóng cao với bước sóng 0.8, 1.3 và 1.5µm, tương ứng với các vùng mà nguồn và bộ tách sóng sử dụng một cách dễ dàng. Những cửa sổ này biểu diễn băng tần kết hợp khoảng 75Thz. 7.2 Mạng quang: Khảo sát công nghệ Trong phần này chúng ta xem xét của việc thiết lập mạng quang. Các công nghệ sóng ánh sáng, photon, và hướng sóng quang đã tiến được những bước dài và xu hướng sẽ còn tiếp tục. Vì vậy, để hiểu việc định tuyến trong mạng quang, người đọc cần phải có hiểu biết về nền tảng công nghệ của họ mạng này. Đầu tiên chúng ta mô tả thiết bị mà trở thành 1 phần kiến thức về kiến trúc mạng quang Loại thiết bị quang duy nhất được nghiên cứu sử dụng trong mạng truyền thông, và chúng ta xem xét đặc điểm và chức năng cơ bản của các thiết bị này. Thành phần mới được phát triển ổn định. Đây là các mẫu hiện đang khả dụng và sẽ khả dụng trong tương lai.
2

hoặc lõi của vật liệu suy hao thấp như thủy tinh silic được bao phủ bởi lớp vỏ bên ngoài chỉ số khúc xạ thấp. Các sợi quang đơn mode, với đường kính lõi khoảng 10micromet, chỉ truyền dẫn 1 mode ánh sáng, bằng cách ấy loại trừ được dần dần sự phân bố năng lượng xung tốc độ hạn chế và khoảng cách truyền dẫn trong sợi đa mode. Những sợi quang đơn mode như vậy làm suy giảm tổn thất khoảng 0.16dB/km. Mặc dù không có sự tán sắc, sợi đơn mode là yếu tố tác động đến tán sắc màu, trong đó việc truyền các bước sóng khác nhau qua sợi quang với tốc độ khác nhau sao cho tín hiệu tạm thời trải rộng ra. Một phần bù cho các tác động có thể đạt được bởi kĩ thuật sản xuất sợi tán sắc thay đổi và sợi dẹt, cho phép cải tiến hoạt động tại tần số 1.3 và 1.5micromet. Bởi vì kích cỡ vật lý nhỏ (đường kính lớp vỏ vào khoảng 100micromet) sợi quang lớn hơn có thể được gói bởi một cáp .Các cáp bao gồm hàng trăm sợi quang • Bộ ghép quang: Một thiết bị thường gặp trong mạng quang, bộ ghép quang được sử dụng để tách nguồn từ một đầu vào tới nhiều đầu ra. Hơn nữa nó có thể kết hợp tín hiệu xung ánh sáng từ 2 sợi vào thành 1 sợi ra. Đặc điểm bộ tách và kết hợp nối quang được định rõ tại thời điểm chế tạo và không thể thay đổi. Các cặp sợi quang đơn mode được ghép bởi quá trình làm thon thành hình nón bằng phương pháp nóng chảy như hình 7.1. Cấu trúc hình học của cáp nhọn có thể được điều chỉnh sản xuất tỉ lệ nối phù hợp. Với 4 cổng của bộ ghép có thể kết nối tới bộ ghép hình sao n đầu vào và đầu ra, hoặc với bộ ghép hình sao 128 cổng có thể được kết cấu như các thiết bị tích hợp. Là một thiết bị thụ động hoàn chỉnh không yêu cầu phải cấp nguồn, bộ ghép này không đắt và có độ tin cậy cao, tổn hao thấp. • Chuyển mạch không gian quang: Chuyển mạch không gian quang kiểu 2×2 của biểu đồ hình 7.2 trả lời tín hiệu điều khiển, hoán vị cổng đầu vào và cổng đầu ra. Các thiết bị thường được xây dựng bởi khuyếch tán titan vào LiNbO3 nhưng chúng cũng có thể vào hợp chất bán dẫn .Với khả năng chuyển mạch nhanh các thiết bị này được tìm thấy trong mạng quang. Các chuyển mạch thông thường có tổn thất lớn (4 tới 5 dB) • Thiết bị phối hợp đường truyền: Thiết bị phối hợp đường truyền là sự tổng quát hóa của chuyển mạch không gian quang có thể với cấu hình cung cấp nguồn tùy ý cho bộ ghép giữa các đầu vào và đầu ra .LDC là thiết bị với n đầu vào và ra cho qua tín hiệu xung ánh sáng tùy theo matran a ij truyền dẫn nguồn quang của từng người sử dụng .Cổng vào aij cho biết tỉ lệ công suất gửi từ đầu vào i tới đầu ra j .Hình 7.3 cho thấy sự tách và phối hợp của tín hiệu quang .Hệ số δ miêu tả sự phân chia nguồn quang từ cổng đầu vào i phân phối tới cổng đầu ra j Hệ số ơij miêu tả sự phân chia của nguồn quang từ cổng đầu vào i tới trực tiếp cổng đầu ra j .Ta có aij =ơijδij Giống như bộ ghép tổng quát LDC có thể đồng thời tách và ghép tín hiệu quang phù hợp với thiết bị của chúng .Lựa chọn bước sóng LDC là một trong những bước sóng đặc trưng của ma trận truyền dẫn đặc trưng .Thiết bị này cho thấy sự khác nhau giữa hệ số tách và ghép được áp dụng cho đồng thời

• Sợi quang: ống dẫn sóng quang bao gồm một hình trụ trung tâm -

3

các bước sóng khác nhau .Vì thế các bước sóng khác nhau đưa vào LDC qua đầu vào và phân phối nguồn khác nhau ở đầu ra. • Bộ ghép và tách sóng: Ghép và phân chia bước sóng được thực hiện bởi sự nhiễu xạ có chia tách các bước sóng về không gian. Ngược lại bộ ghép phối hợp các tín hiệu riêng lẻ từ các cổng vào và kết hợp chúng vào cổng đầu ra . Hình 7.4 thể hiện chức năng của bộ ghép và bộ chia bước sóng với n cổng. • Routers bước sóng: Một thành phần của tín hiệu đầu vào gửi tới đầu ra đặc biệt trên cơ sở của bước sóng tín hiệu được gọi là chuyển mạch bước sóng. Chuyển mạch bước sóng là dạng tổng quát của thiết bị tách sóng. Trong thực tế, chuyển mạch bước sóng thường chỉ đơn thuần là chuyển bước sóng ở cổng đầu vào tới cổng đầu ra. Router biến đổi bước sóng không chỉ định tuyến bước sóng đi tới mà còn chuyển nó sang một bước sóng mới, bằng cách ấy cải thiện được hiệu suất thiết lập của các bước sóng bằng phương pháp giảm xung đột bước sóng. • Chuyển mạch cơ điện quang: Chức năng của chuyển mạch cơ điện quang giống như chuyển mạch không gian trừ tín hiệu xung ánh sáng được chuyển mạch cơ học .Các thiết bị này tốc độ chậm nhưng đắt, với thiết kế cơ sở như gương, lăng trụ, selenit. Hình 7.5 mô tả chuyển mạch ngang dọc cơ điện quang. • Bộ lọc quang: Bộ lọc quang cho phép chọn 1 hoặc nhiều bước sóng từ toàn bộ tín hiệu gồm nhiều bước sóng. Sóng âm lan truyền qua một vật liệu quang tương tác với sóng ánh sáng qua hiệu ứng photon đệm bao gồm nhiễu mà có thể thay đổi đặc tính vốn có của sóng ánh sáng. Các thiết bị này có thể điều chỉnh được độ rộng nhưng thời gian điều chỉnh của chúng tương đối dài (có thể vài µs). AOTF với bộ chọn nhiều bước sóng được biểu diễn trong hình 7.6. • Bộ khuyêch đại quang: Mặc dù hiểu họ router trong mạng quang không yêu cầu tất yếu với các công nghệ ứng dụng của mạng quang ,phát triển bộ khuyech đại quang dùng erbium được tăng tốc độ phát triển trong mạng quang .Khả năng tín hiệu xung ánh sáng mở rộng tại bước sóng cửa sổ 1.5µm, EDFA tăng công suất của tín hiệu đầu vào mà không cần tái tạo tín hiệu. Các bộ khuếch đại sợi quang được kích thích bởi các phần tử đất hiếm khác, như các bộ khuếch đại sợi florua kích thích bởi Neođim hay Prazeođim, có cấu tạo tương tự để khuếch đại các tín hiệu sóng ánh sáng tại bước sóng 1.3µ m. 7.3 Các mạng quang: phân loại dựa trên định tuyến Mặt dù, nhiều kiểu phân loại khác của mạng quang đã được đưa ra, chúng ta trình bày một kiểu phân loại dựa trên cách mà mạng định tuyến các bản tin từ nguồn đến đích. Phân loại tạo nên sự hợp nhất cho việc thảo luận về định tuyến. Phân loại mạng quang có thế chia làm 5 phần sau: • Optical-Link Networks (các mạng liên kết quang). • Single-Hop Optical Networks (các mạng quang đơn chặng). • Multihop Optical Networks (các mạng quang đa chặng). • Hybrid Optical Networks (các mạng quang lai). • Photonic Networks (các mạng photon).

4

Mỗi kiểu mạng được xác định bởi cái cách mà bản tin được định tuyến thông qua mạng. Trong Optical-Link Networks, thì các tuyến điện được thay thế bởi các sợi quang đạt được tốc độ truyền dữ liệu cao hơn và tỉ lệ lỗi thấp hơn. Do vậy, định tuyến được thực hiện tương tự như định tuyến trong các mạng liên kết điện thông thường như là Internet, kiến trúc mạng hệ thống, và DECnet. SingleHop Networks định tuyến bản tin từ nguồn đến đích chỉ trong một hop, không có xử lý trong băng của bản tin xảy ra tại node trung gian. Tuy nhiên, một vài mạng dùng báo hiệu ngoài băng để thiết lập giải phóng các đường vật lý từ nguồn đến đích. Do đó, thủ tục định tuyến trong Single-Hop Networks phải chọn một đường định tuyến vật lý mà kết nối nguồn đến đích mà không có sự can thiệp chuyển mạch điện. Multihop optical networks cho phép bản tin được xử lý tại node trung gian, phát đi sau một số thao tác chuyển đổi quang điện. Định tuyến trong Multihop optical networks được tập trung vấn đề xác định được một loạt các chuyển mạch điện mà chuyển tiếp được gói tin từ nguồn cho đến đích được tốt nhất. Hybrid Optical Networks kết hợp kĩ thuật single hop và multihop. Hyprid optical Networks làm việc bao gồm cho các phân hệ mạng single hop và multihop mà phải kết hợp các thủ tục định tuyến tương ứng với từng loại mạng. Photonic networks là bao hàm tất cả mạng quang mà có thể xử lý thông tin ở dạng bản tin photon. Mỗi một phần sẽ được thảo luận chi tiết ở phần sau 7.4 Optical-Link Networks Mạng Optical-Link Network dùng sợi quang thay vì sợi dây kim loại. Các mạng này bao gồm các chuyển mạch điện kết nối trong một topo mạng lưới bới các liên kết quang. Phương pháp này đảm bảo tốc độ truyền dẫn tốc độ cao và cho độ trễ thấp hơn các hệ thống thông thường khác nhưng không phải là tối ưu trong công nghệ mạng quang. Optical-Link Network thì có nhiều ưu điểm hơn so với các Electronic-Link Network : nó cho băng thông cao hơn, tỉ lệ lỗi thấp. Mặt khác, các tuyến quang thì có độ phức tạp hơn so với các tuyến điện, và thật khó khăn khi thực hiện chuyển mạch điện mà phù hợp với tốc độ quang. Các ví dụ về mạng Optical-Link Networks bao gồm mạng số dịch vụ tích hợp băng thông rộng (B-ISDN) mà dùng chuyển mạch tế bào ATM, và mạng gigabit testbed do chính phủ Hoa Kỳ cải tiến được gọi siêu xa lộ thông tin (Information Superhightway). Khó khăn chính trong việc thiết kế lược đồ định tuyến cho các mạng này là tốc độ, nó đòi hỏi xử lý phần mào đầu gói chậm nhất có thể. Cách giải quyết điển hình bao gồm: định tuyến nguồn, định tuyến kênh ảo, và chuyển mạch liên tục để giảm thiểu việc đệm gói tin. Các phương pháp này được mô tả chi tiết ở chương 2 và chương 8. Định tuyến trong Optical-Link Networks về cơ bản cũng giống như trong các mạng điện truyền thống. 7.5 Single-Hop Optical Networks

5

Trong Single-Hop Optical Network một bản tin di chuyển từ nguồn đến đích chỉ trong một hop, mà không có sự chuyển đổi trong miền quang và không có xử lý thông tin điều khiển trong băng. Lược đồ định nghĩa cho mạng Single-Hop Optical Networks chỉ ra ở hình 7.7. Chú ý rằng việc định tuyến và chuyển đổi bước sóng phải được cho phép. Bản tin truyền qua mạng trong một hop, và định tuyến thực chất là tìm một kênh từ nguồn đến đích. Trong định tuyến trong mạng Single Hop thì giảm được vấn đề đa truy nhập.
λ1 Source Wavelength Router Converter λ2 Destination

Hình 7.7: Single-hop optical Network
Nhiều mạng Single-Hop Optical Netwoks bao gồm các trạm được gắn vào “optical star coupler” (bộ ghép quang cấu trúc sao), quảng bá tín hiệu bất kỳ được gửi đến nó đến tất cả các trạm trong mạng, như chỉ ra ở hình 7.8. Ví dụ bao gồm: LAMBDANET và Rainbow. Trong LAMBDANET được dự định cung cấp kết nối giữa các tổng đài, mỗi một trạm có truyền dẫn một bước sóng duy nhất và nó truyền theo kiểu ghép kênh phân chia theo thời gian. Trạm này có bộ phân kênh mà đưa đến cho phía thu. Phía thu chọn một bước sóng và một khe thời gian từ bản tin được tách ra. Do vậy, không yêu cầu khả năng điều hướng (tunability), nhưng mỗi trạm phải xử lý thực thi ở phía nhận. Các trạm cũng có một bộ phát bước sóng chung, mà được dùng cho quản lý kết nối và báo hiệu. Truy cập đến bước sóng được kiểm soát bởi ghép kênh phân chia theo thời gian (TDM). Một trạm trong mạng Rainbow truyền một bước sóng duy nhất. Mỗi một có trạm có bộ lọc mà có thể phân biệt được bước sóng thích hợp cho phía thu. Rainbow dùng chủ yếu trong chuyển mạch kênh, và nó hoạt động không hiệu quả trong các mạng chuyển mạch gói. Mạng sao cơ bản không hỗ trợ các trạm với số lượng lớn, bởi vì bộ ghép cấu trúc sao (star coupler) có số cổng hạn chế, và các trạm không dễ dàng đạt được tốc độ bước sóng để truyền thông với các trạm khác.

6

Station 1

Tx

Rx

Station 2 Tx

Rx

Optical Star Coupler

Station n Tx

Rx

Hình 7.8: Mạng sao chọn lọc và quảng bá
Quadro là một kiểu mạng khác của Single-Hop Network dựa trên ghép kênh phân chia theo bước sóng (WDM) trong topo mạng hình sao. Nó giải quyết nhiều vấn đề về phối hợp phía thu-phía phát bởi cho phép phía thu thu được nhiều thông tin đồng thời. Các trạm Quadro có một bộ phát bước sóng cố định và một bộ thu trang bị một loạt các giai đoạn mạch trễ quang mà được dùng giống như bộ đệm thu. Nếu hai trạm truyền đồng thời tới một đích, thì đích này có thể đưa hai bước sóng đã được điều chế này thông qua các mạch trễ, ban đầu cho tín hiệu của bước sóng thứ hai đưa vào giai đoạn 1 của mạch trễ, sau đó lại cho tín hiệu của bước sóng thứ nhất đưa vào giai đoạn 2 của mạch trễ. Thao tác này có thể được lặp đi lặp lại nếu cần thiết, nhưng các tín hiệu bị mất ở giai đoạn cuối cùng. Giao thức giành trước được dùng để thông báo cho phía thu kế hoạch truyền dẫn. Mặt khác, TreeNet cũng là một single hop network trong đó dùng topo hình cây cho phân phối tín hiệu. Cây này được xây dựng bởi các sợi quang kết hợp với “bộ ghép cáp hai nón- biconical taper couplers” tại các node phía trong. Các trạm được đặt tại lá của cây. Ngược lại các mạng single-hop network sao đơn giản có một bộ ghép hình sao “star coupler”được đặt tại trung tâm. Về phương diện vật lý, TreeNet phân tán các thiết bị nối để đạt được khả năng duy trì khi gặp sự cố. Cây này làm thành một phương tiện truyền broadcast trong đó sử dụng giao thức truy
7

cập đa kênh, cho các trạm với bộ thu phát. Việc tạo khuyếch đại tại node gốc cho phép hàng trăm trạm có thể được hỗ trợ. TreeNet được mô tả trong hình 7.9.
Reflective Star coupler

Hình 7.9 Mô hình TreeNet
Mạng Single-hop Network mà dùng các thiết bị định tuyến bước sóng cũng đã được đưa ra. Theo tài liệu tham khảo 15, các mạng dựa trên các “Periodic Latin Routers” (Các router Latin chu kì), là các router bước sóng tĩnh định tuyến các nhóm bước sóng từ nhiều đầu vào đến nhiều đầu ra được đề nghị bởi “familiar Latin square” (ma trận 2 mà không có lối vào nào được lặp lai ở bất kì hàng nào hay cột nào). Sự nhận thức vật lý của bộ định tuyến Latin tĩnh là một Mach_Zehnder interferometer, một thiết bị mà gửi một cách định kì các bước sóng ánh sáng luân phiên ở các cổng đầu ra. Các mạng Single-hop Network có thể được làm từ các router Latin chu kì. Các trạm phải điều chỉnh một dãy các bước sóng và giao thức cung cấp bước sóng được dùng thiết lập các kênh ảo từ nguồn đến đích. Truyền Multicast có thể thực hiện ở lớp vật lý. Marsan et al nghiên cứu định tuyến trong mạng định tuyến bước sóng với cấu trúc topo và không có chuyển đổi bước sóng. Các router bước sóng được sắp xếp các topo de Bruijn, shuffle-based, toroidal song hướng, và các liên kết đa sợi quang được cung cấp giữa các router. Các router được cấu hình để nhận biết thuật toán cố định mà đảm bảo đường ngắn nhất. Việc cấp phát bước sóng làm sao là cho ít bước sóng nhất nếu có thể. Mạng trong tài liệu tham khảo 57 dựa vào các router bước sóng, nhưng những router này có thể chuyển đổi tín hiệu từ một bước sóng này sang một bước
8

sóng khác trong khi đang định tuyến nó. Không giống như phương pháp của router Latin, các router này được cấu hình trong suốt hoạt động của mạng, như là một kiểu mạng điều khiển ngoài băng. Mạng này dùng centralized dynamic routing (định tuyến động trung tâm), mà yêu cầu cuộc gọi được xử lý bởi một router server mà nắm giữ các dấu vết sử dụng tài nguyên trong mạng và cung cấp cho phía nguồn định tuyến tốt nhất cho việc kết nối. Thủ tục này hỗ trợ chỉ riêng cho chuyển mạch kênh. Truyền multicast lớp vật lý là có thể được trong kiểu mạng này, nhưng định tuyến kết nối multicast thì rất phức tạp. Mạng sóng ánh sáng tuyến tính (LLN-Linear lightwave network) cũng là một kiểu mạng Single-hop Network. LLN dùng các LDC(linear divider-combiner) như là các node trong topo hình lưới. Các trạm người dùng được gắn đến các LDC, mà được lập trình để tạo quảng bá giữa các trạm, như chỉ ra ở hình 7.10. Kiến trúc LLN được nghiên cứu mở rộng trong tài liệu 67 bao gồm các LDC chọn lọc bước sóng. Phần mở rộng này cho phép tạo ra tính mềm dẻo khi sử dụng các mạng con. Mạng con được định nghĩa bởi việc thiết lập các LCD và băng tần của các bước sóng kề nhau. Việc duy trì và thay đổi LLN có thể điều khiển bởi mạng bên ngoài và cho phép người điều khiển các LDC.

9

Subnet A Subnet B

Hình 7.10 Cấu hình vật lý của mạng LLN
Các mạng Single-hop Network có thể thiết lập một đường quang dành riêng giữa nguồn và đích, vì vậy chúng hỗ trợ các kết nối chuyển mạch kênh rất tốt. Về nguyên lý, thì truyền dẫn multicast cũng có thể đạt được, nhưng đối với các mạng quang mà dùng điều chỉnh bước sóng, thì thật là khó khăn sắp xếp trước tất cả các thành viên trong nhóm multicast để hiệu chỉnh ngay tức thì các bước sóng của các trạm multicast. Trong mạng Single-hop Networks mà hỗ trợ các phương tiện broadcast, như cây và sao, định tuyến là hướng tiến. Khi phương tiện broadcast hỗ trợ một lược đồ truy nhập đa kênh, phối hợp thu-phát là vấn đề chủ yếu nhất. Tuy nhiên, không phải tất cả mạng Single-hop Networks nào cũng có hỗ trợ đầy đủ các phương tiện broadcast. Như các mạng Single-hop Networks có thể dùng các đường vật lý khác nhau để chuyển các gói tin từ nguồn đến đích. Vấn đề định tuyến trong các mạng này là xác định và quản lý đường vật lý được dùng như thế nào. Mạng quang thụ động (PON-Passive optical network) gửi các tín hiệu trên các đường vật lý duy trì cố định trong thời gian dài. Các mạng này bao gồm các
10

mạng broadcast-start, như là LAMBDANET và Rainbow, và các mạng broadcasttree, như là TreeNet. Các mạng này thiết lập một định tuyến single-hop từ một nguồn đến một đích chỉ đơn thuần là gán bước sóng. Ví dụ, một nguồn trong mạng Rainbow chuyển gói tin của nó đến đích bởi một bước sóng cố định trong một khe thời gian cụ thể. Ở phía đích sẽ hiệu chỉnh nhận bước sóng của phía nguồn trong suốt khe thời gian đó. Do đó, các mạng này bị hạn chế bởi chuyển mạch kênh, mà bước sóng (và có thể là khe thời gian) được dành riêng để cho kết nối. Nói chung, định tuyến multicast là không thể thực hiện trong mạng PON. Các node bên trong của mạng PON bao gồm các switch, coupler, các sợi quang, và có thể là các bộ khuyếch đại quang. Về mặt chức năng, thì mỗi một node, với một bước sóng đến có thể được cắt ra và phân phối với tỉ lệ công suất khác nhau đến các đầu ra khác nhau. Không có phần xử lý mào đầu hay lưu trữ gói và chuyển tiếp được thực hiện. Do vậy, định tuyến trong mạng PON về bản chất là chuyển mạch kênh và bao gồm thiết lập các đường (giữa nguồn và đích) hay các broadcast tree (giữa các các trạm phụ) trong một topo vật lý. Topo này thông thường là mạng lưới, nhưng cũng có thể là hình cây. Sợi quang trong PON cũng có thể là các liên kết đa sợi. Một liến kết được thực hiện với một băng sợi, hay một bó gồm khoảng cả tá, hay thậm chí cả trăm sợi quang. Đặc điểm này giới thiệu rõ ràng một số lượng lớn tùy chọn các đường xen kẽ nhau, mà có thể được chọn ghép kênh phân chia theo không gian. Theo cách này kĩ thuật đa sợi quang có thể thực hiện hiệu quả WDM, để bù sự khan hiếm bước sóng (khoảng vài tá) mà dùng cho các công nghệ mạng quang ngày nay.

Hình 7.11 Định tuyến trong LLN
Trong topo mạng lưới PON, chúng ta có hai cách chọn định tuyến cơ bản: là định tuyến đường ngắn nhất và định tuyến rooted (rooted routing) LLN có thể thiết lập các phân hệ mạng, như trong mạng LLN cơ bản 68, và LLN với dùng lại băng tần. Trong LLN truyền thống, định tuyến các tín hiệu quang trong phân hệ được thực hiện định tuyến đường ngắn nhất, như mô tả trong hình 7.11. Nếu A phát, sau đó định tuyến theo hình 7.11(a). Nếu C phát thì định tuyến theo hình 7.11(b). Nói chung, một broadcast-tree riêng biệt được kết hợp với nguồn, cái cây này bao gồm tất cả các trạm và có thể “nghe thấy” nguồn. Các LDC được cấu hình để hỗ trợ như các broadcast-tree. Mặc dù vậy, phương pháp này cũng có hạn chế nếu tài nguyên phân hệ mạng được chia sẽ dùng lược đồ các
11

đa truy nhập phân chia theo thời gian hay đa truy nhập phân chia theo thời gian và bước sóng (TDMA và T/WDMA). Vấn đề này là khó khăn trong việc phối hợp và đồng bộ truyền dẫn. Vấn đề đồng bộ là khó khăn bởi vì trong LLN không có điểm đơn nào đồng bộ(như cấu hình broadcast-star), bởi vậy truyền dẫn phải được đồng bộ không chỉ cho một node mà cho nhiều node. Hơn nữa, các yêu cầu đồng bộ có thể xung đột, cho nên phải làm sao cho nó đạt được hiệu quả tối ưu chia sẻ các kênh 48. Trong tài liệu tham khảo 48, vấn đề đồng bộ được giải quyết với phương pháp định tuyến rooted (rooted routing), mà cậy được xây dựng cho mỗi nguồn như là một broadcast tree cho tất cả các đích (hình 7.10) . Nhưng ở đây, các cây chia sẻ cùng một gốc (thật ra, là chồng chéo lên nhau). Ưu điểm chính của phương pháp định tuyến routed này là gốc được hình dung như là một điểm đồng bộ cho tất cả truyền dẫn. Dựa vào điều này, thì điều này trở nên dễ dàng hơn nhiều cho việt phối hợp truyền dẫn từ các nguồn, trong lược đồ TDMA hay T/WDMA, làm trong mạng hình sao. Sự suy giảm do trễ lan truyền và suy giảm ,công suất đối với định tuyến shorteest path, nhưng nó chỉ ra rằng sự suy giảm này trở nên không đáng kể khi kích thước mạng phát triển. Cuối cùng, một vấn đề để đánh được địa chỉ trong định tuyến rooted (rooted routing) là chọn lựa node gốc. Rõ ràng, node gốc phải được chọn để mà đường ngắn nhất từ trạm đến gốc là nhỏ nhất. Chọn node gốc thật sự, có thể được đạt được với các thuật toán center-of-mass trong mạng lưới. Bala et al23 đề nghị phương pháp khác cho việc dùng LLN. Thay vì thiết lập các mạng tĩnh (vd: dùng các định tuyến tĩnh), một đường quang được thiết lập động cho kết nối chuyển mạch kênh giữa một đôi trạm bởi cấu hình các LDC do mạng điều khiển ngoài băng. Trong phần này, các LDC không chọn lọc bước sóng được dùng, các tín hiệu khác (bước sóng) được cho phép chia sẻ trên cùng một sợi quang. Bởi vì các LDC là không chọn lọc bước sóng, các tín hiệu kết hợp trên một sợi quang không thể phân biệt với LLN. Điều kiện này có thể dẫn đến tình huống cùng tín hiệu được tách ra thành nhiều đường trên mạng và sau đó kết hợp lại trên một tuyến. Yêu cầu đặc biệt trên các kết nối thiết lập là giảm nhiễu giao thoa tín hiệu không mong muốn. Thuật toán cho việc định tuyến động trong LLN đã được nói đến trong tài liệu tham khảo 23. Trong tài liệu tham khảo 19, các thuật toán định tuyến động cho các kết nối multicast cũng được đề cập đến. Mạng truyền dẫn chọn lọc bước sóng, nói đến trong tài liệu tham khảo 42 và 43, dùng định tuyến bước sóng tĩnh để phân phối tín hiệu giữa các trạm. Trong mạng này, các router bước sóng được sắp xếp theo dạng hình sao, bus hay vòng sao cho tái sử dụng các bước sóng. Các trạm nguồn gửi các bản tin đến nhiều đích trên cùng một bước sóng cụ thể cho trước. Single-hop Interconnection (SHI) là một mạng PON tĩnh mà cung cấp truyền thông giữa một cặp trạm. Tham khảo tài liệu 17 chỉ ra cáp nối giữa các trạm như thế nào và trao đổi bản tin của chúng với hiệu suất cao (mà bản chất vẫn là mạng PON). Mạng PON này dùng bộ ghép nối hình sao quang và nhiều bộ thu phát trên cùng một trạm. Khi có một trạm nguồn muốn truyền bản tin của nó đến

12

một trạm đích, nó chọn một bước sóng phát để đưa bản tin lên một đường riêng biệt và một khe thời gian trong suốt nó truyền bản tin. Birk18 trình bày ba giai đoạn: hình sao, cáp và một lược đồ truyền dẫn cho phép SHI để cho phép log2N bản tin trao đổi đồng thời trong một khe thời gian. Bởi vì topo vật lý là tĩnh, mạng định tuyến các bản tin đơn thuần là chọn truyền dẫn khi dùng. Trong kiểu singlehop không thể truyền multicast. Định tuyến trong Single-hop Networks dùng các kĩ thuật khác nhau. Các mạng này thường dùng PON, mà yêu cầu không có thông tin điều khiển trong băng định cấu hình. Mạng này thường luôn luôn tĩnh hay giả tĩnh, với việc định cấu hình lại hay tinh chỉnh ít xảy ra. Nếu các đường single-hop là cố định, thì một trạm nguồn khởi tạo kết nối dựa trên một danh bạ của nó. Nếu các đường này có thể thay đổi, thì một nguồn phải hỏi server cung cấp phương pháp định tuyến. Do mạng Single-hop Network thường xuyên sử dụng chuyển mạch kênh cho việc trao đổi bản tin nên các kĩ thuật định tuyến đôi khi tương tự các phương pháp đa truy cập trong các mạng nội hạt đa kênh. 7.6 Các mạng quang đa chặng Mạng quang đa chặng mang một bản tin từ nguồn tới đích thông quang các chuyển mạch điện tử tức thời. Các mạng quang đa chặng được phân biệt với các mạng liên kết quang bởi việc sử dụng nhiều bước sóng. Một mạng quang đa chặng điển hình được gắn trong một PON, trong đó WDM có vai trò phân bổ các tín hiệu giữa các trạm. Hệ thống này có thể khai thác một cách hiệu quả hơn các hệ thống sóng ánh sáng, như là có thể ghép nhiều kênh tốc độ cao trong một sợi quang đơn mode. Mạng quang đa chặng hoàn chỉnh được minh hoạ trong hình 7.12.
λ1 λ2

nguồn

C huyển m ạ c h đ iệ n

đ íc h

Hình 7.12 Mạng quang đa chặng Mạng quang đa chặng được mô tả bởi một cấu hình vật lý, bao gồm các trạm và các liên kết thực sự, và một cấu hình ảo, là kết nối logic giữa các trạm. Các cấu hình vật lý và cấu hình ảo không phụ thuộc lẫn nhau. Tiền thân của mạng quang đa chặng là ShuffleNet (mạng con thoi). Đây là một mạng đa kênh với một cấu hình vật lý PON và một cấu hình ảo dịch quay vòng. Mỗi trạm có p máy phát và p máy thu (thường thì p = 2) được điều chỉnh để thu được đồ thị liên kết ShuffleNet. Đồ thị ShuffleNet (p, k) cấu tạo bởi kpk trạm, tức là k tầng, mỗi tầng có pk trạm, các trạm của mỗi tầng được kết nối tới các trạm của tầng bên dưới do p lần xê dịch đầy đủ. ShuffleNet có thể được gắn trong mạng PON bất kỳ, bao gồm bus tuyến, cấu trúc sao ở trung tâm và cây. Hình 7.13 biểu diễn một cấu hình ảo ShuffleNet (nhị phân) 8 trạm gắn trong một cấu hình vật lý
13

hình sao. Mỗi kênh WDM được phát tới một máy phát đơn và một máy thu đơn, tổng cộng là pN kênh, trong đó N là mật độ trạm. Các trạm giống như các node định tuyến, thực hiện chuyển đổi quang điện, bộ đệm, và chuyển mạch gói. Hình 13 Có nhiều biến thể của mạng ShuffleNet. Cấu hình ảo của một mạng quang đa chặng có thể bị thay đổi bởi sự điều hướng các bộ thu phát (tại thời điểm lắp đặt mạng, hoặc khi mạng đang sẵn sàng hoạt động, nếu các trạm có các bộ thu phát có thể điều hướng được). Mạng quang phân chia theo bước sóng (WON) là mạng mở rộng của ShuffleNet trong đó các trạm có các bộ thu phát có thể điều hướng chậm được sử dụng để xác định lại cấu hình ảo mỗi khi cần cải thiện hiệu suất hoặc thiết lập lại kết nối. Mạng quang đa chặng kênh chia sẻ cho phép nhiều trạm được phân phối tới một kênh WDM đơn (và yêu cầu một thuật toán giải quyết xung đột đối với kênh chia sẻ), làm giảm bớt yêu cầu về mức độ cao của WDM được sử dụng trong ShuffleNet kênh chuyên dụng. Ghép kênh sóng mang con theo tần số vô tuyến cũng được sử dụng để điều chế các bước sóng và tạo nên một mạng đa chặng đa kênh. Dấu hiệu phân biệt của các mạng quang đa chặng là việc sử dụng đồng thời cấu hình vật lý và cấu hình ảo, và cả 2 về bản chất không phụ thuộc lẫn nhau. Cấu hình vật lý thường là 1 PON, như là cấu hình cây, bus hoặc sao quảng bá và lựa chọn; và cấu hình ảo có thể là dạng của đồ thị định hướng p-regular (nghĩa là đồ thị trong đó tất cả các node có p đầu vào và p đầu ra tạo thành hình cung). Xê dịch theo một vòng tròn khép kín, đồ thị deBruijn, siêu luỹ thừa bậc 3 (hypercube), và torus là các cấu hình ảo thường gặp với các đặc điểm toán học hữu ích đã được nghiên cứu rộng rãi. Các topo này có các đặc điểm rất có lợi cho việc định tuyến. Các mạng đa chặng hỗ trợ khác tốt cho chuyển mạch gói, các dịch vụ datagram. Tuy nhiên, khó có thể đảm bảo băng thông hay đạt được độ trễ định ra khi các gói phải đi qua nhiều chặng và cạnh tranh nguồn với các gói khác. Truyền dẫn broadcast và multicast cũng khó thực hiện, trừ khi sử dụng chia sẻ kênh. Nhìn thoáng qua thì vấn đề định tuyến trong các mạng quang đa chặng dường như không khác gì so với định tuyến trong các mạng liên kết quang, vì các mạng này về bản chất là các node định tuyến lưu trữ-và-chuyển tiếp được liên kết bởi các kênh logic hay các liên kết vật lý. Tuy nhiên, trong mạng quang đa chặng xuất hiện một vấn đề định tuyến khác. Định tuyến trong các mạng này có bản chất là chuyển mạch gói, nhưng cái khác ở đây là vấn đề định tuyến lại đi kèm với vấn đề thiết kế cấu hình ảo. Xét sâu hơn nữa thì sự khác nhau càng trở nên rõ ràng hơn: các kênh không được hoạt động song song với nhau, vì đồ thị định hướng bên dưới của cấu hình ảo kết hợp một hướng rõ ràng với mỗi kênh, và ảnh hưởng của lỗi trong một phần của cấu hình vật lý có thể khá rộng, ảnh hưởng tới một tấp các kênh ảo, trái ngược hẳn với lỗi liên kết đơn giản trong các mạng liên kết quang.

14

ShuffleNet cơ bản sử dụng định tuyến lưu trữ-và-chuyển tiếp đơn giản với các tuyến đường ngắn nhất. Tuyến này kéo dài từ nguồn tới đích đã được fix sẵn. Ý tưởng này đã được tiếp tục phát huy, thuật toán định hướng tuyến cố định hoàn toàn cân bằng tải lưu lượng trên tất cả các liên kết của ShuffleNet kênh chia sẻ với các trạm thu phát đơn khi lưu lương yêu cầu là giống nhau. Tại mỗi chặng, thuật toán này kiểm tra một bit đơn của địa chỉ đích (ShuffleNet nhị phân), sử dụng giá trị của nó để quyết định bản tin có được lặp lại hay không. Do nguyên tắc định tuyến đối với việc lặp các gói tin là “đẳng hướng”, nghĩa là các đích của các gói tin được lặp coi như cùng không quan tâm tới trạm nào đang thực hiện việc định tuyến, trên tất cả các liên kết thì số lượng các gói được lặp trên một đơn vị thời gian là giống nhau – nghĩa là tải liên kết hoàn toàn cân bằng. Mặc dù có thể sử dụng cùng thuật toán trong ShuffleNet kênh chuyên dụng, nhưng không thể đảm bảo cân bằng tải liên kết. Tuy nhiên, trên thực tế, có thể chấp nhận tải liên kết cân bằng khi các thuật toán được sử dụng trong ShuffleNet kênh chuyên dụng có lưu lượng đồng nhất. Các topo ảo đã được kết cấu như ShuffleNet có lợi thế về mật độ, nghĩa là số lượng node N tương ứng với đường kính D đưa ra (chính là độ dài cực đại của tuyến đường ngắn nhất giữa tất cả các cặp node) trong đồ thị kép mức p (tức là, một đồ thị song hướng trong đó mỗi node có p đầu vào và p đầu ra tạo thành hình cung) đạt tới cái gọi là biên giới Moore: N=
p D +1 −1 p −1

Các cấu hình ảo dày đặc – trong đó số lượng node đạt tới biên giới Moore với đường kính đã định – là các cấu hình mong muốn đối với việc định tuyến, vì tuyến đường ngắn nhất từ một node này tới node khác biến đổi nhiều do sự đảo mật độ của đồ thị. Do đó, cấu hình ảo dày đặc có xu hướng có độ trễ chậm với lưu lượng đồng nhất ánh sáng, nếu định tuyến đường ngắn nhất được sử dụng. Trong reference 66 đã so sánh đồ thị Bruijn và ShuffleNet. Do mật độ dày hơn ShuffleNet, đồ thị Bruijn đạt được độ trễ thấp hơn ShuffleNet về lưu lượng ánh sáng, nhưng ShuffleNet phân phối lưư lượng qua các kênh công bằng hơn, cung cấp thông lượng cao hơn so với đồ thị Bruijn. Trong reference 16 - các cấu hình ảo GEMNET và MRNET, việc sử dụng mật độ cao của ShuffleNet và đồ thị Bruijn tạo ra độ trễ thấp hơn và thông lượng cực đại cao hơn, so với ShuffleNet và Bruijn, khi sử dụng thuật toán định tuyến đường ngắn nhất chuyên dụng. Trong reference 5 thuật toán định tuyến cân bằng được đưa ra trong reference 44 được sử dụng trong ShuffleNet kênh chuyên dụng và cung cấp thông lượng mạng cao hơn đáng kể so với việc định tuyến qua các tuyến đường ngắn nhất được lựa chọn tuỳ ý. Có thể thấy sự so sánh này trên đồ thị hình 7.14. Mặc dù cả 2 thuật toán đều đạt được độ trễ không thể phân biệt được dưới lưu lượng đồng nhất ánh sáng có điều chỉnh nhưng thuật toán định tuyến cân bằng có thể đẩy được gấp đôi lưu lượng qua mạng, vì nó hiệu quả hơn trong việc tránh hiện tượng nút cổ chai trên các kênh.

15

Trễ (ms)

3.0

2.5

ShuffleNet định tuyến không cân bằng ShuffleNet định tuyến cân bằng

2.0 0 5 10 25

tải lưu lượng (Gb/s)

Hình 7.14 Ảnh hưởng của các giao thức định tuyến lên hiệu suất của ShuffleNet 64-trạm với lưu lượng đồng nhất Mặc dù các cấu hình ảo như ShuffleNet và đồ thị Bruijn khá hấp dẫn nhưng thực tế khó mà tạo được cấu hình ảo tĩnh. Chẳng hạn như, trong ShuffleNet 2048 trạm, nếu mỗi trạm có độ khả dụng 0.999, thì tất cả các trạm sẽ hoạt động đồng thời dưới 13% thời gian. Việc tin cậy vào một cấu hình như vậy là không thực tế. Hơn nữa, các topo ảo có cấu trúc có thể thiếu sự điều chỉnh để thích hợp với mật độ phát triển không ngừng của các trạm, vì “ngành số học” yêu cầu các cấu hình chuyên dụng của các trạm. Do đó, người ta đã đưa ra các giải pháp khác cho việc định tuyến và thiết kế topo ảo. Trong các reference 5, 6, 7, và 12 đã nghiên cứu các vấn đề về định tuyến và thiết kế topo ảo trong WON đa chặng. Thuật toán Simulated-annealing và các thuật toán phát sinh được sử dụng để cải thiện các topo ảo cả về độ trễ và thông lượng. Thuật toán như vậy sẽ được thực hiện theo định kỳ trong một trung tâm quản lý mạng để đáp ứng những sự thay đổi lâu dài về lưu lượng. Kết quả (mẫu) đạt được trong reference 5 bằng việc ứng dụng Simulated-annealing trong các mạng 64 trạm được biểu diễn trong hình 7.15 (đơi với lưu lượng đồng nhất) và hình 7.16 (đối với lưu lượng không đồng nhất). Ma trận lưu lượng không đồng nhất sử dụng trong ví dụ được tạo ra bằng cách coi các đầu vào của mạng quang đa chặng trận là các biến ngẫu nhiên Bernoulli độc lập. Các mạng này bao gồm các trạm được bố trí một cách ngẫu nhiên qua một vùng địa lý bán kính 50km. Tất cả các tuyến đều là những tuyến đường ngắn nhất, và không có sự rẽ nhánh dọc theo nhiều tuyến. Các thuật toán này được ứng dụng vào các mạng WON kênh chia sẻ và kênh chuyên dụng lên tới 196 trạm, và việc cải thiện đáng kể cả về độ trễ và thông lượng cực đại đã được chứng minh bằng việc so sánh các mạng này với ShuffleNet.

16

Việc định tuyến đường ngắn nhất đa đường trong ShuffleNet và các topo ảo khác đã được nghiên cứu trong các reference. Trong các nghiên cứu này thì định tuyến được rẽ nhánh mặc dù không thích hợp. Mục tiêu là để tối thiểu hoá liên kết được sử dụng tối đa (được gọi là tiêu chuẩn tối đa) và bằng cách đó ra độ trễ gói tin thấp hơn hay xác suất xảy ra tắc nghẽn. Vấn đề định tuyến và thiết kế topo ảo thuộc 2 mảng, đó là vấn đề kết nối và vấn đề định tuyến. Vấn đề kết nối là vấn đề lập trình tuyến tính nguyên nhằm tối thiểu hoá lưu lượng được mang qua các chặng đơn; những ràng buộc về tính nguyên không quá khắt khe, và thuật toán đơn công được áp dụng. Do chứ năng thực hiện mục tiêu mini-max có thể được tuyến tính hoá, việc định tuyến cũng có thể được miêu tả như một chương trình tuyến tính. Thuật toán đầy đủ trước tiên giải quyết các vấn đề về kết nối và định tuyến, sau đó nâng cấp phase trong đó cấu hình ảo bị tác động cho đến khi tìm thấy một giải pháp cải tiến.

Trễ (ms)

3.0

2.0
ShuffleNet cấu hình ảo tối ưu hoá cho thông lượng cấu hình ảo tối ưu hoá đối với trễ

1.0 0 5 10 25

tải lưu lượng (Gb/s)

Hình 7.15 So sánh giữa trễ trong ShuffleNet và các mạng WON tối ưu hoá với lưu lượng đồng nhất

3.0

17

Trễ (ms)
2.0

ShuffleNet cấu hình ảo tối ưu hoá cho thông lượng Cấu hình ảo tối ưu hoá đối với trễ

1.0 0 5 10 25

tải lưu lượng (Gb/s)

Hình 7.16 So sánh giữa trễ trong ShuffleNet và các mạng WON tối ưu hoá với lưu lượng không đồng nhất Định tuyến nguồn (định tuyến sử dụng tiêu đề gói tin) là một cách đơn giản để định tuyến các gói tin trong WON. Không cần bảng định tuyến, và việc chuyển mạch được thực hiện đơn giản bởi chỉ yêu cầu xử lý trường liên quan tới tiêu đề địa chỉ. WON phải sử dụng giao thức phát hiện để tìm ra tuyến đường ngắn nhất giữa nguồn và đích. Các tuyến giữa tất cả các cặp trạm phải được duy trì bởi một máy chủ định tuyến (route server), và các trạm có thể yêu cầu các tuyến khi cần. Các tuyến được sử dụng thường xuyên sẽ được lưu trữ cho việc sử dụng trong tương lai. Trong reference 8 và 9 đã nghiên cứu việc kết hợp định tuyến nguồn và định tuyến đường vòng. Định tuyến đường vòng gửi một bản tin qua một liên kết kế tiếp khi bản tin tới một bộ chuyển mạch nhận thấy liên kết đầu tiên bận; bản tin này sau đó sẽ được đưa trở lại bộ chuyển mạch với số chặng ít nhất có thể. Khi đã quay lại bộ chuyển mạch, nó lại nỗ lực thực hiện quá trình tới đích. Việc định tuyến đường vòng dễ dàng kết hợp với định tuyến nguồn: khi một bản tin đi vòng bởi một bộ chuyển mạch, bộ chuyển mạch chỉ cần chèn vào một chuỗi các chặng để đưa bản tin quay trở lại bộ chuyển mạch. Cơ chế này được thực hiện khá đơn giản trong phần cứng, không cần yêu cầu bảng đinh tuyến hay khả năng tra cứu nhanh. Công việc đưa ra những thủ tục cấu trúc nên các topo ảo phù hợp với định tuyến đường vòng bằng cách cung cấp những tuyến hồi tiếp rất ngắn tại mỗi trạm. Cấu trúc của các mạng tương tự, được gọi là “go-back”, được xét trong reference 20. Trong một mạng WON, các linh kiện (như laze và các bộ lọc) chỉ điều chỉnh một phần băng thông hệ thống. Mở rộng công việc của mình sớm hơn,

18

Labourdette và Acampora đã xem xét đến các vấn đề về thiết kế topo ảo và định tuyến khi khả năng điều chỉnh bộ thu phát có giới hạn. Thủ tục để giải quyết vấn đề này tương tự như thủ tục được sử dụng trong reference 54, nhưng kểt quả thu được khá khác nhau. Khi các bộ thu phát có dải điều chỉnh trong mức giới hạn thì cấu hình và chính sách định tuyến đưa ra thường đạt hiệu năng kém hơn ShuffleNet với cùng chính sách định tuyến chuẩn. Chỉ khi dải điều chỉnh được mở rộng thì nó mới hoạt động tốt hơn ShuffleNet. Một sự mở rộng khác , đã được báo cáo trong reference 56, là tìm ra cách đánh giá lại topo ảo và các bản tin định tuyến lại mà không cần xem xét đến toàn bộ mạng. Để đạt được mục đích này, người ta đã thử một vài thuật toán xem mỗi thuật toán yêu cầu bao nhiêu hồi tiếp phát sinh khi chuyển tiếp từ topo ảo ban đầu tới topo ảo mới. Về cơ bản, các thuật toán đều đưa ra lích trình hồi tiếp mà độ dài của nó tăng tuyến tính với số trạm. Khi một mạng được cấu hình lại, thủ tục định tuyến phải đưa vào tính toán các tuyến đường mới tạo ra, do đó thiết lập các đầu vào bảng định tuyến mới tương ứng với cấu hình mới. Trong reference 52, Karol và Shaikh nghiên cứu một thuật toán định tuyến thích nghi có ưu điểm hơn so với topo trụ của ShuffleNet và nhiều tuyến đường ngắn nhất luân phiên của nó. Thuật toán này luôn luôn định tuyến các bản tin với các tuyến ngắn nhất luân phiên qua liên kết ít tắc nghẽn nhất. Khi một bản tin có duy nhất một liên kết được ưu tiên dẫn tới bộ chuyển mạch, nó được “bơm” tới liên kết được sử dụng ít nhất theo tiêu chuẩn “hàng đợi ngắn nhất + độ lệch”. Các thuộc tính đặc biệt của cấu hình ShuffleNet giúp cho nó quyết định một cách dễ dàng hơn việc bản tin có các tuyến đường luân phiên từ bộ chuyển mạch tới đích của nó hay không. Cơ chế định tuyến thích nghi này đã cải thiện hiệu suất đáng kể so với thuật toán ShuffleNet đinh tuyến cân bằng, đặc biết trong việc giảm những biến đổi về đọ dài hàng đợi bộ đệm đầu ra. Trong reference 46 cũng đã nghiên cứu định tuyến thích nghi trong ShuffleNet, trong đó nhấn mạnh hiếu suất của nó đôi với tải lưu lượng không đồng nhất. Còn một số vấn đề tồn tại trong các mạng đa chặng. Trong các mạng này, những thao tác trong chuyển mạch kênh không thực hiện được nhiều. Reference 25 đưa ra giải pháp TDM tương tự chuyển tiếp tế bào ATM. Vấn đề multicasting không được khảo sát rộng rãi. Trong trường hợp này có thể sử dụng multicasting đối với lớp mạng. Định tuyến hội tụ, được đưa ra đầu tiên để hỗ trợ cho việc tích hợp lưu lượng và multicasting trong Metanet, cũng có thể ứng dụng cho các mạng quang đa chặng. Các giao thức Metanet dựa trên việc phân phối toàn bộ xung, sử dụng một cấu trúc khe thời gian trên mỗi link để tách luư lượng thời gian thực và không thực thành hai luồng riêng biệt. Metanet đưa vào cấu hình vật lý của nó một mạch Ơle, mạch này có thể đến mỗi trạm ít nhất một lần và được gọi là vòng ảo. Một mạch như vậy được bảo vệ để tồn tại trong một topo ảo cân đối. Các kênh tham gia vào vòng ảo được gọi là các liên kết vòng (ring link), và tất cả các kênh được gọi là các liên kết chuỗi. Lưu lượng thời gian thực được gửi đi dọc theo các tuyến cố định trong mạng. Tuyến mặc định của lưu lượng không theo thời gian thực là các đoạn ngắn nhất của vòng ảo, nhưng có thể xảy ra 2 trường hợp lối tắt

19

nếu chúng không gây cản trở đối với lưu lượng thời gian thực. (1) nếu có một liên kết chuỗi giữa các trạm trong vòng làm rút ngắn tuyến đương, hoặc (2) nếu bản tin có thể loại bỏ các chặng trong vòng bằng cách đi ra khỏi trạm thông qua một liên kết đầu ra khác với chặng kế tiếp trong vòng. Để điều đa hướng một bản tin, các nguồn phát đi bản tin đó trong vòng ảo, do đó mỗi nơi nhận có thể copy và chuyển tiếp nó khi nó đi qua, và nguồn này sẽ xoá bản tin khi nó đã đi hết một vòng. Các mạng quang đa chặng có nhiều điểm chung với các mạng chuyển mạch gói thông thường. Do đó, các thuật toán định tuyến của chúng thường tương tự nhau. Điểm phân biệt về nguyên lý là các mạng quang đa chặng có thể sắp xếp lại các topo ảo của chúng. Nhiều hàm định tuyến do đó được gộp vào dưới sự quản lý topo, để tránh tắc nghẽn, phát hiện lỗi, và tối ưu hoá hiệu năng. Cho đến nay các mạng quang đa chặng vẫn còn gặp nhiều khó khăn giống như các mạng chuyển mạch gói thông thường trong việc cung cấp các dịch vụ multicast và chuyển mạch kênh. 7.7 Các mạng quang lai ghép ( Hybrid Optical Networks): Các mạng đơn chặng (single-hop) hỗ trợ rất tốt các dịch vụ truyền dẫn thời gian thực, lưu lượng yêu cầu trễ nhỏ (như thoại và video), tuy nhiên chúng lại kém hiệu quả trong chuyển mạch gói, đặc biệt là sự bùng nổ lưu lượng của các dịch vụ không yêu cầu thời gian thực. Mặt khác, các mạng chuyển mạch gói đa chặng (multihop) lại rất thích hợp để truyền dẫn lưu lượng bùng nổ nhưng không đảm bảo được giới hạn trễ và băng thông dành riêng được yêu cầu bởi lưu lượng thời gian thực. Một giải pháp để giải quyết vấn đề trên là kết hợp mạng single-hop và multi-hop thành 1 mạng thống nhất gọi là mạng lai ghép (hybrid network). Như vậy mạng quang hybrid là mạng bao gồm cả hai mạng single-hop và multi-hop. Khái niệm mạng hybrid là sự kết hợp một mạng con single-hop và một mạng con multi-hop,được minh họa ở hình 7.17. Dựa trên nguyên lý các mạng single-hop hỗ trợ chuyển mạch kênh rất tốt và các mạng multi-hop hỗ trợ chuyển mạch gói rất tốt nên ưu điểm của mạng quang hybrid là nó điều khiển tích hợp lưu lượng rất tốt. Tuy nhiên, dịch vụ chuyển mạch kênh của mạng con single-hop phụ thuộc vào báo hiệu ngoài băng và điều khiển để quản lý (như thiết lập và phá bỏ) các kênh của chính mạng con đó. Điều này là cần thiết cho mạng báo hiệu ngoài băng và bởi vì các chức năng quản lý mạng có thể chấp nhận những sự thay đổi trễ, một mạng con chuyển mạch gói multi-hop có thể đáp ứng những yêu cầu cho cả mạng điều khiển ngoài băng và mạng truyền tải không yêu cầu thời gian thực. Các mạng quang hybrid kết hợp các kỹ thuật định tuyến của các mạng singlehop và multi-hop nhằm cung cấp các dịch vụ chuyển mạch kênh và gói. Mạng con multi-hop cung cấp các phương tiện cho việc chuyển đổi các bản tin mà không giới hạn thời gian. Các dịch vụ loại này bao gồm lưu lưọng bùng nổ mà có thể chấp nhận dịch vụ vận chuyển nỗ lực tối đa (best-effort), lưu lượng quản lý mạng và báo hiệu ngoài băng để quản lý các kết nối trong mạng con single-hop. Tuy nhiên, trong một vài mạng (đã được giới thiệu trong các tham khảo 21 và 26) có

20

thể sử dụng truyền tải multi-hop để làm giảm vấn đề tắc nghẽn khi không có một đường dẫn single-hop nào được tìm thấy từ nguồn đến đích, trong trường hợp này mạng cố gắng thiết lập một đường dẫn multi-hop. Trong các tài liệu tham khảo 21 và 26, một mạng quang hybrid được đề xuất sử dụng các đường dẫn quang (lightpaths) hoặc các đường dẫn single-hop (single-hop paths) giữa hai trạm để truyền thông tin. Lưu lượng chuyển mạch kênh yêu cầu một đường dẫn quang từ nguồn đến đích, nhưng lưu lượng chuyển mạch gói có thể sử dụng chuỗi bao gồm nhiều đường dẫn quang (với chuyển mạch ở các node trung gian). Mạng trong tài liệu 26 (gọi là Lightnet) dựa trên chuyển mạch không gian quang kết nối với các bộ ghép kênh và phân kênh theo bước sóng. Trong khi đó mạng tham khảo 21 thì sử dụng các AOTF để thực hiện các kết nối chéo WDM ( WDM cross-connects). Do cấu hình các node chuyển mạch nên sự đa dạng của các cấu trúc ảo được đưa vào bên trong mạng vật lý. Có 2 cách để dịnh tuyến trong các mạng thuộc kiểu Lightnet : cách thứ nhất là thiết lập các đường dẫn quang theo yêu cầu, cách thứ hai là thiết lập 1 cấu trúc ảo và sử dụng định tuyến đa bước nhảy (multi –hop routing). Trong thực tế, cả hai cách này có thể kết hợp để tạo ra một mạng hydrid thực sự với các mạng con dành cho chuyển mạch kênh và gói. Cách tiếp cận này thiết lập 1 cấu trúc multi-hop mà sử dụng một phân đoạn của các bước sóng khả dụng của mạng và dự trữ các bước sóng còn lại cho chuyển mạch kênh động ( dynamic circuit switching). Cách để đưa các cấu trúc ảo đã được chỉ ra trong tài liệu tham khảo 27, trong đó việc sử dụng các cấu trúc toroidal và hypercube được nhấn mạnh. Cấu trúc vật lý đầu tiên được sắp xếp vào trong 1 phiên bản tuyến tính của mạng và sau đó các trạm sắp xếp theo trật tự tuyến tính được kết nối bởi các bước sóng khả dụng để tạo nên cấu trúc ảo mong muốn. Thủ tục có thể đưa vào các cấu trúc chuyên dụng mà không sử dụng quá số lượng các bước sóng được quy định. Cho một tập các bước sóng rỗi và một mạng tuyến tính, vấn đề là tìm các đường dẫn quang giữa các trạm để khởi xướng một cuộc gọi. Các thuật toán heuristic (tìm kiếm) tập trung và phân tán dùng cho các đường dẫn quang đang thiết lập (là một vấn đề khó tính toán) đã được phân tích trong tham khảo 26. Thuật toán heuristic là thuật toán cần thiết, phù hợp nhất để tìm ra bước sóng khả dụng nhất cho một đường dẫn quang. Hiệu năng của cả hai thuật toán tập trung và phân tán có khả năng so sánh được, hiệu năng của thuật toán tập trung tốt hơn thuật toán phân tán . Việc mô phỏng 1 vài mạng đã xác nhận rằng các thuật toán thiết lập đường dẫn quang chỉ thực hiện tốt hơn rất ít bước sóng cho phép chuyển đổi. Kết hợp 2 phương pháp ghép kênh phân chia theo không gian và bước sóng, mạng cây đa sợi quang sẽ định tuyến các tín hiệu giữa các node trong một cuộc gọi cơ sở. Mạng con single-hop có thể được xem như 1 cây cáp bao gồm các cây sợi quang. Mỗi một cây sợi quang( fiber plant) là một phương tiện quảng bá đầy đủ mà có thể được chọn bởi một nhóm các trạm của mạng. Việc hạn chế số lượng các trạm để chọn một cây sợi quang là theo yêu cầu để tránh lãng phí quá nhiều công suất quang. Hơn nữa, mỗi cây sợi quang điều khiển một vài kênh WDM theo yêu cầu. Trong trường hợp này chúng ta có thể giả thiết rằng cấu trúc

21

vật lý là một cây, mà cấu trúc này bao phủ B cây sợi đơn (single- fiber) ( B là số các sợi quang trong một bó đa sợi quang). Khi cây lớn dần thì số các mức trong cây cũng tăng theo và vì thế sẽ suy hao rất nhiều (giả thiết rằng tất cả đường dẫn được định tuyến qua gốc). Có một cách có thể làm giảm suy hao, và vì vậy tránh dùng bộ khuyếch đại quang đắt tiền. Bằng cách chia nhỏ số lượng trạm thành các nhóm và liên kết chúng lại với nhau với các cây nhỏ hơn (vì vậy sẽ giảm suy hao). Rõ ràng, chúng ta vẫn muốn duy trì hoàn toàn tính kết nối, vì chúng ta muốn kết nối tất cả các trạm để truyền thông với cái khác. Vì vậy các nhóm trạm cần xếp chồng lên nhau và cần có đủ các nhóm rỗi cho mỗi cặp trạm, ít nhất là một nhóm (Hình 7.18). Cấu trúc cây con là do tham gia định tuyến và vấn đề phân chia, cấu trúc này cùng với vấn đề trước đó là thiết kế tổ hợp được gọi là vấn đề set-covering mà rất khó để giải quyết chính xác. Giải pháp trực giác, mặc dù không tối ưu, đã được giới thiệu và phân tích tổng quát trong tham khảo 14. Các cây con được định tuyến bởi việc lắp đặt chính xác các chuyển mạch và việc sử dụng các bộ ghép nhị phân và các sao phản xạ trong các node của cây đa sợi. Trong trường hợp nghiên cứu ở tham khảo 14, hơn 2000 trạm được kết nối mà không khuếch đại, 256-cây cáp quang. Việc lắp đặt các kết nôí chuyển mạch kênh trong mạng cây đa sợi là được hỗ trợ bởi một trạm tập trung, giữ đường dẫn sử dụng của các kênh WDM trên các cây quang của mạng con single-hop. Tuần tự, cho một cơ sở dữ liệu nhỏ của các trạm có thể truy nhập các cây quang, 1 trạm nguồn có thể tìm kiếm 1 kênh WDM rỗi trong 1 cây sợi quang, để nó truy nhập đến trạm đích và khai báo với trạm đích mà nó đã tìm ra bởi các phương tiện của mạng con multi-hop. Mạng quang đa mức (multilevel optical network – MONET), mạng quang lai ghép (hybrid optical network – HONET) và mạng đa truy nhập phân chia theo thời gian và bước sóng (time and wavelength division multiaccess network – T/WDMA) sử dụng các giao thức quản lý kết nối tương tự như mạng cây đa sợi nhưng chúng sử dụng các loại mạng con single-hop khác nhau. Ở đây, chúng ta chỉ thảo luận mạng single-hop T/WDMA sử dụng băng thông để mang một số kênh với số lượng không nhiều. Các kênh WDM được chia thành các khung, các khung này được chia nhỏ hơn thành các khung con và các khung con này được chia nhỏ hơn thành các khe (slots). Các trạm có một máy phát đơn với bước sóng cố định và hai hoặc nhiều hơn các máy thu thì có thể điều chỉnh toàn bộ khoảng cách của các kênh WDM. Các máy thu dựa trên các AOTF để điều chỉnh thời gian của một khung con và có thể được yêu cầu để chuyển qua một vài bước sóng ngay đó. Hai hoặc nhiều máy thu được hoạt động theo nguyên tắc đường ống bởi việc điều chỉnh tuần tự một máy thu trong khi máy thu khác đang nhận thông tin. Trong cách này, một trạm sẽ có ít nhất một máy thu được điều chỉnh đến 1 khung con ở tất cả mọi thời điểm. Một trạm chủ gọi yêu cầu 1 kênh ảo bao gồm 1 hoặc nhiều khe trên 1 khung với băng thông yêu cầu. Một người quản lý cuộc gọi có nhiệm vụ duy trì cho tất cả các cuộc gọi được tiến hành và cung cấp các khe mới sao cho không xảy ra tranh chấp. Tranh chấp trong 1 khung con xảy ra khi không có khe rỗi nào trong khung con

22

hoặc khi máy thu của trạm bị gọi được điều chỉnh trong suốt khung con. Cuộc gọi có thể bị tắt nghẽn được phân tích trong tham khảo 49, khi số lượng các kênh WDM tăng vượt quá 1 giới hạn thì hiệu suât sẽ bắt đầu giảm. Điều đó xảy ra vì các máy thu phải điều chỉnh tần số nhiều hơn để truy nhập đến các máy phát trên các kênh phân tán rộng lớn. Ví dụ, cho 1 kênh WDM thì số cuộc gọi được giới hạn bởi số khe trong 1 khung nhưng cho 1 máy phát trên kênh WDM thì số cuộc gọi được giới hạn bởi vì 1 máy thu có thể điều chỉnh để chỉ 1 kênh của máy phát trong bất kì khung con nào. Các mạng single-hop cung cấp tốt dịch vụ chuyển mạch kênh nhưng đối với các dịch vụ chuyển mạch gói thì bị hạn chế, nhưng ngược lại các mạng multi-hop thì cung cấp tốt các dịch vụ chuyển mạch gói còn chuyển mạch kênh thì hạn chế. Một giải pháp là kết hợp 1 mạng single-hop và nhiều mạng con multi-hop với nhau. Các mạng quang lai ghép cung cấp một mạng con phức tạp để điều khiển việc định tuyến các thiết bị và yêu cầu việc định tuyến thông tin là một cơ hội thực tiễn cho việc hợp nhất lưu lượng. Có rất nhiều kiến trúc cho các mạng lai ghép (hybrid network) đã được đề xuất và phân tích. 7.8 Mạng Photon: Mạng photon là mạng tốc độ cao tiên tiến nhất trong số các mạng được đề cập đến đây. Một bản tin trong mạng photon duy trì trong miền quang từ nguồn tới đích, nhưng đối lập với các mạng quang đơn chặng – thông tin điều khiển trong băng được thực hiện bởi các trung tâm chuyển mạch trung gian. Có hai loại mạng photon. Loại thứ nhất, được biết đến như là mạng hầu như toàn quang, mặc dù bản tin không bao giờ được chuyển đổi từ miền quang nhưng thông tin điều khiển trong băng (phần đầu gói tin) chuyển hết bản tin và chuyển tới miền điện tại mỗi node chuyển mạch. Sau đó các node định tuyến sẽ sử dụng thông tin mào đầu này để điều khiển chuyển mạch gói, như được chỉ ra trong hình 7.19. Tuy nhiên, trong mạng quang hoàn toàn thì quá trình xử lý bản tin bất kỳ nàu cũng hoàn toàn là photon, và khối điều khiển điện (electronic control unit) trong hình 7.19 sẽ không có.

Hình 7.20
Nếu mỗi trạm có số cổng đầu vào từ mạng bằng số cổng đầu ra mạng, và các gói có chiều dài cố định đến trạm trong một khe thời gian, thì định tuyến lệch được dùng. Khi tất cả các gói đến tại điểm bắt đầu khe thời gian, trạm quyết định cổng đầu ra ưu tiên trong tất cả các trạm có thể định tuyến nhầm hoặc là lệch tuyến một số gói để thay phiên các cổng đầu ra nếu có sự ưu tiên trong sự tranh chấp đối với một cổng đầu ra. Do đó, tất cả các gói được chuyển tiếp trong suốt khe thời gian,và không yêu cầu đệm gói. Do sự mở rộng của định tuyến lệch cơ bản, có thể sử dụng một số bộ đệm gói để cho hiện tượng lệch chỉ có thể xảy ra khi gói tin không được đệm.

23

Định tuyến lệch trở nên thu hút trong mạng photon bởi vì node chuyển mạch định tuyến lệch không yêu cầu đệm gói. Mặc dù việc lưu trữ quang nhanh trở nên khó đạt được, lợi ích của định tuyến lệch trong tất cả các mạng quang là rất dễ dàng. Chi tiết của định tuyến lệch, người đọc có thể tham khảo ở chương 9 của cuốn sách này. Việc nghiên cứu các mạng toàn quang mới chỉ bắt đầu gần đây. Các mạng hầu như toàn quang sử dụng định tuyến lệch được nghiên cứu thêm trong tài liệu 3 và 4. Các node chuyển mạch photon như biểu diễn trong hình 7.20, được kết nối với nhau trong mạng Manhattan song hướng và các gói được định tuyến lệch. Người ta đã chỉ ra rằng việc định tuyến lệch ngoài khe mà gói đến là không đồng bộ hóa với nhau sẽ gây ra một số vấn đề như tắc nghẽn và mất thông lượng, trừ khi có các tính toán chuyên dụng để chống lại những vấn đề này. Trong hình 7.21, thông lượng của một mạng Manhattan song hướng 7x7 định tuyến lệch được biểu thị theo tải yêu cầu cho cả cách phương thức khe và không khe của quá trình hoạt động với một bộ lọc gói 50 chặng. Chúng ta thấy rằng, trong khi mạng khe hoạt động tốt trong tất cả chế độ lưu lượng thì mạng không khe lại chịu sự chia tách hiệu suất sau khi đạt được tải mong yêu cầu. Hơn nữa, thông lượng lại rất nhạy với trễ đường truyền τ. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng sự lựa chọn một chính sách truy nhập chuyển mạch có thể cải thiện đáng kể hiệu năng. Trong tài liệu tham khảo số 4, ta thấy trừ phi phần mào đầu gói tin chứa trường thời gian sống, mà nó quyết định số chặng tối đa gói tin có thể đi qua trước khi ra khỏi mạng, thông lượng của mạng không khe có thể tiến dần về không. Nhu cầu này đối với trường thời gian sống mà giảm theo mỗi bước nhảy cũng giảm khả năng thực hiện mạng photon. Việc ghi trường của gói mà không cần chuyển đổi trường tới miền điện là rất khó, việc giải quyết vấn đề này vẫn còn đang được tìm kiếm. Một khả năng nữa để biểu thị gói bằng dấu thời gian, có thể so sánh với giải pháp lỗi thời xung chung tại mỗi bước nhảy, nếu gói tìm thấy vượt quá phạm vi cho phép tối đa thì nó sẽ bị loại bỏ. Bước này cải tiến được thông lượng của mạng Manhattan song hướng toàn quang. Việc sử dụng các bộ đệm gói tin quang trong mạng photon bị giới hạn do các bộ nhớ quang truy nhập ngẫu nhiên không tồn tại. Hơn nữa, các vòng lặp trễ sợi quang cần phải sử dụng một cách tiết kiệm, do mỗi tầng trễ có thể dẫn đến tổn thất năng lượng quang đáng kể. Hình 7.20 chỉ ra rằng vòng trễ sợi quang có thể được sử dụng để hồi tiếp tạm thời các gói tin hơn là làm lệch chúng. Cung cấp một số lượng giới hạn các vòng lặp trễ sợi quang có thể tăng thông lượng mạng một cách đáng kể, như đã chỉ ra trong hình 7.22, đồ thị biểu diễn thông lượng theo tải đồng nhất yêu cầu đối với số lượng l khác nhau của vòng lặp trễ sợi quang trong mạng Manhattan song hướng 7×7 định tuyến lệch. Khi các kỹ thuật truy nhập chuyển mạch, thời gian sống, vòng trễ sợi quang được đưa vào, hiệu suất của định tuyến lệch không khe có thể vượt trội hơn định tuyến lệch có khe. Đa truy nhập phân chia tuyến (RDMA – Route Division Multiple Access) là cách mới để cung cấp các mức dịch vụ khác nhau tới người sử dụng trong lớp mạng gọi là Isochronet (mạng đẳng thời). Trong RDMA trạm gốc được cấp phát

24

một băng thời gian trong quá trình mà tất cả các trạm khác có cơ hội để gửi bản tin tới trạm gốc. Trong suốt dải thời gian của trạm gốc, trạm nguồn truyền tải chỉ sử dụng cây định tuyến cho đích (nghĩa là cây của đường ngắn nhất từ mỗi trạm nguồn tới trạm gốc). Việc sắp xếp này giảm mạnh sự tranh chấp giữa các trạm truyền dẫn. Hơn nữa, một vài trạm có thể được cấp phát chồng lấn dải thời gian, nếu các định tuyến của các trạm không khớp các liên kết, bởi vì lưu lượng trong các cây định tuyến khác nhau có thể không cản trở lẫn nhau. Trong mạng photon RDMA có thể được sử dụng để gửi lưu lượng bằng cách cấp phát tới mỗi trạm một dải thời gian trong suốt quá trình đó tất cả các đường quang có thể được thiết lập cho thời gian của dải băng thông. Có 3 kỹ thuật RDMA được dùng để giải quyết xung đột trong phạm vi cùng cây định tuyến. RDMA- loại bỏ một gói khi hai gói tranh chấp nguồn, cho phép gói khác tới mà không cản trở. RDMA+ đệm một gói khi hai gói tranh chấp nguồn và gửi một gói đã đệm khi một gói đã bị loại. Khi hai gói tranh chấp nguồn, RDMA++ chứa một gói để truyền dẫn sau trong băng thời gian kế tiếp. Giao thức cấp phát dải băng tần đặc biệt xác định băng được sử dụng bằng cây định tuyến riêng do đó nó không phân cắt với bất kỳ cây định tuyến nào mà sử dụng cùng băng thời gian. Kế hoạch cấp phát băng thông đơn giản và giao thức đồng bộ hóa được đưa ra trong chuẩn 72 và hiệu suất của nó có thể so sánh với mạch thuần và chuyển mạch gói. Các giao thức này làm việc tredn cơ sở cây định tuyến và tiến đến trong cách rộng đầu tiên để cấp phát bất kỳ và đồng bộ dải thông thời gian. Một trong tất cả các băng thời gian được cấp phát, mỗi trạm giữ các gói cho nguồn đưa tới băng thời gian của nguồn. Chỉ thị của dải thời gian có thể cũng được dự trữ do đó nguồn gốc sử dụng cây định tuyến tới đa đường tới các phần con của trạm. Việc mô phỏng một mạng con với lưu lượng giống nhau được chỉ ra rằng Isochronet cho trễ nhỏ hơn mạng chuyển mạch gói và mạch. Các mạng photon là kỹ thuật tiên tiến nhất của mạng quang. Chúng có thể đạt được tốc độ rất cao do chúng tránh được chuyển đổi điện quang trung gian, chúng hướng tới nguyên nhân hiện tượng “nút cổ chai” trong đường dữ liệu. Bởi vì công nghệ photon không có bản sao tới bộ nhớ truy nhập ngẫu nhiên điện, thường thường bộ đệm gói quang được thực hiện như đường trễ quang. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ cung cấp có giới hạn gói đệm. Do đó, định tuyến lệch, tuy không yêu cầu nhưng có thể giúp ích cho các bộ đệm gói, là giải pháp cho hầu hết mạng này. 7.9 Kết luận: Mạng quang đưa ra hoàn toàn mới, vấn đề thách thức trong cả định tuyến mạch và định tuyến gói. Nó gây ra khó khăn bởi vì: (1) mạng quang hoạt động ở tốc độ cao hơn mạng thông thường, (2) mạng quang đưa ra chiều hướng ghép các tiện ích ngoài không gian và thời gian, có tên là ghép phân chia bước sóng, (3) mạng quang cố gắng di chuyển phần cổ chai điện bằng cách thiết lập đường quang toàn trình bất cứ khi nào có thể. Trong chương này chúng ta đề xuất phân loại mạng quang, và phân lớp một cách tương ứng vấn đề định tuyến với giải pháp.

25

Đầu tiên, trong mạng quang single-hop , vấn đề định tuyến tín hiệu liên quan tới việc cây và đường đưa vào tĩnh và động trong topo vật lý. Khó khăn mới ở đây là vấn đề làm làm mỏng, đồng bộ thời gian chung, và giải quyết xung đột bước sóng. Kế đến , chúng tôi đưa ra vấn đề định tuyến trong mạng quang multihop(đa bước nhảy). Hướng mới của việc định tuyến trong multihop là vấn đề tác động lẫn nhau giữa việc định tuyến các gói tại các phần chuyển mạch và xác định lại cấu hình topo ảo. Thứ ba, chúng tôi đưa ra vấn đề lai ghép mạng quang single-hop và multihop, các tuyến chuyển mạch gói ở cả single-hop và multihop đều được hỗ trợ và sử dụng để cung cấp loại truyền tải tích hợp của rất nhiều lọai lưu lượng. Cuối cùng, chúng ta lớp mạng chuyển mạch gói photon. Nhiệm vụ chính ở đây là phát triển thuật toán định tuyến mà hoạt động đủ nhanh để cho phép chuyển tải dữ liệu trên mạng quang, đường multihop, mà không cần việc đệm điện trung gian. Việc thiếu bộ nhớ quang truy nhập ngẫu nhiên để đệm gói ảnh hưởng một cách sâu sắc thuật toán định tuyến được sử dụng trong mạng photon. Các giao thức và kiến trúc mạng quang đang trải qua các bước phát triển liên tiếp, cuộc đua về sự tiên tiến trong công nghệ được đánh giá bởi các áp dụng mới cho người sử dụng. Việc định tuyến rõ ràng là trở nên quan trọng trong giải pháp này. Có thể mong đợi việc đổi mới định tuyến hoàn toàn trong chuyển mạch gói photon.

26

CHƯƠNG 10: ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG DI ĐỘNG TẾ BÀO
Điện thoại di động tế bào đã ngày càng tăng trong suốt 10 năm qua do các thuê bao truyền thông với nhau không phụ thuộc vào vị trí, và có thể di động. Trong một mạng tế bào, một thuê bao di động kết nối trực tiếp tới một trung tâm chuyển mạch di động thông qua một trạm gốc vô tuyến. Do đó, các hệ thống tế bào không những phải quản lý thuê bao di động (ví dụ: định vị các thuê bao và giám sát các cuộc gọi trong khi di chuyển) mà còn phải giải quyết các vấn đề về việc liên kết với vô tuyến (ví dụ: đạt được chất lượng cao, truyền dẫn nhiễu nhỏ nhất).Chương này trình bày các nội dung cơ bản của việc định tuyến trong mạng tế bào, tập trung vào việc đăng kí và cấp phát các thuê bao di động, thiết lập cuộc gọi và chuyển vùng cuộc gọi giữa các trạm gốc vô tuyến. Chương này tóm tắt các chuẩn dành cho các hệ thống tế bào, bao gồm chuẩn dữ liệu đóng gói số tế bào(Celluar Digital Packet Data) dành cho truyền tải dữ liêu phi kết nối trong các mạng tế bào. 10.1 Giới thiệu. Dịch vụ điện thoại tế bào trở thành một bộ phận quan trọng của nghành công nghiệp viễn thông như việc thuê bao di động đột ngột tăng lên qua 10 năm đầu của dịch vụ thương mại. Sự phát triển và phổ biến của dịch vụ tế bào đã ảnh hưởng một cách sâu sắc hình ảnh của nghành công nghiệp viễn thông và vai trò chức năng của dịch vụ điện thoại. Khi dịch vụ điện thoại tế bào được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1982, và trong hàng chục năm của thời kỳ thai nghén trước đó nó được xem như là một sự mở rộng đơn giản của mạng điện thoại để kết dính mọi người trong sự di chuyển. Dịch vụ điện thoại dự định truyền thông các cuộc gọi trung bình từ điểm tới điểm là phụ thuộc vào vị trí đặc điểm từng vùng hơn là đặc điểm từng người. Nếu bên được gọi không xảy ra tại cuộc gọi nội hạt thì cuộc gọi cố gắng thử lại là không thành công. Đặc biệt gần đây cho phép các trạm thuê bao di động cầm tay, thì khái niệm di động ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Hơn nữa, với sự gia tăng tinh vi của mạng điện thoại, việc đưa di động vào mạng đưa đến làm thay đổi từ điện thoại phụ

27

thuộc vào vị trí tới một dịch vụ độc lập với vị trí, phân chia các cuộc gọi tới các thuê bao bất chấp vị trí của chúng. Một mô hình mới của dịch vụ điện thoại “bất cứ đâu, bất cứ khi nào” được biết đến như là dịch vụ truyền thông cá nhân – một khái niệm công ngiệp mà được mong đợi sẽ tạo ra khả năng của truyền thông di động. Cơ sở cho những khả năng này là kết nối vô tuyến từ một người sử dụng với một thiết bị đầu cuối truyền thông không cố định hoặc kết nối có dây từ mạng điện thoại, nhưng việc thực hiện đã vượt xa so với ý tưởng đơn giản này, và nó còng cung cấp . Và mặc dù phải cung cấp một kết nối vô tuyến mà cung cấp đó phải tin cậy, chất lượng dịch vụ cao là một thử thách công nghệ quan trọng chỉ nó đang bắt đầu. Hơn nữa khả năng của kết nối vô tuyến nằm trong mạng và khả năng phân chia các dịch vụ. Các khía cạnh của dịch vụ điện thoại di động tế bào, các công nghệ liên quan và tất cả các dịch vụ giữa các dịch vụ truyền thông cá nhân là nội dung của chương này. Tuy nhiên, trước khi cụ thể hóa các vấn đề, một vài nền tảng trong khía cạnh vô tuyến của công nghệ tế bào về mạng cần được hiểu biết và yêu cầu định tuyến trong các hệ thống truyền thông tế bào. Đây là lí do, chúng ta bắt đầu giới thiệu cơ bản về các hệ thống tế bào. 10.2 Cơ bản về hệ thống tế bào. 10.2.1 Khái niệm về tế bào Khái niệm tế bào là khả năng tái sử dụng một kênh vô tuyến - tái sử dụng tần số tại một vài vị trí trong một vùng tương thích địa lý. Khái niệm này được minh họa trong hình 10.1, hình này mô tả một hệ thống với 7 cell – một vùng lục giác với một vị trí đặt anten, hoặc đặt tại vị trí trung tâm tế bào đó. Vị trí cell đặt tại trung tâm của mỗi ô cung cấp một vùng phủ sóng vô tuyến cho mỗi cell. Dịch vụ vô tuyến có thể cung cấp tới mỗi cell, mà không có nhiễu giữa các ô, nếu tần số vô tuyến là duy nhất và riêng biệt sử dụng cho mỗi tế bào. Tuy nhiên, sự sao chép này nói chung trải phổ tần số vô tuyến rất không hiệu quả; hơn nữa số người sử dùng không phải trong lúc sẵn sàng tăng mà không tăng khả năng cả phổ tần số vô tuyến. Giới hạn này có thể được giảm xuống bằng cách áp dụng khái niệm tái sử dụng tần số, tùy theo nó là một đại lượng cố định của trải phổ có thể được sử dụng hiệu quả hơn bằng cách phân chia thành các đoạn nhỏ hơn và tái sử dụng nhiều lần các đoạn này thông qua một vùng bảo vệ. Trong hình 10.1 trải phổ cho phép phân
28

chia thành bốn nhóm tái sử dụng, được đánh nhãn là A,B,C và D; tần số thiết lập là B,C và D được sử dụng hai lần và nhóm tần số A được sử dụng một lần.

B C D

A D
D R B

C

Hình 10.1 Tái sử dụng tần số trong một hệ thống tế bào Nói chung, người sử dụng nhóm tần số trong mỗi một ô là nguyên nhân nhiễu giữa các người sủ dụng của nhóm tần số giống nhau trong ô khác. Nếu các ô sử dụng một nhóm tần số mà khoảng cách không gian đủ xa, thì có thể điều khiển được các mức nhiễu nhưng không làm giảm chất lượng dịch vụ. Trong hình 10.1 khoảng cách giữa vị trí tế bào sử dụng tần số giống nhau được ký hiệu là D, và khoảng cách từ vị trí bất kỳ ô nào tới hầu hết các người sử dụng ở xa trong các ô đó được ký hiệu là R. Tín hiệu nhận được phụ thuộc vào khoảng cách giữa các hệ thống tế bào thông thường tuân theo quy tắc công suất, đó là: Pr = K*d-n Ở đây : Pr là công suất thu K là hằng số d là khoảng cách giữa máy phát và máy thu n là số dương nhỏ Trong điều kiện không gian tự do, khi không có vật cản giữa anten thu và phát, n=2. Tuy nhiên, trong các hệ thống tế bào, các trạm thuê bao điển hình có bao quanh bằng đối tượng và đặc tính khối địa lí và bức xạ phân tán từ vị trí các anten
29

tế bào. Kết quả là độ dài tín hiệu giảm nhanh hơn như là một chức năng của khoảng cách so với định luật bình phương ngược mô tả các đường dẫn không tắc nghẽn. Phép đo mở rộng trong môi trường vô tuyến di động thể hiện trong hầu hết các trường hợp, 3 < n < 4. Định luật dạng lũy thừa đang xét phụ thuộc vào khoảng công suất tín hiệu nhận được, chúng ta có thể rút ra một biểu thức đơn giản cho tỉ số của công suất nhận từ đòi hỏi của bộ truyền dẫn với công suất nhận được với một bộ truyền dẫn giao thoa sử dụng tần số giống nhau: C/I = (D/R)n Duy trì kết nối chất lượng cao trong bất kỳ mạng truyền thông, nó cần thiết giữ lại tỉ số của công suất yêu cầu trên công suất nhiễu hoặc tỉ số sóng mang trên nhiễu, C/I, trên một vài ngưỡng mà ngưỡng đó phụ thuộc vào hệ thống thiết kế. Và rõ ràng tỉ số sóng mang trên nhiễu phụ thuộc vào tỉ số tái sử dụng D/R. Độ chính xác của phần mô tả ở trên có phần bị giới hạn, chủ yếu bởi vì hầu hết các bộ vi xử lí xác định độ dài tín hiệu và các mức nhiễu là ngẫu nhiên sẵn có. Suy hao lan truyền thực tế tuân theo định luật dạng lũy thừa mô tả suy hao lan truyền trung bình như là đặc trưng của khoảng cách. Hơn nữa, cấp phát cho một trạm thuê bao nội hạt và xác suất của các cuộc gọi khác chuẩn bị được kích hoạt tại tần số giống nhau trong một ô khác cũng là một sự kiện ngẫu nhiên. Kết quả là tỉ số sóng mang trên nhiễu là một biến số ngẫu nhiên. Trong bất kỳ sự giải thích chặt chẽ của môi trường nhiễu trong một hệ thống tế bào, tất cả các hệ số này và hệ số khác phải được đưa vào để tính toán. Tuy nhiên các chi tiết này đã đi quá xa chủ đề thảo luận. Hơn nữa, bởi vì nhiễu được phụ thuộc vào khoảng cách, tỉ lệ tái sử dụng tần số là tỷ lệ bất biến, nếu đặc tính lan truyền của môi trường không thay đổi với tỷ lệ đó, nếu n là tỷ lệ bất biến. Do đó dung lượng cuộc gọi của hệ thống có thể được điều khiển bằng mật độ của vị trí đặt anten trong hệ thống. Bằng việc giảm không gian vị trí đặt anten, và giữ lại tái sử dụng tần số hình học giống nhau, dung lượng tổng cộng của hệ thống có thể được tăng lên. Nếu không gian chia thành một nửa cho vị trí bảo dưỡng anten cho đặc trưng từng vùng, ví dụ, số vị trí anten bảo dưỡng mỗi vùng sẽ tăng lên bằng một hệ số là 4. Độ giãn sẽ tăng lên dung lượng

30

mang cuộc gọi trong vùng đó bằng hệ số 4. Sự tăng lên số vị trí đặt anten đến dung lượng hệ thống tăng lên được tham chiếu bằng tách ô. Mặc dù nguyên lý bị giới hạn bởi cả công nghệ và kinh tế, ứng dụng của nó được thừa nhận cung cấp dịch vụ tế bào ở Bắc Mỹ và nơi khác trên thế giới giữ lại nhanh chóng và duy trì tăng yêu cầu của dịch vụ. 10.2.2 Chú ý trong thuật ngữ Hiện nay, nhiều nhóm công nghiệp ở Bắc Mỹ và Châu Âu đang phát triển những yêu cầu và những chuẩn cho công nghệ tế bào và có liên quan đến khu vực của hệ thống truyền thông cá nhân (PSC) .Chúng ta có thể hy vọng rằng tất cả những chú ý này sẽ dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của những chuẩn và công nghệ chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu khắt khe trong ngành công nghiệp. Do có nhiều nhóm nghiên cứu phát triển các mô hình mạng tham chiếu và kết hợp các thuật ngữ nên sẽ gây khó khăn. Để thành lập khung tham chiếu chung, một cơ quan hay nhóm công ty chung cần một mô hình tham chiếu mà nhận dạng và đặt tên cho các phần tử và các giao diện mạng. Thường thì không như vậy, khi mà một nhóm bắt đầu nghiên cứu thì nhóm làm trên mô hình và thuật ngữ hiện tại theo vài cách và nó được phát triển theo cách riêng của họ. Kết quả là số mô hình tham chiếu được sử dụng chung, kết hợp một cách lộn xộn các thuật ngữ và chữ viết tắt. Trong chương này ,chúng ta tránh không đề cập đến vấn đề này có thể bằng việc gắn với thuật ngữ sử dụng bởi các nhóm bên trong hiệp hội công nghiệp viễn thông mà có trách nhiệm đưa ra chuẩn cho công nghệ tế bào ở Bắc Mỹ. 10.2.3 Cấp phát tần số cho dịch vụ tế bào Ở Mỹ, FCC ban đầu cấp phát phổ tần số 40MHz cho dịch vụ tế bào vào năm 1982. Trong khoảng thời gian đó, FCC gọi các vùng đăng kí là các vùng dịch vụ địa lí tế bào (CGSAs), ở đó các công ty được đăng ký để khai thác các hệ thống tế bào. Các CGSA điển hình là vùng đô thị kết hợp với một thành phố lớn hay trung bình, hay vùng nông thôn. Phổ được phân chia bằng nhau cho hai nhà khai thác hệ thống cung cấp dịch vụ trong vùng CGSA, được quy vào cho nhà sóng mang A và B. Các sóng mang A là các sóng vô tuyến, do băng tần A được ấn định dành trước cho các công ty mà không kinh doanh cung cấp dịch vụ điện thoại có dây trong vùng bao

31

phủ CGSA. Các sóng mang B được dùng cho các công ty mà cung cấp dịch vụ có dây trong vùng đăng kí CGSA. Thời gian ngắn sau đó FCC phân bố 40MHz gốc và các nhà khai thác bắt đầu cung cấp dịch vụ, và ngày càng dịch vụ tế bào ngày càng tăng hơn cả dự đoán trước. Mặc dù theo lý thuyết này, người vận hành có thể xử lý do nhu cầu tăng cao bằng việc chia ô, do yêu cầu về vấn đề tài chính và người dùng kết hợp với việc phân chia ô thì cần phải yêu cầu nhiều phổ hơn. FCC đáp lại bằng cách cấp phát thêm vào 10MHz, lại phân chia tương đương cho hai sóng mang A và B. Kết quả cấp phát, và số kênh kết hợp cho mỗi sóng mang thể hiện trên hình 10.2. Thành phần thứ hai cấp phát 10MHz sử dụng bằng các sóng mang A và B được chỉ định là A`, A``, và B`. A được chỉ định là phổ mới trong hai đoạn, và B được chỉ định là phổ mới trong một đoạn do yêu cầu về tính cân bằng. Bởi vì phổ không hữu hạn mà có thể cung cấp mở rộng liền nhau cho băng tần của cả A và B, phổ mới phân chia theo một cách nào đó mà được xem như là không tương đương nhau của cả hai sóng mang. Trải phổ được phân chia thành các cặp kênh song công 30-kHz, cấp phát gốc được đánh số từ 1 – 666 và667 – 799 và 991 – 1023 cho cấp phát thứ hai.

32

Các kênh

991-1023

1-1023

334-666

667-716

717-799

846.5 891.5

825

836

824

845

Truyền dẫn trạm gốc vô tuyến Tần số (MHz)

A*
869 870

890

Phân bố gốc

Hình 10.2 phân bố trải phổ ở Bắc Mỹ cho dịch vụ tế bào 10.2.3.1 Phân bố mới cho PCS Vào tháng 10.1993, FCC đã cấp phát phổ mới cho PCS. Mặc dù các chuẩn cho dịch vụ này vẫn chưa được đưa ra, vẫn có một số yêu cầu cho việc đưa ra chuẩn của công nghệ này. Tất cả các yêu cầu công nghệ được rút ra trực tiếp từ công nghệ đã sử dụng hoặc mới phát triển dành cho hệ thống tế bào, hoặc chia sẻ từ một công nghệ tế bào có sẵn và bằng nhiều cách rất giống nhau. Trải phổ được cấp phát bởi FCC dành cho hoạt động được cấp phép (như dịch vụ tế bào hiện tại) tại 1850 – 1910 và 1930 – 1990. Một băng tần không đăng kí PCS cũng phân bố cho các ứng dụng như là điện thoại không dây, mạng nội hạt không dây, và PBX không dây. Phổ này là 1910 – 1930. 10.3 Kiến trúc mạng Mặc dù một số kiến trúc mạng thông qua bởi chuẩn ở châu Âu và Bắc Mỹ, xét kiến trúc rất nhỏ được cung cấp cho dịch vụ thoại và kết nối tới PSTN gồm có ít nhất 3 phần tử chức năng, 2 giao diện bên trong và 2 giao diện bên ngoài. Các phần tử mạng và các giao diện kết hợp được thể hiện ở hình 10.3. 10.3.1 Các phần tử mạng tế bào.

880

894

A** ***---

B*** **---*

A* B*

849

Truyền dẫn * trạm thuê bao A Tần số (MHz)

A** ***---

B*** **---*

A* B*

33

Trạm thuê bao là đơn vị kết cuối thực hiện chức năng của 1 điện thoại thông thường. Tuy nhiên, không giống như một điện thoại thông thường trạm thuê bao gồm một phân hệ vô tuyến song công mà cung cấp một kênh thoại song công cộng với báo hiệu cần thiết giữa trạm thuê bao và trạm gốc vô tuyến. Trạm gốc vô tuyến với các chức năng ghép kênh, điều kiển các sóng vô tuyến để duy trì các kết nối vô tuyến song công cho nhiều trạm thuê bao, thiết lập và ngắt kết nối đến các trạm thuê bao, và ghi dấu vết các báo hiệu và các tham số khác kết hợp với các trạm thuê bao cụ thể, và cung cấp trung kế đến các trung tâm chuyển mạch di động. Một trạm gốc vô tuyến bao phủ một vùng địa lý đã được ấn định xung quanh trạm gốc. Kích thước của vùng mà nó bao phủ phụ thuộc và nhiều yếu tố, nhưng trong hệ thống tế bào hiện thời thì vùng này có thể nằm trong khoảng từ diện tích 1 dặm đến 200 dặm.

34

Hình 10.3 Kiến trúc mạng tế bào cổ điển

Một trung tâm chuyển mạch di động (MSC) thực hiện chức năng chuyển mạch và điều khiển cho ô vùng phục vụ, lựa chọn điển hình gồm có 10 hay 100 trạm gốc vô tuyến trải phổ ở một vùng đô thị rọng lớn hay vùng nông thôn. Không giống như chuyển mạch kết cuối tỏng PSTN, vai trò chính trong mạng là chuyển mạch các kết nối, MSC là một bộ phận xử lý quan trọng trong việc quản lý di
35

động, ngoài ra còn có chức năng chuyển mạch. Ít nhất, chức năng quản lý di động yêu cầu chuyển mạch để định vị các trạm thuê bao mà cuộc gọi đến được đi đúng hướng, quản lý các tài nguyên vô tuyến trong các tất cả các trạm gốc như là khởi tạo cuộc gọi, theo dấu vết của các trạm thuê bao khi chúng di chuyển giữa vùng phục vụ của trạm gốc vô tuyến để đảm bảo dịch vụ được liên tục và không bị ngắt. 10.3.2 Giao diện bên trong. Giao diện giữa trạm thuê bao và trạm gốc vô tuyến thông thường được quy vào giao diện không gian (AI) bởi vì nó dựa trên các phương tiện vô tuyến cho chuyển giao vật lý. Dịch vụ tế bào ở Bắc Mỹ sử dụng giao diện không gian mà được nói chung là dịch vụ điện thoại di động tiên tiến AMPS. Đặc điểm của giao diện không gian AMPS nói đến trong ba tài liệu chuẩn được đưa ra bởi TIA ( Hiệp hội công nghiệp viễn thông). Những tài liệu này chỉ rõ sự tương thích giữa các thiết bị đầu cuối thuê bao và trạm gốc vô tuyến. Trên thế giới thì các chuẩn giao diện không gian là tương tự nhau. Từ đó giới thiệu công nghệ AMPS ở Bắc Mỹ và các bổ sung ở các nơi trên thế giới, những tổ chức chuẩn khác nhau đảm nhận phát triển và tiêu chuẩn hóa các công nghệ số tiên tiến để cung cấp các dịch vụ tế bào. Ở châu Âu, với nỗ lực hiệu quả trong đặc điểm qui định tới GSM, cụ thể hóa xa hơn nữa chính là giao diện không gian GSM. Đầu tiên phiên bản này được triển khai thương mại hóa vào năm 1992 và tiếp tục được triển khai ra ngoài châu Âu và những địa điểm trên thế giới. Ở Bắc Mỹ 2 chuẩn tế bào số cạnh tranh đã làm phát triển và phê chuẩn bởi TAI. Một là AMPS số hay D-AMPS,là một bước vượt bậc công nghệ AMPS mà sử dụng đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA . Chuẩn kỹ thuật số thứ hai sử dụng đa truy nhập phân chia theo mã CDMA khác hẳn công nghệ AMPS. Giao diện giữa trạm gốc vô tuyến và MSC gồm đường kết nối chính tới kênh thoại thông thường và kênh dữ liệu cho thông tin điều khiển và thông tin báo hiệu. Ở Bắc Mỹ nhiều kết nối thực hiện điển hình sử dụng kênh T1 chở trên đường dây thuê bao hay sóng cực ngắn thẳng. Không có những chuẩn nào chi phối ở Bắc Mỹ. Như kết qủa mỗi sản phẩm của hạ tầng tế bào có đặc điểm giao diện riêng và nó không thể hòa trộn và ghép trạm gốc vô tuyến từ nhà sản xuất này với thiết bị chuyển mạch từ nhà sản xuất khác. 10.3.3 Các giao diện bên ngoài

36

Các MSC phục vụ tế bào liền kề nhau cần trao đổi thông tin để cho phép các cuộc gọi tiến hành chuyển từ cell này trong vùng phục vụ kết hợp với một MSC đến một cell trong vùng phục vụ của một MSC liền kề đó. Các kết nối trung kế kênh thoại chuyển là cần thiết giữa chuyển mạch mang lưu lượng kênh thoại kết hợp với chuyển hướng cuộc gọi theo cách này. Các nhà sản xuất MSC điển hình có giao diện riêng cho tương tác MSC tới MSC, để nhà khai thác hệ thống tế bào có thể mở rộng hệ thống của họ bằng cách thêm các chuyển mạch khi lưu lượng yêu cầu vượt quá dung lượng hoạt động của một chuyển mạch. Trong cách này nếu một hệ thống hoạt động nếu nó được điều khiển bởi một số lượng lớn MSC. Nếu các nhà khai thác hệ thống trong các tế bào liền kề nhau phục vụ vùng dùng các chuyển mạch mà cung cấp bởi một nhà sản xuất, thì các chuyển mạch này có thể được kết nối lại với nhau để dịch vụ có thể đuyojc cùng cấp đến khách hàng theo một cách nào đó mà các khách hàng có được dịch vụ. Tuy nhiên, khi các nhà khai thác hệ thống ở các vùng phục vụ liền kề nhau dùng các chuyển mạch được cùng cấp bởi các nhà sản xuất khác nhau, thì khso có thể dựa trên giao diện nào để điều khiển cuộc gọi giữa các cell trong hai hệ thống. Trong trường hợp này, một giao diện chuẩn được yêu cầu nếu có việc này xảy ra. Ở Bắc Mỹ, TIA phát triển như là một chuẩn cho các nhà khai thác liên hệ thống mà cho phép bàn giao việc xảy ra giữa các hệ thống liền kề nhau. Truyền thông giữa các MSC ở các vùng dịch vụ khác nhau được yêu cầu hỗ trợ chuyển vùng các trạmg thuê bao. Chuyển vùng (roaming) xảy ra khi chủ trạm thuê bao di chuyển bên ngoài vùng phục vụ và dịch vụ nhà họ và dịch vụ yêu cầu. Thuê bao chuyển vùng muốn khởi tạo cuộc gọi hay có cuộc gọi đến trạm thuê bao của họ trong vùng phục vụ mà họ đã di chuyển. Trong trường hợp này, thì thật sự cần thiết cho nhà khai thái hệ thống mà thuê bao đi đến truyền thông với nhà khai thác hệ thống nhà để kiểm tra nhận thực của thuê bao yêu cầu dịch vụ, trao đổi thông tin, hay làm các thủ tục để chuyển hướng cuộc gọi. Và giao diện MSC đến MSC cũng do TIA đưa ra duy trì và phát triển. Ở châu Âu, thì GSM hệ thống tế bào số cũng có phần mở rộng cho chuyển vùng. Giao diện giữa MSC và PSTM tương tự giữa qui định theo qui ước PABX và PSPM. MSC được gán cho một dãy số, điển hình một hay nhiều hơn số mã hóa trạm đầu cuối và cuộc gọi được phân phối tới thiết bị chuyển mạch như chúng chuyển tới PABX.Các nhà cung cấp dịch vụ tế bào cũng đòi hỏi cung cấp bằng

37

truy nhập sóng mang khoảng dài hơn thế nữa đường trục chính từ nhiều khoảng dài nhà cung cấp có thể kết thúc ở MSC. 10.4 Chức năng giao diện không gian Trong phần này, chung ta mô tả các chức năng khác nhau trong giao diện không gian. 10.4.1 Truyền dẫn thoại Mặc dù nhu cầu cho chức năng này dường như rõ rệt trong hệ thống điện thoại, và cung cấp nó là luôn luôn có. Bởi vì ngẫu nhiên của kênh vô tuyến dùng cho kết nối, và ngẫu nhiên của các trạm thuê bao về vị trí và di chuyển, thật sự khó khắn cho việc duy trì liên tục, chất lượng dịch vụ thoại cao cho người dùng di động. Các người dùng cho các dịch vụ điện thoại thì do yêu cầu độ tin cậy, mà nhiễu và giao thoa trong kênh thoại của các kết nối phải được giảm. Cần thiết để cung cấp các chức năng hỗ trợ để làm cho vấn đề này ở mức thấp nhất, như cung cấp các chức năng cơ bản yêu cầu chuyển dịch vụ. 10.4.2 Các mã màu Dịch vụ giảm cấp trong các hệ thống tế bào được biết đến là “false capture”. Vấn đề này xuất phát từ thực tế, như đã nói ở trên, tất cả các hệ thống tế bào dựa vào một vài tần số tái sử dụng lại để cung cấp dịch vụ cho một số lượng người dùng lớn trong một vùng dịch vụ trong khi lại hạn chế về số kênh. Do vậy, trong bất kỳ vùng dịch vụ tế bào nào nhiều nhất thì cũng chỉ 5 hay 10 cuộc gọi có thể được diễn ra trên cùng một kênh trong một thời điểm. Tái sử dụng tần số để đảm bảo các trạm gốc dùng chung một tần số được riêng biệt nhau để giao thoa không xảy ra. Tuy nhiên, thậm chí với kĩ thuật tốt, thì cũng có lúc khi tín hiệu nhận tại một trạm thuê bao hay trạm gốc vô tuyến là không mong muốn, tín hiệu nhiễu có công suất lớn hơn so với tín hiệu thay vì có tín hiệu mong muốn. Đó là hiện tượng false capture. Để ngăn chặn hiệu tượng false capture, một phần tín hiệu phụ trợ, được biết đến là color code (mã màu) được dùng. Trong nhóm tái sử dụng tần số, việc thiết lập các trạm gốc vô tuyến mà không có kênh nào được dùng nhiều hơn quá một lần, được gán cho một color code. Mã này được truyền dẫn bởi các trạm gốc vô tuyến và phát đáp ứng lại bởi trạm thuê bao trở lại trạm gốc vô tuyến. Nếu trạm gốc vô tuyến nhận sai mã màu, nó biết rằng false capture đã xảy ra ở trạm thuê bào hay trạm gốc vô tuyến. Ít nhất, trạm gốc vô tuyến sẽ ngừng thoại để ngăn chặn chủ gọi để nghe một tín hiệu thoại từ cuộc gọi khác. Nếu vấn đề này cứ tiếp tục
38

diễn ra thì hệ thống có thể kết thúc cuộc gọi. Trạm thuê bao cũng biết mã màu kết hợp với trạm gốc mà nó gắn chặt, và nếu nó dò tìm sai mã mà, nó sẽ im lặng. Dang mã màu khác biến đổi từ hệ thống này sang hệ thống khác. Các hệ thống tương tự như AMPS dùng một mã màu đơn giản với một trong ba tín hiệu chuông mà truyền dẫn trên băng tần thoại. Các hệ thống số dùng các mã số mà được truyền như là phần của cấu trúc khung mang tín hiệu thoại. 10.4.3 Các kênh báo hiệu Các dạng báo hiệu khác nhau được yêu cầu trong các hệ thống tế bào cho thiết lập cuộc gọi, điều khiển cuộc gọi, và quản lý di động. Một vài báo hiệu cho các chức năng này diễn ra trên các kênh báo hiệu dành riêng. Báo hiệu khác diễn ra trong cấu trúc của một kênh được gán cho cuộc gọi thoại. Lưu lượng báo hiệu giữa các kênh báo hiệu và kênh thoại là không đồng nhất, và phụ thuộc vào ảnh hưởng của các tài nguyên vô tuyến và đơn giản của các thiết bị. Chúng ta định nghĩa vài kênh logic, mà nó thể hay không thể mà có thể tải thông tin trên cùng kênh vật lý. 10.4.2.1 Kênh bản tin mào đầu hệ thống Có một số lượng thông tin mà bất kì trạm thuê bao nào cũng cần để biết về hệ thống đi vào một hệ thống khác. Thông tin này được quảng bá trên kênh bản tin mào đầu hệ thống từu mỗi trạm gốc vô tuyến. Thông tin cung cấp trên kênh này bao gồm các tham số hệ thống và nhận dạng hệ thống mà các trạm thuê bao cần để biết về hệ thống và những dịch vụ nào đang có trên hệ thống. 10..4.3.2 Kênh paging Khi một cuộc gọi đến tại hệ thống tế bào cho một trạm thuê bao trên hệ thống đó, MSC không cần thiết biết thuee bao có trong hệ thống không. Hệ thống sẽ định vị thuê bao bằng một bản tin quảng báo paging mà bao gồm số điện thoại của trạm thuê bao. Kênh paging này là kênh logic mà có thể mang lưu lượng paging. Nói chung, bản tin paging có thể được truyền broadcast từ mỗi trạm gốc vô tuyến trong hệ thống. Một vài hệ thống cũng dùng kĩ thuật này để giảm yêu cầu chuyển cuộc gọi. Kĩ thuật này cần được đăng kí, tất cả các thuê bao liên lạc định kì đến trạm gốc vô tuyến gần nhất để khai báo sự có mặt. Trong trường hợp này, paging có thể bị hạn chế đến các trạm gốc vô tuyến trong hệ thống vô tuyến gần

39

đó với các di động đăng kí. Dùng đăng kí để xác định việc cân bằng lưu lượng paging và luuỷ lượng đăng kí. 10.4.3.3 Kênh truy cập Kênh truy cập được dùng khi trạm thuê bao cần để liên hệ đến hệ thống để khởi tạo một kết nối, tương ứng một trang, hay khởi tạo một vài vấn đề khác, như là đăng kí. Điển hình, nhiều trạm thuê bao phải chia sẻ một kênh truy cập tỏng vùng dịch vụ kết hợp với một trạm gốc vô tuyến. Với lý do này, kênh truy cập thường thực thi một vài nguyên tắc truy cập ngẫu nhiên, như là ALOHA để điều khiển truy cập. 10.4.3.4 Kênh điều khiển cuộc gọi Có nhiều vấn đề có thể được hỗ trợ trong khi một cuộc gọi đang thực hiện để đảm bảo dịch vụ được tiếp tục. Các vấn đề này diễn ra trên kênh điều khiển cuộc gọi, mà mang trên cùng kênh vật lý tín hiệu thoại. Vấn đề này xảy ra trong một cuộc gọi bao gồm:  Bản tin điều khiển công suất mà trạm gốc vô tuyến gửi đến trạm thuê bao để điều khiển công suất truyền dẫn trạm thuê bao.  Bản tin chuyển giao là lệnh mà trạm thuê bao để thay đổi các kênh bởi vì hệ thống đang thay đổi kênh dùng bởi cuộc gọi đến một kênh khác trong cùng một trạm gốc vô tuyến, hay đến một kênh khác trong ở một trạm gốc vô tuyến khác.
 Các bản tin Measurement command và thông tin mà điều khiển đo đạc xử

lý xảy ra trong trạm thuê bao để lấy lại thông tin về môi trường vô tuyến và truyền dẫn thông tin đo đạc trở lại trạm gốc vô tuyến.
 Thông tin khác có thể được truyền dẫn giữa trạm thuê bao và trạm gốc vô

tuyến trong suốt một cuộc gọi, như là thông tin hiển thị trạm thuê bao, hay bản tin dịch vụ khẩn cấp như nhu hook flash báo hiệu DTMF. 10.5 Các tiêu chuẩn hệ thống di động Các hệ thống di động ở Bắc Mỹ hoạt động ở khoảng tần số 50 MHz trong dải tần 824-849 MHz và 869-894 MHz như trong hình 10.2. Cho đến gần đây, tất cả các hệ thống đều dựa trên công nghệ AMPS, trong đó các cuộc gọi thoại được thực hiện trên một đôi dây hai chiều với các kênh tần số 30 Khz có độ bù cố định 45 Mhz. Băng tần cao được dùng cho đường truyền đi (dựa vào thuê bao), và băng tần thấp được dùng cho đường ngược lại.
40

Các tiêu chuẩn số mới ở Bắc Mỹ hoạt động ở cùng dải tần và phải cùng tồn tại với các hệ thống AMPS trước đây, nhưng giải quyết việc phân kênh theo một cách nào đó. Các hệ thống AMPS số sử dụng cùng dải sóng mang giống như của AMPS, nhưng nó chia mỗi sóng mang cho từ 3 đến 6 kênh thoại nhờ sử dụng lược đồ TDMA. Do đó các kênh AMPS và D-AMPS có thể đặt rải rác trong cùng một hệ thống do đó dịch vụ có thể dễ dàng được cung cấp cho các điện thoại di động AMPS và các điện thoại di động mới hai chế độ AMPS/D-AMPS. Phương pháp CDMA thì hơi khác: mặc dù sự phân kênh 1.25 MHz được sử dụng, nhưng nhiều người dùng vẫn có thể dùng các kênh 1.25 MHz này ngay lập tức mà không gây ngắt liên kết của nhau. Các hệ thống triển khai CDMA do đó sẽ phải dành trước một phần băng tần để phục vụ các di dộng AMPS hiện tại và xóa các phần còn lại trong băng tần 1.25 MHz để CDMA hoạt động. Tổn hao lúc đầu trong dung lượng kênh AMPS là phần bù do dung lượng cao của phương pháp truy nhập CDMA. 10.5.1 Các tiêu chuẩn thoại tương tự Tiêu chuẩn AMPS trong 3 tài liệu(12-14) được đưa ra bởi TIA: • EIA/TIA 553 (IS 3): Tiêu chuẩn tương thích Trạm gốc- Trạm di động tế bào tương tự • TIA IS-19: Chi tiết kỹ thuật hiệu suất nhỏ nhất các trạm di động tế bào tương tự • TIA IS-20: Chi tiết kỹ thuật hiệu suất nhỏ nhất các trạm gốc tế bào tương tự Tài liệu đầu tiên định nghĩa về giao diện vô tuyến. Hai tài liệu còn lại sẽ trình bày các tiêu chuẩn hiệu suất nhỏ nhất cho các trạm thuê bao và các trạm vô tuyến gốc. AMPS sử dụng công nghệ FM tương tự thông thường để truyền tín hiệu thoại qua giao diện vô tuyến. Việc báo hiệu cho việc thiết lập và điều khiển cuộc gọi đạt được nhờ sự kết hợp giữa các kênh báo hiệu chuyên dùng và báo hiệu trong băng. Dạng sóng báo hiệu sử dụng khóa dịch tần thông thường và các kỹ thuật mã hóa đơn giản để tăng sức mạnh truyền dẫn.

41

Mã màu trong hệ thống AMPS bao gồm 3 tín hiệu chuông tần số 5970 Hz, 6000Hz, và 6030 Hz, được gọi là các tín hiệu chuông giám sát (SAT). được chèn vào tín hiệu băng tần thoại trước khi điều chế tần số. Bởi vì tín hiệu thoại bị hạn chế trong băng tần 300-3000 Hz, các tín hiệu SAT nằm ngoài băng tần thoại và không gây nhiễu với tín hiệu thoại. Còn có một tín hiệu báo hiệu tại tần số 10 KHz được sử dụng để truyền một số thông tin xác nhận đơn giản. Báo hiệu trong AMPS đạt được nhờ kết hợp các kênh báo hiệu chuyên dùng và một kỹ thuật báo hiệu trong băng được gọi là blank and burst. Hệ thống thông báo các kênh bản tin, kênh nhắn tin, và kênh truy nhập bằng cách sử dụng các kênh báo hiệu chuyên dụng. EIA/TIA 533 chỉ rõ có 42 kênh trong tổng 832 kênh khả dụng phải được đặt trước để sử dụng cho các kênh báo hiệu. Các kênh này là các kênh 313-333 cho băng tần A, và từ 334-354 cho băng tần B. Còn có cách khác để nhận dạng các kênh đó là các kênh báo hiệu phụ. Báo hiệu trong băng blank and burst cho các kênh điều khiển cuộc gọi thực hiện được bằng cách tắt âm thoại trong kênh thoại (khoảng 600ms), và sau đó truyền bùng nổ dữ liệu. Đế tránh sự ngắt quãng có thể nhận thấy của tín hiệu thoại, việc sử dụng công nghệ này chỉ hạn chế với các bản tin ít khi được truyền, như là các bản tin kết hợp với chuyển giao và điều khiển năng lượng. Các loại bản tin khác, như là bản tin đo đạc trợ giúp cho việc chuyển giao di động, không thể dùng kiểu báo hiệu blank and burst và do đó không thích ứng được với hệ thống AMPS 10.5.2 Các tiêu chuẩn di động số : TDMA TIA đã phát triển một bộ các tiêu chuẩn được biết đến một cách không chính thức là D-AMPS, nhằm để cung cấp các dịch vụ thoại số với việc tăng đáng kế về phạm vi và chức năng, nhưng có thêm chức năng hai chế độ (dual-mode). Các tài liệu này có các phiên bản IS-54, IS-55 và IS-56 với phạm vi lần lượt tương ứng với EIA/TIA 553, IS-19, và IS-20. Còn có một tiêu chuẩn riêng cho bộ mã hóa tín hiệu thoại được gọi là IS-85. Do các dịch vụ số mới được cung cấp trong cùng băng tần với các dịch vụ tương tự AMPS, và khách hàng AMPS hiện tại phải được phục vụ cho đến khi có các trạm thuê bao AMPS, tiêu chuẩn mới phải là một tiêu chuẩn 2 chế độ. Tức là các trạm thuê bao có khả năng hoạt động giống như

42

các trạm thuê bao AMPS hay là các trạm thuê bao số dưới sự điểu khiển của hệ thống. Cấu trúc kênh số TDMA hoạt động được bằng cách truyền một tín hiệu số với tốc độ 48.6 kbps trong cùng băng thông 30 KHz được sử dụng bởi hệ thống AMPS. Luồng tín hiệu số này được chia thành 6 khe thời gian TDMA với độ dài khung bằng 40 ms. Trong IS-54, 2 trong các khe thời gian được dùng cho kênh thoại, tổng cộng chúng ta được 3 kênh thoại. Một tiêu chuẩn nửa tốc độ mới, đang được phát triển trong thời điểm bài viết này, sẽ sử dụng cả 6 khe thời gian cho các kênh thoại riêng rẽ bằng cách sử dụng bộ mã hóa thoại tốc độ thấp hơn. Cấu trúc khe thời gian cho đường đi (từ trạm vô tuyến gốc đến trạm thuê bao) và đường ngược lại được chỉ ra lần lượt như trong hình 10.4a và 10.4b. Mỗi khe thời gian có độ dài 324 bit, hay 6.667 ms. Chiều dài của từng khe được cho trên mỗi khe, bằng đơn vị bit. Tiêu chuẩn hai chế độ AMPS/TDMA sử dụng kênh báo hiệu AMPS, với một bản tin được nâng cấp để hỗ trợ hoạt động hai chế độ. Sự cung cấp này là cần thiết, bởi vì các nhà cung cấp dịch vụ di động phải tiếp tục cung cấp dịch vụ cho các trạm thuê bao AMPS, và thêm các kênh chuyên dùng chỉ cho điều khiển số sẽ lãng phí các kênh mà có thể được dùng để truyền lưu lượng thoại. Lưu lượng báo hiệu trong băng được truyền trên 2 kênh logic thường được gọi là kênh điều khiển kết hợp nhanh (FACCH: Fast Associated Control Channel) và kênh điều khiển kết hợp chậm (SACCH). Kênh FACCH được tạo ra bằng cách lấy các khung tín hiệu thoại theo yêu cầu, để truyền thông tin báo hiệu ưu tiên cao. IS-54 sử dụng một bộ mã hóa tín hiệu thoại 8-kbps, với phần mào đầu sửa lỗi, yêu cầu tốc độ 13 kbps. Mỗi khung tín hiệu thoại lấy được tương đương 20 ms, hay 160 bit dữ liệu thoại, hay là 260 bit dữ liệu đã được mã hóa. Đối với kênh FACCH, 260 bit được bảo vệ với tỉ lệ 1/4 là mã xoắn, kết quả là có tổng số 65 bit thông tin ứng với mỗi khung tín hiệu thoại lấy được. Kỹ thuật này khác với phương pháp blank and burst dùng trong AMPS, bởi vì nó có thời gian trống dữ liệu lớn hơn, và do bộ giải mã tín hiệu thoại biết được dữ liệu thoại đang trống nên nó có thể tự động thêm vào dữ liệu từ các khung liền kề, vì thế nên người dùng không thể nhận thấy được dữ liệu bị trống (khi mà các khung tín hiệu thoại không bị lấy quá thường xuyên)

43

G

R

DATA SYNC

DATA

SACCH

CDVCC

DATA

(a)

SYNC

SACCH

DATA

CDVCC (b)

DATA

RSVD

G = Guard time (Thời gian bảo vệ) R = Power ramp-up SYNC = Synchoronization and training bits (Các bit hướng dẫn và đồng bộ hóa) RSVD = Reserved bits (bit đặt trước, tất cả phải được thiết lập bằng 0) DATA = Speech or FACCH (Thoại hoặc kênh điều khiển kết hợp nhanh)

Hình 10.4 : (a) Cấu trúc khe thời gian kênh hướng về IS-54 (b) Cấu trúc khung kênh hướng đi IS-54

Kênh điều khiển kết hợp chậm được tạo ra bằng cách sử dụng 12 bit trong mỗi khe thời gian để truyền thông tin báo hiệu, để đạt được tốc độ bit tổng cộng là 600 bit/s. Kênh SACCH được bảo vệ với tỉ lệ 1/2 là mã xoắn, kết quả là trong giao thức, thông lượng thông tin là 300 bit/s.

44

Một đặc tính quan trọng của IS-54, có thể thực hiện được bằng cách sử dụng SACCH và FACCH và không có trong các trạm thuê bao chỉ sử dụng AMPS, được gọi là chuyển giao trợ giúp di động. Với kỹ thuật này, MSC sử dụng các dữ liệu đo đạc thu được từ các trạm thuê bao để quyết định xem khi nào một chuyển giao là cần thiết, và thực hiện chuyển giao đó ở đâu. Bởi vì IS-54 sử dụng TDMA, có ít nhất một khe thời gian mà trong đó, trạm thuê bao không phát mà cũng không nhận, và do đó có thể điều chỉnh thành một kênh khác và đo cường độ tín hiệu nhận được. Trạm thuê bao có thể lưu trữ số liệu đo đạc từ 12 kênh, ngoại trừ từ kênh lưu lượng gán trước của nó, được chỉ ra bởi MSC qua kênh SACCH hoặc FACCH, cộng thêm cường độ tín hiệu và tỉ lệ lỗi bit, trên kênh lưu lượng gán trước của nó. Những giá trị này có thể được báo cáo lại trạm gốc vô tuyến và tới MSC theo yêu cầu. Hệ thống do đó có một lượng lớn thông tin về môi trương vô tuyến được thu thập nhờ các trạm thuê bao, nhờ đó có thể trợ giúp đưa ra các quyết định nhanh hơn và có chất lượng hơn về việc chuyển giao. IS-54 sử dụng các mã màu thay vì các tín hiệu chuông SAT được dùng trong AMPS. Những mã này được gọi là các mã màu kiểm tra số (DVCC: Digital Verification Color Codes), hay gọi theo dạng mã hóa của chúng là các mã màu kiểm tra số được mã hóa (CDVCC: Coded DVCC). Mã màu là một giá trị gồm 8 bit được truyền trong từng khe thời gian, sau khi mã hóa với mã Hamming rút ngắn (12,8). 10.5.3 Các tiêu chuẩn di động số : CDMA Ngoài các tiêu chuẩn di động số TDMA được trình bày trong các tài liệu của TIA là IS-54, IS-55, IS-56, TIA đã cam đoan sẽ chuẩn hóa một công nghệ truy nhập rất khác so với TDMA được gọi là Đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA). Tiêu chuẩn này được trình bày trong một loạt tài liệu tương tự nhau, IS95, IS-96, IS-97. Trong thời điểm bài viết này, phiên bản đầu tiên của IS-95 đã được ban hành. Các tài liệu IS-96 và IS-97 có kết hợp thêm các yêu cầu về hiệu suất nhỏ nhất cũng đã sẵn sàng để thông qua vào một lúc nào đó trong năm 1994. Các tiêu chuẩn hai chế độ này cũng giống như các tiêu chuẩn IS-54, IS-55 và IS56, tuy nhiên cách hoạt động thì có phần hơi khác.

45

Thay vì chia khoảng tần số hay thời gian khả dụng thành các đoạn riêng rẽ như các hệ thống TDMA và FDMA, trong hệ thống CDMA, các thuê bao có thể đồng thời cùng chiếm một băng thông tại cùng thời điểm. Mỗi người sử dụng trong một khu vực hoạt động được gán một chữ ký số duy nhất để giúp bộ thu có thể phân loại được đúng thuê bao mong muốn từ các tín hiệu khác trong cùng băng thông. Trong các hệ thống được trình bày trong IS-95, dãy chữ ký số này được tăng cường thêm các mã sữa lỗi và một số đặc tính mới giúp làm giảm ảnh hưởng của nhiễu do các chia sẻ dải phổ này gây ra. Các đặc tính này bao gồm điều khiển năng lượng liên kết hướng ngược lại có độ chính xác cao, dò tín hiệu thoại để làm giảm tốc độ bit của bộ mã hóa tín hiệu thoại trong những khoảng câm, và chuyển giao mềm, một kỹ thuật để chuyển các cuộc gọi từ một trạm gốc vô tuyến tới một trạm khác. Hệ thống IS-95 triển khai việc phân kênh tần số 1.25 MHz. Tốc độ dữ liệu đỉnh của người dùng là 9600 bps, tốc độ này có thể được tăng xấp xỉ đến 1.25 Mbps nhờ sự kết hợp mã hóa sửa lỗi và các kỹ thuật mã hóa khác để đảm bảo hoạt động tin cậy. Người dùng cũng có thể hoạt động tại các tốc độ dữ liệu thấp hơn. Bộ mã hóa tín hiệu thoại hoạt động tại tần số 1200, 2400 và 4800 bps, cũng tốt như khi ở tốc độ 9600 bps. Khi người nói im lặng, bộ mã hóa tín hiệu thoại chuyển về tốc độ 1200 bps. Khi người nói tiếp tục, bộ mã hóa lại hoạt động bình thường tại tốc độ 9600 bps.. Các tốc độ trung gian khác hầu như chỉ là các trạng thái chuyển giao giữa trạng thái hoạt động và im lặng. Kết quả là, đối với những người dùng thông thường mà có thời gian im lặng chiếm tới hơn 50% thời gian đàm thoại, thì độ nhiễu trung bình mà một người dùng gây ra đối với những người dùng khác trên cùng trạm vô tuyến gốc và xung quanh có thể được giảm ít nhất 50%. Ngoài các kênh thoại, hệ thống CDMA IS-95 cũng có các chức năng báo hiệu giống như trong các hệ thống AMPS và IS-54, và một số chức năng riêng biệt dành riêng cho hệ thống CDMA. Trên kênh hướng đi, 1 kênh dẫn và 1 kênh đồng bộ sẽ tiến hành định thời và đồng bộ cho trạm thuê bao. Có thể có tới 7 kênh truyền tin cùng hoạt động trên một kênh hướng đi tại một trạm vô tuyến gốc cho trước. Các kênh truyền tin này có thể mang cả kênh bản tin mào đầu hệ thống và thông tin kênh truyền tin, và hoạt động tại tốc 4800 hoặc 9600 bps. Các kênh này hỗ trợ các chức năng kênh truy nhập như được mô tả trước đây.
46

Các kênh báo hiệu trong băng cho kênh điều khiển cuộc gọi có thể được mang sử dụng sự thay đổi về khái niệm kênh điều khiển kết hợp nhanh. Thay vì lấy cả khung tín hiệu thoại cho thông tin báo hiệu. IS-95 sử dụng phương pháp dim and burst để phát huy khả năng đa tốc độ của bộ mã hóa tín hiệu thoại. Phương pháp này cho phép sử dụng một số phần hoặc tất cả khung tín hiệu thoại để truyền thông tin báo hiệu. Do đó, bất kỳ từ 88 đến 168 bit của thông tin báo hiệu có thể được truyền trong một khung tín hiệu thoại 20ms. Trên kênh hướng đi là một kênh báo hiệu trong băng được gọi là kênh phụ điều khiển năng lượng để truyền thông tin điều khiển năng lượng tới trạm thuê bao với tốc độ 800 bps. Kênh này có thể được dùng cho trạm vô tuyến gốc để điểu khiển khá chính xác năng lượng được truyền của trạm thuê bao, do đó giảm thiểu mức độ xuyên nhiễu trong hệ thống, và mức độ tiêu thụ năng lượng của trạm thuê bao. 10.6 Quản lý tính di động trong các hệ thống tế bào Để hỗ trợ cho triển vọng tiến đến dịch vụ điện thoại sẵn có cho các trạm thuê bao độc lập với vị trí của chúng, các hệ thống tế bào đưa ra 1 vấn đề nhiều khía cạnh đó là quản lý tính di động. Lược đồ này bao gồm tất cả các mặt của vấn đề định vị và theo dõi các trạm thuê bao khi chúng di chuyển trong khu vực dịch vụ chủ của chúng, hoặc bên ngoài nơi mà chúng có thể thăm và mong muốn thu được dịch vụ. Trước khi chúng ta thảo luận về các mặt khác nhau của quản lý tính di động trong các hệ thống tế bào, chúng ta cần một mô hình mạng tổng quát hơn như đã chỉ ra trong hình 10.3 bởi vì các phần tử mạng thêm vào đòi hỏi quản lý tính di động. Mô hình tham chiếu mạng được thông qua bởi Hội liên hiệp công nghiệp viễn thông được mô tả trong hình 10.5, với một vài thay đổi không đáng kể trong thuật ngữ. Ngoài ra, để hiểu về hoạt động của tính di động chúng ta cần định rõ 3 thông số được lưa trữ trong trạm thuê bao và đưa cho nó một nhận dạng duy nhất.

G

47

VLR

VLR

B Um
SS RBS

D
MSC

A

C Ai

H
HLR AC

E MSC

Di

F

PSTN

ISDN

EIR

Hình 10.5 Mô hình tham chiếu mạng tế bào TIA Đó là : • Nhận dạng hệ thống chủ (SID) : 15 bit chỉ thị nhận dạng hệ thống được thiết lập cho SID của hệ thống chủ của trạm thuê bao. FCC đã xác định một thiết lập của các khu vực chủ địa lý tế bào (CGSAs), và 2 hệ thống tế bào tiềm năng cung cấp dịch vụ trong mỗi CGSA. Mỗi CGSA trong các hệ thống này có một SID duy nhất.SID của hệ thống trong trạm thuê bao thuê dịch vụ gọi là Home SID. • Số nhận dạng di động (MIN) : 10 digit số danh bạ của mỗi trạm thuê bao được mã hóa thành giá trị 34 bit được gọi là MIN. • Số thứ tự điện tử (ESN) : 32 bit giá trị để nhận dạng duy nhất trạm thuê bao.Số này bao gồm 8 bit mã hãng sản xuất, 18 bit số thứ tự, và 6 bit dự trữ. Các phần tử mạng chỉ ra trong mô hình này là : • Trạm thuê bao (SS) • Trạm gốc vô tuyến (RBS) • Trung tâm chuyển mạch di động (MSC) • Mạng điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN) và mạng số dịch vụ tích hợp (ISDN).Có các mạng bên ngoài sẽ được nối với MSC. • Bộ ghi định vị chủ (HLR) : Đây là cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin về mỗi thuê bao được gán để dùng cho các khu vực kết hợp với MSC đã được cung cấp bởi HLR.Thông tin trong cơ sở dữ liệu bao gồm MIN, ESN, vị trí hiện tại, hiện trạng dịch vụ và thông tin kết hợp với nhận thực người dùng.HLR có thể là một phần không thể thiếu của MSC,hoặc nó có thể là một thực thể riêng biệt theo quy luật tự nhiên cung cấp các dịch vụ HLR cho một hoặc nhiều MSC. • Bộ ghi định vị khách (VLR) : Cơ sơ dữ liệu này tương tự HLR, ngoại trừ việc nó giữ thông tin tạm thời về các thuê bao đang hoạt động.Đăng kí này có thể chỉ bao gồm các trạm thuê bao hiện tại thăm hệ thống từ

48

các hệ thống khác, hoặc nó có thể giữ thông tin về tất cả các trạm thuê bao đang hoạt động trong hệ thống.Giống như HLR, VLR có thể là một phần không thể thiếu của MSC, hoặc có thể là một thực thể riêng biệt dùng cho một hoặc nhiều MSC. • Trung tâm nhận thực (AC) : Thủ tục để chắc chắn rằng các trạm thuê bao yêu cầu dịch vụ là các thuê bao hợp pháp được nhắc đến trong nhận thực.AC quản lý thủ tục này, gồm cả tổng đài của các khóa mật mã.Thêm nữa, AC có thể hoặc không là một phần không thể thiếu của MSC. • Bộ ghi nhận dạng thiết bị (EIR): Cơ sở dữ liệu này lưu trữ thông tin nhận dạng các trạm thuê bao, cho nhận thực và các mục đích khác.EIR có thể hoặc không là một phần không thể thiếu của MSC. 10.6.1 Nhắn tin, truy cập, và lựa chọn kênh tín hiệu Khi một trạm thuê bao được trang bị máy móc lần đầu tiên, nó thực hiện một quá trình để quyết định trạm gốc vô tuyến sẽ cung cấp cho nó dịch vụ tốt nhất, và thu được thông tin khác đã yêu cầu để vận hành một cách thích hợp trên hệ thống đối với các trạm gốc vô tuyến thuộc về nó.Trạm thuê bao bắt đầu bằng cách quyết định tình trạng hệ thống ưu tiên của nó, là thông tin được lưu trữ trong trạm thuê bao.Trạm thuê bao sau đó đo năng lượng trên 21 kênh điều khiển chuyên dụng thuộc về hệ thống ưu tiên của nó (313-333 cho hệ thống A, 334-354 cho hệ thống B), và chọn kênh có năng lượng mạnh nhất.Sau đó nó cố gắng để nhận bản tin mào đầu tham số hệ thống trên kênh này.Nếu nó không thể nhận bản tin mào đầu hệ thống trên bất cứ kênh nào , nó có thể thay đổi hệ thống đang dùng và thử lại. Cùng với các kênh điều khiển chuyên dụng, còn có các chức năng truy cập và nhắn tin riêng biệt, nó có thể được gán vào cùng các kênh theo qui luật tự nhiên như các kênh điều khiển chuyên dụng, hoặc có thể được gán vào các kênh riêng biệt theo quy luật tự nhiên.Vì tất cả các kênh, gồm cả các kênh điều khiển, đều là các cặp song công, nếu các kênh riêng biệt được gán chức năng nhắn tin và chức năng truy cập, chúng sẽ là các cặp song công của các kênh mà mang tất cả lưu lượng, trên cả các kết nối gốc đến thuê bao và thuê bao đến gốc, kết hợp các chức năng nhắn tin và truy cập, theo thứ tự định sẵn. Như một phần của bản tin mào đầu tham số hệ thống, trạm thuê bao nhận thông tin mà cho phép nó quyết định kênh nào được dùng để nhắn tin và truy cập. Trạm thuê bao phải tiến hành quét từ đầu đến cuối thiết lập của các kênh nhắn tin và chọn kênh mạnh nhất. Kênh nhắn tin này sau đó tiếp tục được giám sát, miễn là trạm thuê bao không ở trạng thái nhàn rỗi. 10.6.2. Truy nhập hệ thống ( System access)

49

Ngay khi 1 trạm thuê bao được vận hành và hoàn tất 1 khởi tạo thường trình nào đó, nó phải truy nhập vào hệ thống để tạo 1 cuộc gọi, hay đơn giản là chờ đợi 1 cuộc gọi đến. Nếu thuê bao lựa chọn khởi tạo 1 cuộc gọi, hoặc là thuê bao cần phúc đáp 1 bản tin, trạm thuê bao sẽ thực hiện chức năng truy nhập hệ thống,như sau.Trước hết, trạm thuê bao sẽ kiểm tra tất cả các kênh truy nhập và lựa chọn 1 kênh tốt. Sau đó nó thử chiếm dụng kết nối thuê bao- trạm gốc trong kênh truy nhập trong suốt 1 chức năng truy nhập ngẫu nhiên, ngay khi kết nối bị chiếm dụng, trạm thuê bao truyền dẫn những bản tin của nó. Nếu việc truy nhập hệ thống là cho việc thiết lập cuộc gọi hay cho 1 bản tin đáp ứng, trạm thuê bao tiếp theo sẽ đợi các bản tin tiếp theo để chỉ định 1 kênh thoại, sau đó điều chỉnh kênh thoại đã được chỉ định. Các trạm gốc được vận hành để chỉ định các kênh thoại và để bắt đầu truyền dẫn các tín hiệu thoại giám sát âm thanh (SAT) trên các kênh vào cùng 1 thời điểm như là truyền dẫn các bản tin chỉ định kênh thoại. Khi các trạm thuê bao điều chỉnh việc chỉ định kênh thoại, nó bắt đầu tách các tín hiệu SAT.Việc truyền dẫn này đáp ứng xác nhận việc trạm thuê bao đã nhận được bản tin chỉ định kênh thoại của nó và điều chỉnh thành công kênh chỉ định đến trạm gốc. Hơn nữa tín hiệu cần thiết điều khiển cuộc gọi xuất hiện trên kênh điều khiển cuộc gọi, kênh này được gắn với kênh thoại đã chỉ định. Nếu truy nhập là 1 thiết lập cuộc gọi, trạm thuê bao sẽ đặt vào chế độ thoại ngay lập tức trong việc điều chỉnh kênh thoại. Nếu truy nhập là 1 bản tin đáp ứng, trạm thuê bao sẽ được chỉ thị báo hiệu cho người dùng (đổ chuông) ,và đợi cho đến khi người dùng trả lời, vào thời điểm đó, trạm thuê bao đặt vào chế độ hội thoại.Chuỗi tín hiệu cho truy nhập hệ thống trường hợp thiết lập cuộc gọi biểu diễn ở hình 10.6. 10.6.3.Paging Paging là 1 thủ tục xuyên suốt, trong thủ tục này, cuộc gọi của trạm thuê bao được định vị bởi MSC khi mà cuộc gọi quay số trong danh bạ của thuê bao. Một dạng đơn giản nhất của nó, bản tin được thực hiện như sau. Khi 1 cuộc gọi đến tại MSC, MSC gửi 1 bản tin yêu cầu tới tất cả các trạm gốc vô tuyến trong vùng phục vụ tế bào. Một trong những trạm gốc vô tuyến đó, lần lượt, phát những bản tin yêu cầu trong kênh paging của nó. Tất cả các trạm thuê bao được cấp nguồn mà không bị chiếm bởi 1 cuộc gọi nào đó phải được giám sát liên tục kênh paging cho các bản tin page. Khi nhận được 1 bản tin page ,trạm thuê bao sẽ thử cho phù hợp với gói MIN (số thuê bao mã hóa) trong bản tin page tới MIN đã lập trình của nó. Nếu các MIN không phù hợp, bản tin page bị bỏ qua. Nếu MIN phù hợp, thuê bao sẽ thử phúc đáp với bản tin phúc đáp page tới trạm gốc rằng đã phát bản tin page.

50

Khi trạm gốc vô tuyến nhận được bản tin đáp ứng, nó gửi lại một bản tin đáp ứng tới MSC, khi MSC nhận được bản tin này, nó phát đi 1 thiết lập tới trạm gốc vô tuyến mà các kết quả trong việc chỉ định kênh thoại và sự truyền dẫn tín hiệu SAT như là chuỗi bản tin thiết lập cuộc gọi ở thuê bao. Bước này xảy ra bởi báo hiệu (đổ chuông) và trả lời nếu người dùng chấp nhận trả lời báo hiệu, được chỉ ra ở hình 10.8. Trạm thuê bao sau đó chuyển sang chế độ đàm thoại, hơn nữa tín hiệu cần thiết cho điều khiển cuộc gọi xuất hiện trên kênh điều khiển cuộc gọi được gắn vào trong kênh thoại. Sự hoạt động của thủ tục page và phúc đáp page có giản đồ chỉ ra ở hình 10.7. Chuỗi tín hiệu paging được chỉ ra ở hình 10.8. Nếu máy di động ở ngoài vùng phủ sóng, hay vài lý do khác khiến việc phúc đáp page không thành công, sẽ không có phúc đáp tới page. Nếu sau 1 khoảng thời gian nhất định MSC không nhận được phúc đáp page, nó sẽ phúc đáp tới cuộc gọi thử trong vài kiểu phù hợp.Ví dụ, nó phải sử dụng 1 bản tin thoại tới người gọi là thuê bao không trả lời cuộc gọi, hoặc phải chuyển cuộc gọi đến một số landline khác hay chuyển tới hộp thư thoại. 10.6.4. Registration Với 1 hệ thống tế bào lớn, vấn đề đặt ra là dung lượng kênh paging, bởi vì mọi cuộc gọi đến có thể đưa đến 1 bản tin page được gửi bởi mọi trạm gốc vô tuyến trong hệ thống. Xem xét 1 mạng phục vụ cho 1 thủ đô lớn, với khoảng 300000 khách hàng. Mức lưu lượng vào giờ bận điển hình ở 1 mạng như vậy vào khoảng 0.025 Erlang trên 1 thuê bao, kết quả là lưu lượng giờ bận tổng cộng là 7500 Erlang. Thời gian đàm thoại (thời gian hiệu lực cuộc gọi) thông thường khoảng 100s, lưu lượng này dẫn đến có khoảng 270000 cuộc gọi thử trong suốt giờ bận. Nếu 1 nửa các cuộc gọi thử là các cuộc gọi đến, tổng cộng có 135000 cuộc gọi thử yêu cầu thủ tục page, hay 37,5 yêu cầu page trên 1 giây. Dung lượng tối đa của 1 kênh tín hiệu AMPS, nếu nó được dành để chỉ phát các bản tin paging, chỉ cỡ 24 pages trên 1 giây. Như vậy tải hệ thống có dung lượng cao hơn hệ thống paging. Điều đó là có thể trong 1 hệ thống lớn, viễn cảnh trên có lẽ tăng nhiều tải paging, bởi vì lưu lượng khách hàng có lẽ chỉ từ 0.01 đến 0.015 Erlang trên 1 thuê bao, và 1 phân số nhỏ hơn ½ của lưu lượng có thể được nhấc máy. Tuy nhiên, điều dễ hiểu là tải paging có thể trở nên thừa nếu tất cả cuộc gọi đến dẫn đến một bản tin page được phát bởi 1 phần tử trong hệ thống. Trong vài trường hợp, quản trị mạng lựa chọn giải pháp sử dụng 1 tập hợp kênh chuyên truyền lưu lượng paging, vì thế mỗi trạm gốc vô tuyến có 1 cặp kênh song công để phục vụ cho bản tin page và phúc đáp page, và 1 tập hợp kênh tách rời cho lưu lượng truy cập hệ thống.Việc
51

điều chỉnh này có thể gây rắc rối, tuy nhiên, vì mặt khác nó sử dụng các kênh sẵn có cho lưu lượng thoại. Một giải pháp khác để điều khiển lưu lượng paging là yêu cầu các trạm thuê bao đăng ký sự có mặt của chúng với hệ thống. Mẫu đăng ký đơn giản nhất cho thuê bao đó là đăng ký với hệ thống khi nào thì thuê bao bật/tắt máy. Với giải pháp này MSC biết được trạm thuê bao nào đang bật máy và sẵn sàng nhận cuộc gọi, vì vậy thủ tục page chỉ tiến hành với các thuê bao đăng ký đang bật máy. Hơn nữa, vì thuê bao gửi bản tin đăng ký tới 1 trạm gốc cụ thể, MSC biết được thuê bao sẽ bật máy ở đâu. Nếu sau đó MSC yêu cầu page cho thuê bao, nó chỉ phải gửi qua nhóm trạm gốc mà thuê bao đăng ký, lưu lượng paging có thể giảm xuống đáng kể. Sự cải thiện trong lưu lượng paging bù đắp bằng 1 lượng nhỏ lưu lượng gia tăng sự kết hợp kênh lưu lượng với đăng ký bật/tắt máy. Đăng ký bật máy không phải đặc tính của 1 AMPS thông thường, vì thế nó không phù hợp với 1 lượng lớn APMS đã được xây dựng ngày nay. Đăng ký bật/tắt máy là đặc tính của IS-54 TDMA và IS-95 CDMA. Sự tiếp cận tin cậy đơn giản chỉ với đăng ký bật/tắt máy có phần bất lợi nếu thuê bao di chuyển 1 khoảng cách lớn sau khi bật máy, thuê bao có thể chuyển tới vùng đăng ký đầu tiên và vì thế nó sẽ không nhận được yêu cầu page. Sự hạn chế này có thể được khắc phục bắng paging 2 cấp. Tuy nhiên thủ tục này làm gia tăng thời gian thiết lập cuộc gọi cũng như lưu lượng paging. Nếu phần lớn khách hàng là các trạm di động cao, thì giải pháp sẽ không giúp nhiều cho lưu lượng paging có liên quan tới phương pháp paging phạm vi rộng. Quy trình đăng ký cũng có thể được mở rộng thành đăng ký định kỳ bởi trạm thuê bao, vì vậy với 1 trạm thuê bao di chuyển quanh hệ thống, MSC có thể cập nhật vị trí của thuê bao và điều khiển các yêu cầu page 1 cách phù hợp. Phương pháp này có thể giúp cho giới hạn lưu lượng paging tới vùng mà các thuê bao có khả năng được tìm thấy. Tuy nhiên nếu thuê bao không di chuyển, việc đăng ký định kỳ sẽ cung cấp những thông tin thừa tới MSC và tải kênh truy nhập không cần thiết. Hệ thống điện thoại số thông thường AMPS và TDMA cũng khả năng cung cấp đăng ký cả tự động và lệnh từ hệ thống. 10.6.5 Những vùng định vị Một dạng chung hơn của sự đăng kí cần chú ý giám sát các trạm thuê bao di động khi định ra giới hạn lưu lượng kênh truy nhập cho sự di chuyển chậm hoặc các trạm thuê bao cố định bao gồm vùng định vị. Một vùng định vị được bao phủ bởi một nhóm của một hoặc nhiều các trạm cơ sở vô tuyến mà nhà điều hành đã xác định như một vùng nơi mà các nhà khai thác xem xét tất cả các trạm thuê bao trong một vùng tìm gọi chung.

52

Nhà khai thác chia cắt dịch vụ thành một tập hợp các vùng định vị không bị chồng lấp và gán một số tới mỗi vùng định vị. Mỗi trạm cơ sở vô tuyến bao gồm số của vùng định vị để nó vào trong chuỗi bản tin mào đầu rồi truyền đi. Khi một thuê bao tăng công suất, chọn cái tốt nhất điều khiển kênh, và đọc chuỗi bản tin mào đầu, nó sẽ chứa số của vùng định vị đến trạm cơ sở di động, sau đó gửi một bản tin đăng kí. Rồi sau đó, khi nó trong Node nhàn rỗi, nó đọc chuỗi bản tin mào đầu trên các bản tinhoặc kênh điều khiển chuyên dụng để điều chỉnh. Khi nó đọc vùng định vị sẽ nhận dạng sự khác nhau từ cái mà nó lưu trữ, nó gửi các bản tin đăng kí khác nhau để báo cho MSC biết nó sẽ di chuyển tới một vùng bản tin mới. Khi xác định kích thước thích hợp, nhà điều hành phải xem xét cả sự giảm bớt lưu lượng bản tin khi giảm bớt kích thước vùng định vị và giảm lưu lượng đăng kí. Trong mỗi trạm cơ sở vô tuyến có sự phân biệt vùng định vị, khi đó MSC cần gửi tin nhắn yêu cầu tới chỉ một trạm cơ sở vô tuyến hoàn thành cuộc gọi. Tuy nhiên, hành động này có kết quả trong đăng kí tạm tại mỗi trạm thuê bao mỗi lần nó di chuyển ra khỏi phạm vi của các trạm cơ sở vô tuyến. Ở tại cực trị khác, MSC gửi một bản tin yêu cầu tới mọi trạm cơ sở vô tuyến cho mỗi cuộc gọi đến. Giữa hai cực trị là một điểm tối ưu trong bản tin và kênh truy nhập. Điểm tối ưu này biến thiên theo kích thước của hệ thống. 10.6.6 Chuyển giao Như một trạm thuê bao di chuyển quanh một hệ thống tế bào, trạm cơ sở vô tuyến cung cấp dịch vụ tốt nhất sẽ thay đổi. Khi một trạm thuê bao nhàn rỗi và kiểm tra lưu lượng kênh bản tin, nó sẽ di chuyển ra ngoài dải của một trạm cơ sở vô tuyến, nó sẽ tìm kiếm một trạm cơ sở vô tuyến khác để cung cấp tín hiệu mạnh nhất, và tiếp tục kiểm tra lưu lượng bản tin trên kênh bản tin trên trạm cơ sở di động mới. Tuy nhiên, khi một cuộc gọi thiết lập một kĩ thuật phức tạp hơn qui định sự thay đổi trạm cơ sở vô tuyến là một trạm thuê bao truyền thông như khi nó đi ra từ trạm cơ sở phục vụ của nó và chất lượng cuộc gọi giảm đi bởi sự suy giảm tín hiệu và sự tăng nhiễu. Thay đổi đường truyền vô tuyến từ một trạm cơ sở vô tuyến này đến trạm khác gọi là chuyển giao. Lý tưởng, một trạm thuê bao luôn luôn truyền thông với trạm cơ sở vô tuyến được cung cấp tín hiệu tốt nhất, và chuyển giao từ một trạm cơ sở vô tuyến này tới trạm cơ sở vô tuyến khác khi hoàn thành cuộc gọi hiện tại. Tuy nhiên, nhiều trường hợp phải xác định liên quan đến trạm cơ sở nào là tốt nhất để cung cấp dịch vụ vào bất kì thời gian đã cho nào, và phối hợp chuyển giao đúng lúc để không phá vỡ cuộc gọi. Sự tiếp cận đơn giản nhất, và cái được sử dụng trong hệ thống tế bào AMPS để lựa chọn thích hợp kết nối cuộc gọi là để kiểm tra công suất tín hiệu thu trung bình tại trạm cơ sở vô tuyến khi đang thực hiện cuộc gọi. Để thực hiện chuyển giao, MSC cần cần phải biết trạm cơ sở có chất lượng tín hiệu tốt nhất cho
53

các trạm thuê bao. Nó gửi yêu cầu cho các trạm cơ sở vô tuyến có tiềm năng, nó là trạm cơ sở vô tuyến mà hệ thống thao tác đã được xác định trước đó là cùng loại của trạm cơ sở vô tuyến đang thực hiện gọi. Các trạm cơ sở vô tuyến có máy thu đo chuyên dụng sẽ đáp ứng các yêu cầu đo để điều chỉnh kênh cuộc mà cuộc gọi trong câu hỏi được sử dụng và đo công suất nguồn trung bình trên kênh đó. Phép đo được báo cáo sau tới MSC, rồi quyết định nếu có bất kì trạm cơ sở vô tuyến nào nhận được đầy đủ tín hiệu thu cao để cung cấp cho cuộc gọi. Sau đó MSC kiểm tra nếu nhìn thấy có những kênh nào sẵn sàng trong trạm cơ sở vô tuyến được chọn, thiết lập liên kết tới trạm cơ sở vô tuyến mới, nói cho trạm cơ sở vô tuyến mới để bật máy phát của nó cho kênh để thực hiện chuyển giao cuộc gọi, và gửi mức chuyển giao tới trạm thuê bao. Sau đó trạm thuê bao điều chỉnh kênh mới và cung cấp truyền thông với trạm cơ sở vô tuyến mới. Bản tin ngẫu nhiên cho thủ tục này thể hiện trong hình 10.9

Hình 10.9: Chuỗi bản tin cho chuyển giao trạm thuê bao Nhược điểm trong cách tiếp cận tập trung này để chuyển giao là một số lượng quan trọng của sự tiềm ẩn kéo theo trong tất cả các bước. Nó có thể như vậy
54

cho kênh vô tuyến làm xấu tín hiệu trước khi chuyển giao được chuẩn bị và thực hiện. Trong đặc trưng của hệ thống AMPS, một máy đo trong mỗi trạm cơ sở vô tuyến phải đo công suất trên tất cả cuộc gọi mà trong sự tiến bộ truyền đi bằng các trạm cơ sở vô tuyến, tương tự như danh sách các cuộc gọi được chuyển giao trong các ô lân cận. Trạm cơ sở vô tuyến cần vài giây để thông báo mà công suất thu trong cuộc gọi đã rơi dưới ngưỡng của chuyển giao, và vài giây nữa cho việc đo để hoàn thành bởi các trạm cơ sở vô tuyến trên danh sách cùng loại. Nếu cường độ tín hiệu giảm đi như vậy kết nối không còn đáng tin cậy trước khi chuyển giao chuẩn bị, nó sẽ không thực hiện được sự chuẩn bị chuyển giao tại tất cả. Sự thất bại xuất hiện bởi vì bản tin di chuyển được thông báo cho trạm thuê bao với kênh được sử dụng trên trạm cơ sở di động mới cần kết nối bị hỏng. Khi điểu này sảy ra cuộc gọi sẽ đột ngột bị rớt. Trong nhiều hoàn cảnh trễ chuyển giao từ 5 đến 10 giây không là vấn đề. Nếu một khối thuê bao tự động di chuyển trong địa hình mở, ví dụ như khi không có sự thay đổi đột ngột trong khối địa hình tín hiệu đột ngột, độ dài tín hiệu sẽ giảm nhiều hơn. Thông thường thời gian được rộng hơn để thu xếp chuyển giao. Không may trong nhiều hoàn cảnh, công suất tín hiệu có thể giảm xuống rất nhah chóng. Một ví dụ cổ điển là một trạm thuê bao trong một Automobile quay một góc trong khu vực cao nhất của thành phố. Độ dài tín hiệu có thể thay đổi rất nhanh chóng trong khi Automobile đang quay một góc. Sự mất tín hiệu này có thể xuất hiện trong một hoặc hai giây để không mất thời gian cho MSC dò tìm giải pháp và xắp xếp chuyển giao. Một giải pháp khác với sự tiếp cận này để chuyển giao là công suất tín hiệu máy thu không luôn luôn chỉ thị tốt chất lượng của đường truyền bởi vì hệ thống tế bào được thiết kế để thao tác trong mode giới hạn nhiễu. Cuộc gọi với mức công suất máy thu có thể vẫn còn bị suy giảm từ các cuộc gọi trong các trạm cơ sở vô tuyến khác. Phép đo này khả dụng trong hệ thống số, nơi mà máy thu có thể đo xác suất lỗi bit dễ dàng. 10.6.6.1 Chuyển giao được di động trợ giúp Nhiều khả năng với kế hoạch chuyển giao tập trung sử dụng trong hệ thống AMPS có thể làm giảm bớt bởi chuyển giao được di động trợ giúp. Sự giúp đỡ này có thể thực hiện được khi một trạm thuê bao có khả năng đo thành công của nguồn trên kênh khác. Trạm thuê bao AMPS không có khả năng này, cho các máy thu trạm thuê bao sẽ phải giành để thu kênh thoại trong suốt cuộc gọi. Các trạm thuê bao TDMA có thể sử dụng nhiều lần trong suốt khe thời gian mà không thể mang kênh thoại của trạm thuê bao để quay lại với kênh khác. IS-54 tương thích di động thì phải có khả năng làm chính xác. IS-54 qui định các trạm thuê bao có năng lực để tiếp tục đo công suất lên tới 12 kênh khác nhau.

55

Trong IS-54 bởi chuyển giao được di động trợ giúp, trạm cơ sở vô tuyến gửi một danh sách cùng loại tới các trạm thuê bao. Trạm thuê bao sau đó tích lũy lại công suất trung bình trong danh sách của kênh và gửi các giá trị cùng với công suất và tốc độ lỗi bit trong các kênh riêng của trạm thuê bao tới trạm cơ sở di động, được điều khiển từ các trạm cơ sở di động. Kĩ thuật này có thể được sử dụng để thay thế hoặc bổ sung công suất đo sử dụng tại các trạm cơ sở. Chúng có ưu điểm là sử dụng máy thu trạm thuê bao để tích lũy phép đo trước khi thông tin trở thành tới hạn. 10.6.6.2 Chuyển giao mềm Vào lúc các thay đổi khác nhau trên chuyển giao, biết như chuyển giao mềm sẽ được giới thiệu trong tiêu chuẩn tế bào số CDAM. Tên chuyển tới sự việc mà các trạm thuê bao trong miền truyền dẫn giữa các trạm cơ sở di động, nơi mà tín hiệu từ hai hoặc nhiều hơn các trạm cơ sở di động có công suất gần bằng nhau, có thể truyền dẫn với hai hoặc nhiều trạm cơ sở. Kĩ thuật này có thể được xem như một dạng của chuyển giao được di động trợ giúp, cho các trạm thuê bao CDMA IS-95 tiếp tục sử dụng số đo công suất trong danh sách của các trạm cơ sở vô tuyến bên cạnh, và quyết định có được hay không để yêu cầu chuyển giao mềm, và các trạm cơ sở vô tuyến sẽ truyền thông tin trong chuyển giao mềm. Vì những thuộc tính của sơ đồ tín hiệu CDMA bên ngoài phạm vi của bài thảo luận này, nó có thể xảy ra cho trạm thuê bao CDMA tới đồng thời các tín hiệu thu từ hai hoặc nhiều trạm cơ sở di động khác nhau mà khi phát cùng trên một luồng bit trên cùng một kênh. Nếu công suất tín hiệu từ hai hoặc ba trạm cơ sở di động gần như nhau, các trạm thuê bao phía thu có thể kết hợp các tín hiệu thu trong cùng một đường mà các luồng bit được giải mã xác thực hơn so với chỉ một trạm cơ sở vô tuyến truyền dẫn tới trạm thuê bao. Bởi vì có nhiều hơn một trạm cơ sở vô tuyến cung cấp tín hiệu tới trạm thuê bao, nếu chỉ một trạm sẽ làm giảm đáng kể, sẽ vẫn còn xác suất tương đối cao của việc sử dụng thích hợp cường độ tín hiệu từ một trạm cơ sở vô tuyến khác. Trên tuyến ngược lại, tất cả các trạm vô tuyến đều tích cực cung cấp cuộc gọi trong chuyển giao mềm gửi các luồng bit mà chúng nhận được trở lại tới MSC, cùng với một vài thông tin về chất lượng của các bit thu. MSC khảo sát chất lượng thông tin cho tất cả các luồng bit đó, và tích cực chọn luồng bit có chất lượng tốt nhất. Một lần nữa, nếu tín hiệu tới một trạm cơ sở vô tuyến bị giảm sút nhanh chóng, cơ hội vẫn còn tốt với tín hiệu mạnh sẽ sẵn sàng tại một trạm cơ sở vô tuyến khác cung cấp cho cuộc gọi trong chuyển giao mềm. Như kết quả của đa kết nối trong khi có chuyển giao, chất lượng tín hiệu bị giảm sút và cuộc gọi thường xuyên bị rớt liên quan đến chuyển giao trong hệ thống AMPS và hệ thống TDMA IS-95 sẽ đột ngột giảm xuống trong hệ thống CDMA.
56

10.6.7 Roaming Chúng ta đã mô tả kỹ thuật quản lý tính di động khi tính di động là tất cả bên trong một vùng dịch vụ địa lý được xác định rõ ràng và giới hạn, nó được quản lý bởi một nhà điều hành hệ thống đơn lẻ. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của công nghệ tế bào là khả năng phân phát dịch vụ đến thuê bao bất chấp vị trí. Cụ thể là, nó rất mong muốn có thể phân phát dịch vụ đến một thuê bao đang thăm một vùng dịch vụ bên ngoài vùng dịch vụ chủ của anh ấy hoặc cô ấy.Một thuê bao thuê dịch vụ ở Boston, ví dụ, và có một số danh bạ với mã vùng Boston và tổng đài Boston, có thể đến thành phố Rapid, Nam Dakota và nhận cùng dịch vụ mà anh ấy hay cô ấy nhận ở Boston. Một đơn vị thuê bao hoạt động bên ngoài vùng dịch vụ chủ của nó được gọi là roaming (chuyển vùng dịch vụ).Nói đúng ra, một trạm thuê bao Bắc Mỹ được gọi là roaming khi home SID được lập trình bên trong trạm thuê bao khác với SID của hệ thống đang cung cấp dịch vụ.Tình trạng này có thể xảy ra khi trạm thuê bao là một thuê bao ở hệ thống B trong một vùng địa lý đã được định sẵn, và nhận dịch vụ từ hệ thống A, cũng như trạm thuê bao hoạt động bên ngoài vùng dịch vụ chủ của nó.Một trạm thuê bao luôn biết khi nào nó là roaming vì SID luôn phát trên chuỗi bản tin mào đầu, và trạm thuê bao so sánh home SID đã được lập trình của nó với SID mà nó đọc trên chuỗi bản tin mào đầu.Các trạm thuê bao được trang bị một bộ chỉ báo, như là một cái đèn được bật lên khi trạm thuê bao roaming. Dạng đơn giản nhất của dịch vụ roaming cung cấp là dịch vụ cho các cuộc gọi mà được tạo ra bởi một trạm thuê bao roaming.Trong trường hợp này, khi một trạm thuê bao thực hiện một truy cập hệ thống để yêu cầu tạo ra một cuộc gọi, hệ thống sẽ nhận ra từ MIN trạm thuê bao được cung cấp trong bản tin gốc mà trạm thuê bao là thuê bao roaming, và cũng biết nhà điều hành hệ thống nào là nhà cung cấp dịch vụ chủ cho trạm thuê bao. Dựa trên thông tin này, MSC sẽ quyết định làm thế nào để xử lý yêu cầu của roamer cho dịch vụ. Nếu nhà điều hành hệ thống đã có một thỏa thuận thanh toán với nhà cung cấp dịch vụ chủ của roamer, MSC sẽ xử lý cuộc gọi một cách bình thường, và roamer sẽ thanh toán thông qua một thủ tục đã được thiết lập. Nếu nhà điều hành hệ thống không có sự thỏa thuận thích hợp với nhà cung cấp dịch vụ chủ của roamer, MSC có thể từ chối cuộc gọi bằng cách điều hướng lại một chỉ thị bận nhanh, hay phát một bản tin đã ghi lại, hay nó có thể kết nối trạm thuê bao với nhà điều hành, người sẽ giúp đưa ra các thỏa thuận thanh toán luân phiên bằng cách tạo ra một số thẻ tín dụng. Nó cũng rất mong muốn cho các trạm thuê bao roaming có thể nhận các cuộc gọi đến. Dịch vụ này yêu cầu nhiều thỏa thuận phức tạp. Cách đơn giản cho vấn đề là không yêu cầu cơ sở hạ tầng thêm vào hay các thỏa thuận giữa các nhà cung cấp dịch vụ, khác với các thỏa thuận thanh toán. Phương pháp này liên quan đến nhà
57

điều hành hệ thống đang cung cấp một số danh bạ roaming mà có thể bị gọi bởi bất kỳ ai đang mong muốn liên lạc với trạm thuê bao mà họ tin tưởng để roaming trong vùng dịch vụ của nhà điều hành hệ thống. Khi số này được liên lạc, nó sẽ cung cấp một âm quay số phụ, mà tại đó số danh bạ đầy đủ của thuê bao có thể đi vào. MSC sau đó sẽ đánh số trạm thuê bao và cố gắng thiết lập cuộc gọi. Nếu trạm thuê bao đích được mở điện, và có thiết lập trạng thái nhà cung cấp tốt hơn của nhà điều hành hệ thống đang nhắn tin, nó sẽ nhận được thông tin về số trang và một cuộc gọi sẽ được thiết lập. Loại thỏa thuận roaming này có thể thuận tiện cho nhà điều hành hệ thống trong việc tính số lượng dịch vụ hiệu quả đã được yêu cầu thiết lập, nhưng nó có một số hạn chế từ điểm nhìn của khách hàng. Đầu tiên là người tham gia cuộc gọi không biết số roaming của hệ thống tế bào ở nơi mà người được gọi đang roaming, thậm chí nếu chủ gọi biết nơi mà người bị gọi nhận được cuộc gọi vào. Kỹ thuật này có thể được hoàn thiện hơn bằng cách phát triển ưu điểm về các đặc trưng của cuộc gọi chuyển tiếp luôn sẵn có trong đặc trưng phần mềm tiêu chuẩn thiết lập như một phần của bất kỳ chuyển mạch số hiện đại nào. Khi một thuê bao roaming quyết định rằng anh ta muốn các cuộc gọi được quay số đến số danh bạ chủ của anh ta ,được phát đến trạm thuê bao của anh ta trong vùng dịch vụ roaming, thuê bao quay một mã đặc trưng dành riêng trên trạm thuê bao. Trạm thuê bao xem nó như một cuộc gọi gốc, và thực hiện truy cập hệ thống, vượt qua mã đặc trưng đến MSC như thể nó là một số danh bạ. Khi MSC nhận thấy mã đặc trưng cùng với MIN của thuê bao, nó hiểu bản tin này như một yêu cầu cho một dịch vụ phân phát cuộc gọi riêng biệt. Sau đó, MSC gửi một bản tin qua, một mạng đã được thiết lập cho mục đích này, đến MSC chủ của trạm thuê bao. Bản tin này yêu cầu MSC chủ chuyển tiếp tất cả các cuộc gọi đến số danh bạ chủ của trạm thuê bao và đến số danh bạ tạm thời riêng tại MSC khách. Khi một cuộc gọi đến số danh bạ tạm thời tại MSC khách, MSC thông dịch số này thành số danh bạ hiện tại của trạm thuê bao roaming, và đưa ra bản tin yêu cầu sử dụng MIN nhận được từ số danh bạ này. Khi kỹ thuật này được sử dụng, người gọi không cần biết về vị trí của thuê bao sẽ nhận cuộc gọi. Tuy nhiên, dịch vụ không hoàn toàn tự động, vì thuê bao vẫn phải thực hiện một vài thao tác để yêu cầu dịch vụ mà nó mong muốn hoặc không mong muốn. Thêm nữa, nó không hoàn toàn phổ biến, vì nó có thể là không mong muốn đối với thuê bao di chuyển giữa hai hoặc nhiều vùng dịch vụ, cần có một mạng tế bào để duy trì đường đi của thuê bao, và có thể phân phát cuộc gọi đến bất kỳ vị trí nào. Những mục tiêu này có thể được hoàn thành sử dụng các chức năng của HLR và VLR đã biểu diễn trong mô hình tham chiếu mạng TIA của hình 10.5. Để chỉ ra cấu trúc này có thể cung cấp các đặc trưng mang tính di động được tăng cường như thế nào, coi hành động đăng ký như một thuê bao di động

58

roaming. MSC trong vùng dịch vụ có thể quan tâm đến sự có mặt của một trạm thuê bao roaming bằng nhiều cách khác nhau. Nếu VLR không có bản ghi của trạm thuê bao mà là đối tượng của thông báo đăng ký, VLR sẽ chuyển thông báo đăng ký đến HLR đang phục vụ MSC chủ của trạm thuê bao. Thông báo này cho HLR biết rằng trạm thuê bao đang được nói đến đang trong vùng dịch vụ được kết hợp với VLR để gửi bản tin. HLR ghi lại thông tin này và gửi lại một xác nhận đến VLR. Nếu trạm thuê bao trước đây đã roaming trong một vùng dịch vụ được kết hợp với một VLR khác, HLR sẽ gửi từ chối đăng ký đến VLR phục vụ liền trước này. Sau đó VLR phục vụ liền trước xóa bỏ các bản ghi của nó về trạm thuê bao. Sau khi các hoạt động này được thực hiện, VLR đang phục vụ mới lại có một bản ghi về vị trí của trạm thuê bao roaming ( cái mà MSC được kết hợp với vùng dịch vụ nơi mà trạm thuê bao hiện đang được đặt tại đó, nếu VLR phục vụ hơn một MSC), và HLR của trạm thuê bao cũng có 1 bản ghi về vị trí của nó ( cái mà VLR được kết hợp với vùng dịch vụ tại nơi nó roaming). Hơn nữa các hoạt động này có thể xảy ra hoặc không xảy ra. VLR có thể gửi một bản tin đến HLR để tìm kiếm thiết lập một thủ tục chuyên môn mà sẽ phục vụ cho việc kiểm tra tính xác thực của trạm thuê bao. VLR cũng có thể yêu cầu một hiện trạng dịch vụ từ HLR, vì vậy nó có thể xác định các dịch vụ mà trạm thuê bao sử dụng trong vùng dịch vụ chủ của nó. 10.7Dịch vụ số liệu phi kết nối cho các hệ thống tế bào Công nghệ tế bào AMPS ( Dịch vụ điện thoại di động cao cấp ) thực sự đã thành công trong việc cung cấp các dịch vụ thoại tới nền tảng khách hàng đang phát triển và rộng khắp , và các tiêu chuẩn CDMA và TDMA số sẽ mở rộng hơn các chức năng và dung lượng tới nền tảng người sử dụng rộng hơn. Đến nay, các dịch vụ số liệu qua mạng tế bào ở Bắc Mỹ đã không được phát triển rộng hay được ủng hộ cao. Một phần nguyên nhân do sự thiếu sót đó là vì tiêu chuẩn AMPS đã không được phát triển với nhu cầu cung cấp các dịch vụ dữ liệu đáng tin cậy. Những người sử dụng muốn có thể được thuận tiện trong việc thiết lập trên cơ sở các modem số liệu đường dây và các máy fax. Tuy nhiên, các modem tiêu chuẩn của CCITT ( ủy ban cố vấn cho điện thoại và thư tín quốc tế ) thì không được thiết kế để giải quyết tất cả các hư hỏng được gặp trong một kết nối tế bào. Một vài công nghệ đã được phát triển nhằm nâng cao các modem tiêu chuẩn để cung cấp các hoạt động đáng tin cậy qua các kết nối tế bào tương tự, nhưng những cái đó không đáp ứng hoàn toàn, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Một mặt hạn chế chủ yếu trong khi sử dụng công nghệ modem đường dây kết nối có hướng qua các kết nối thoại tế bào là giá cả. Kết nối tế bào “không gian – thời gian” thì đắt hơn đáng kể so với dịch vụ điện thoại nội hạt đường dây mặt đất. Có một lớp lớn các ứng dụng cho các kết nối rỗi thay cho một tỉ lệ phần trăm lớn của

59

thời gian kết nối đó lên trên. Thay thế cho lớp các ứng dụng này, một dịch vụ số liệu phi kết nối sẽ được thích hợp tiếp cận chính xác đến đường dây modem để làm tăng hiệu quả của nó. Trong phần này chúng ta sẽ miêu tả ngắn gọn một dịch vụ số liệu phi kết nối cái mà gần đây đã được định rõ cho sử dụng như một lớp phủ trên các mạng tế bào AMPS ( Dịch vụ điện thoại di động cao cấp ) sẵn có. 10.7.1 Đặc điểm kĩ thuật gói dữ liệu số tế bào ( CDPD ) Đặc điểm kĩ thuật gói dữ liệu số tế bào ( CDPD ) đã được phát triển bởi một nhóm kết giao của dịch vụ tế bào đưa ra định nghĩa một công nghệ cái đó cung cấp truy nhập gói dữ liệu không dây trong dải tế bào, mà không có nhiễu ảnh hưởng tới cung cấp các dịch vụ thoại. CDPD sử dụng luồng dữ liệu 19.2 kbps cái đó chiếm dụng tương tự băng tần 30 kHz được sử dụng bởi AMPS và các hệ thống 54-IS. Lớp vật lý được thiết kế để có thể thực hiện được nhiều như trong lớp chung với AMPS, như vậy dễ dàng có thể dùng được, các thành phần ngoài dải có thể được sử dụng trong việc bổ sung trạm thuê bao để có thể thực hiện được ở phạm vi lớn nhất. CDPD trái với liên kết lớp MAC ( Kiểm soát truy cập môi trường ) sử dụng công nghệ truy nhập ngẫu nhiên được gọi là Đa truy nhập ngẫu nhiên số ( DSMA ) cái đó có nhiều cách thức tương tự như phương pháp truy nhập CSMA/CD ( Đa truy nhập ngẫu nhiên theo sóng mang/ Tách sóng xung đột ) sử dụng trong Ethernet. Nhưng bởi vì các trạm di động CDPD không thể nhận ra chắc các hoạt động trong các trạm di động khác, chúng phải dựa vào thông tin phản hồi ở trong các cờ trên luồng dữ liệu kênh tiếp theo để xác định khi phản hồi lại kênh đang bận. Lớp liên kết dữ liệu trong CDPD sử dụng tính thích nghi Điều khiển liên kết dữ liệu ở tầng cao ( HDLC ). Trong các liên kết tiếp, các khung lớp liên kết dữ liệu đi trên một luồng dữ liệu liên tục làm thành các khối mã Ree-Solomon cái đó có các cờ điều khiển lớp MAC và thông tin đồng bộ được xen kẽ vào trong chúng. Trong các liên kết ngược lại, các khung lớp liên kết dữ liệu thì được gắn lại trong các phương thức truyền hết các khối đó bao gồm một hoặc một vài các khối mã ReedSolomon với xen kẽ một vài cờ điều khiển lớp MAC. ở trên lớp liên kễt số liệu một mạng con phụ thuộc sự hội tụ của các phân lớp như một giao diện tiêu chuẩn TCP/IP và các lớp mạng OSI và cao hơn. Các phân lớp này được phân đoạn IP ( Giao thức Internet ) hoặc các gam dữ liệu CLNP ( Giao thức mạng phi kết nối ), nén các mào đầu IP hoặc các mào đầu CLNP cho hiệu quả sử dụng kênh vô tuyến, và cung cấp một giao diện các dịch vụ mã hoá. 10.7.2 Chuyển kênh CDPD được dự kiến sẽ hoạt động như một vật phủ vô hình trên các hệ thống tế bào AMPS, sử dụng các tài nguyên kênh đó là những kênh rỗi nhờ có các thống kê bản chất của những cuộc gọi đến vào một trung kế, hệ thống thoại chuyển mạch. Những kênh này chỉ có hiệu lực đến CDPD khi chúng không có yêu cầu bởi hệ thống thoại. Hệ thống CDPD được dự định đủ thông minh để loại bỏ một kênh
60

thoại AMPS bất cứ khi nào kênh đó bị yêu cầu cho dịch vụ thoại, không có nhiễu cho dịch vụ thoại. Khi xảy ra điều này, một sóng vô tuyến CDPD trong một Trạm cơ sở dữ liệu di động ( MDBS ) cung cấp dịch vụ sẽ hoà hợp vào một tần số mới cái đó sẽ có hiệu lực với nó. Quá trình này là được gọi như là quá trình Chuyển kênh. Nếu có thời gian, CDPD MDBS sẽ thông báo một bản tin cái đó nói về các hệ thống đầu cuối di động ( M-ES ) của kênh mới cái này để MDBS hoà hợp với nó. Tuy nhiên, cũng sẽ có những nguyên nhân mà MDBS sẽ được yêu cầu thực hiện chuyển kênh khẩn cấp, không có thông báo về một kênh mới. Khi xảy ra chuyển kênh này, các M-ES phù hợp với kênh cũ phải có khả năng đạt được luồng kênh MDBS trên kênh mới. 10.7.3 Tính di động và định tuyến trong một mạng CDPD Một biểu đồ khối các phần tử và các giao diện của mạng CDPD được chỉ ra trong hình 10.10. Các phần tử là: Hệ thống đầu cuối di động ( M-ES ) Trạm thuê bao CDPD • Trạm cơ sở dữ liệu di động ( MDBS ) Trạm cơ sở sóng vô tuyến CDPD • Hệ thống trung gian dữ liệu di động ( MD-IS ) Chuyển mạch gói/ Bộ định tuyến cái đó phục vụ có vai trò tương tự để phát cái đó bởi hệ thống tế bào thoại ( MSC ). Hệ thống này cung cấp chuyển mạch gói thông thường và các chức năng định tuyến, cũng như các chức năng quản lý di động. • Hệ thống đầu cuối cố định ( F-ES ) Thiết bị chủ mạng cố định, cái này bên trong mạng CDPD, ở đó nó phải được cung cấp dịch vụ thêm giá trị hoặc liên kết các dịch vụ với các chức năng mạng hoặc bên ngoài mạng CDPD.

61

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful