You are on page 1of 274

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC


---------------------

GIÁO TRÌNH
VẬT LÝ - LÝ SINH Y HỌC
(Dành cho Sinh viên Đại học chính quy ngành: Bác sỹ đa khoa,
y học dự phòng, răng hàm mặt)

THÁI NGUYÊN - 2011


E
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
BỘ MÔN VẬT LÝ – LÝ SINH Y HỌC
---------------------

GIÁO TRÌNH
VẬT LÝ - LÝ SINH Y HỌC
(Dành cho Sinh viên Đại học chính quy ngành: Bác sỹ đa khoa,
y học dự phòng, răng hàm mặt)

Tham gia biên soạn : TS. Bùi Văn Thiện (Chủ biên)
Ths. Nguyễn Quang Đông
Ths. Nguyễn Xuân Hòa

Thư ký biên soạn: Ths. Nguyễn Quang Đông

THÁI NGUYÊN - 2011


GIÁO TRÌNH VẬT LÝ – LÝ SINH Y HỌC

Chủ biên: TS. Bùi Văn Thiện

Tham gia biên soạn: TS. Bùi Văn Thiện


ThS. Nguyễn Quang Đông
ThS. Nguyễn Xuân Hòa
ThS. Nguyễn Minh Tân
CN. Vũ Thị Thúy

Thư ký biên soạn: ThS. Nguyễn Quang Đông

ii
MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................1 


PHẦN: VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG................................................................................2 
Phần thứ nhất: CƠ HỌC .............................................................................................3 
Bài mở đầu: CÁC KHÁI NIỆM ĐẠI CƯƠNG ..........................................................3 
Chương 1: DAO ĐỘNG VÀ SÓNG...........................................................................6 
1.1. Chuyển động dao động.................................................................................6 
1.2. Chuyển động sóng........................................................................................8 
1.3. Sóng âm......................................................................................................10 
1.4. Hiệu ứng doppler và ứng dụng...................................................................16 
Chương 2: CƠ HỌC CHẤT LƯU ............................................................................19 
2.1. Đặc điểm của chất lưu................................................................................19 
2.2. Tĩnh học chất lưu .......................................................................................19 
2.3. Động lực học chất lưu lý tưởng..................................................................21 
2.4. Hiện tượng nhớt - ứng dụng......................................................................23 
Phần thứ hai: NHIỆT HỌC .......................................................................................25 
Mở đầu: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN......................................................................25 
Chương 3: CÁC ĐỊNH LUẬT THỰC NGHIỆM VỀ CHẤT KHÍ ..........................28 
3.1. Thuyết động học chất khí và khí lý tưởng .................................................28 
3.2. Phương trình trạng thái của khí lý tưởng ...................................................30 
Chương 4: CHẤT LỎNG..........................................................................................32 
4.1. Cấu tạo và chuyển động phương tử của chất lỏng .....................................32 
4.2. Các hiện tượng mặt ngoài của chất lỏng....................................................33 
4.3. Hiện tượng mao dẫn...................................................................................39 
4.4. Hiện tượng sôi, hiện tượng bay hơi............................................................43 
Phần thứ ba: ĐIỆN TỪ..............................................................................................45 
Chương 5: TĨNH ĐIỆN.............................................................................................45 
5.1. Khái niệm mở đầu ......................................................................................45 
5.2. Định luật culông (coulomb) .......................................................................46 
5.3. Điện trường của các điện tích điểm ...........................................................48 
5.4. Điện thế, hiệu điện thế ...............................................................................50 
i
Chương 6: DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI ...................................................................49 
6.1. Những khái niệm mở đầu...........................................................................49 
6.2. Những đại lượng đặc trưng của dòng điện.................................................50 
Chương 7: TỪ TRƯỜNG DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI ..........................................54 
7.1. Thí nghiệm về tương tác từ của dòng điện.................................................54 
7.2. Định luật ampe (amper) về tương tác từ của dòng điện.............................55 
7.3. Vectơ cảm ứng từ, vectơ cường độ từ trường ............................................56 
Chương 8: CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ.............................................................................62 
8.1. Thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ ...............................................62 
8.2. Các định luật cơ bản về cảm ứng điện từ...................................................63 
8.3. Một số trường hợp đặc biệt của cảm ứng điện từ ......................................65 
Phần thứ tư: QUANG HỌC ......................................................................................67 
Chương 9: CƠ SỞ CỦA QUANG HÌNH HỌC - DỤNG CỤ QUANG HỌC .........67 
9.1. Các định luật cơ bản của quang hình học ..................................................67 
9.2. Dụng cụ quang học.....................................................................................71 
Chương 10: BẢN CHẤT CỦA ÁNH SÁNG ...........................................................82 
10.1. Thuyết sóng điện từ về bản chất của ánh sáng.........................................82 
10.2. Hiện tượng giao thoa ánh sáng.................................................................85 
10.3. Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng..................................................................92 
10.4. Hiện tượng phân cực ánh sáng.................................................................98 
10.5. Thuyết lượng tử về bản chất của ánh sáng...............................................99 
PHẦN: LÝ SINH Y HỌC.....................................................................................105 
Chương 11: CÁC NGUYÊN LÝ NHIỆT ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC.106 
11.1. Nguyên lý thứ nhất nhiệt động học và ứng dụng trong y học................106 
11.2. Nguyên lý thứ hai nhiệt động học và ứng dụng trong y học ............108 
Chương 12: VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT TRONG CƠ THỂ SINH VẬT ...........113 
12.1. Các hiện tượng vận chuyển vật chất cơ bản trong cơ thể sinh vật.........113 
12.2. Sự vận chuyển của vật chất qua màng tế bào .......................................121 
Chương 13: LÝ SINH TUẦN HOÀN VÀ LÝ SINH HÔ HẤP .............................134 
13.1. Lý sinh tuần hoàn ...................................................................................134 
13.2. Lý sinh hô hấp........................................................................................146 

ii
Chương 14: ỨNG DỤNG CỦA SÓNG ÂM VÀ SIÊU ÂM TRONG Y HỌC .....154 
14.1. Ứng dụng của sóng âm...........................................................................154 
14.2. Ứng dụng của siêu âm............................................................................162 
Chương 15: CÁC HIỆN TƯỢNG ĐIỆN TRÊN CƠ THỂ SỐNG .........................168 
15.1. Hiện tượng điện sinh vật - cơ chế phát sinh và lan truyền...................168 
15.2. Cơ chế dẫn truyền sóng hưng phấn từ thần kinh đến cơ........................175 
15.3. Tác dụng của dòng điện lên cơ thể và ứng dụng trong điều trị......................184 
Chương 16: QUANG SINH HỌC ..........................................................................189 
16.1. Cơ chế hấp thụ ánh sáng và phát sáng ...................................................189 
16.2. Tác dụng của ánh sáng lên cơ thể sống..................................................199 
16.3. Mắt và dụng cụ bổ trợ ............................................................................203 
16.4. Laser và ứng dụng trong y học...............................................................216 
Chương 17: Y HỌC PHÓNG XẠ VÀ HẠT NHÂN ..............................................226 
17.1. Tia phóng xạ...........................................................................................226 
17.2. Tác dụng sinh học của bức xạ ion hoá......................................................234 
17.3. Ứng dụng của tia phóng xạ trong y học và an toàn phóng xạ................237 
Chương 18: BỨC XẠ RƠNGHEN (TIA X) VÀ ỨNG DỤNG .............................243 
18.1. Hiện tượng bức xạ tia x và ứng dụng trong y học..................................243 
18.2. Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính và ứng dụng.............................................248 
Chương 19: PHƯƠNG PHÁP CỘNG HƯỞNG TỪ HẠT NHÂN ........................253 
19.1. C¬ së vËt lý cña ph−¬ng ph¸p céng h−ëng tõ h¹t nh©n..........................253 
19.2. Chôp ¶nh c¾t líp céng h−ëng tõ h¹t nh©n ..............................................259 
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................264 

iii
LỜI NÓI ĐẦU

Vật lý học là một ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu những tính chất, quy
luật cơ bản và khái quát nhất của thế giới vật chất. Những thành tựu của vật lý được
ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong Y học, những ứng dụng của
Vật lý học như: sử dụng các kĩ thuật vật lý trong chẩn đoán và điều trị, điện tim,
điện tâm đồ, điện não đồ, điều trị bằng nhiệt, bằng từ trường, ứng dụng của âm và
siêu âm, chụp X quang, sợi quang học trong mổ nội soi, ứng dụng của phóng xạ,
chụp hình cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, mắt và các dụng cụ quang
học, ứng dụng của ánh sáng trong điều trị, những ứng dụng của laser ... đã làm cho
ngành Y có một sự phát triển vượt bậc, giúp các thầy thuốc chẩn đoán chính xác và
điều trị có hiệu quả cao.
Giảng dạy môn Vật lý - Lý sinh y học nhằm trang bị cho sinh viên ngành Y
những kiến thức vật lý cơ bản nhất liên quan phục vụ ngành nghề Y – Dược, rèn
luyện cho sinh viên phương pháp tư duy khoa học, kết hợp giữa lý thuyết với thực
tiễn, đồng thời giúp họ có thể học các môn học khác như: Sinh, Hoá, Hoá - Lý, Vật
lý trị liệu - phục hồi chức năng, Chẩn đoán hình ảnh, y học hạt nhân,… và các môn
học khác có liên quan.
Giáo trình này được biên soạn theo chương trình đào tạo mới xây dựng của
trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên. Do đối tượng đào tạo chủ yếu là
sinh viên miền núi, nên khả năng tiếp thu kiến thức vật lý có nhiều hạn chế. Vì vậy
việc biên soạn một giáo trình Vật lý - Lý sinh y học vừa đảm bảo tính cơ bản và hệ
thống kiến thức, phù hợp với chương trình khung của Bộ, vừa phù hợp với đối tượng
đào tạo theo tín chỉ là một việc làm cần thiết.
Trong quá trình biên soạn giáo trình, do khả năng và kinh nghiệm còn hạn
chế, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý
của các đồng nghiệp và các em sinh viên để giáo trình ngày càng được hoàn chỉnh
hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 8 năm 2011
BỘ MÔN VẬT LÝ - LÝ SINH Y HỌC

1
PHẦN
VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG

2
Phần thứ nhất: CƠ HỌC
Bài mở đầu: CÁC KHÁI NIỆM ĐẠI CƯƠNG

1.1. Chuyển động cơ học


Là sự thay đổi vị trí của vật hay một bộ phận của vật trong không gian theo
thời gian.
1.2. Chất điểm
Là một vật có khối lượng nhưng có kích thước nhỏ không đáng kể so với
những khoảng cách mà ta đang khảo sát.
Một tập hợp chất điểm gọi là hệ chất điểm (Một vật có thể coi là tập hợp của
vô số chất điểm).
Chất điểm có tính tương đối.
Ví dụ: Electron chuyển động trên quĩ đạo quanh hạt nhân; Trái Đất quay
xung quanh Mặt Trời được coi là chất điểm.
1.3. Hệ qui chiếu
Vật được chọn làm mốc, cùng với hệ toạ độ và
một chiếc đồng hồ gắn liền với nó, để xác định vị trí z
của vật khác, gọi là hệ qui chiếu.
1.4. Phương trình chuyển động của chất điểm
M(x, y, z)
Trong hệ toạ độ Đề các, vị trí của chất điểm M
tại một thời điểm nào đó được xác định bởi 3 toạ độ x,
G x
y, z hoặc bởi bán kính véc tơ r , đều là những hàm của
y
thời gian.
x = x(t); y = y(t); z = z(t)
G G
r = r(t)
Các phương trình trên gọi là các phương trình chuyển động của chất điểm.
1.5. Quỹ dạo chuyển động
Quỹ đạo chuyển động là đường mà chất điểm vạch ra trong không gian khi
chuyển động.
Muốn xác định được dạng quỹ đạo, ta phải tìm phương trình quỹ đạo.
Phương trình quỹ đạo là phương trình biểu diễn mối quan hệ giữa các toạ độ.
Ví dụ: y = ax2 + bx +c (Quỹ đạo parabol)

3
1.6. Tính chất tương đối của chuyển động
Chuyển động có tính tương đối, tuỳ theo hệ qui chiếu ta chọn, một vật có thể
coi là đứng yên hay chuyển động.
Ví dụ: Một người đang đứng yên trên tàu hoả, nhưng lại chuyển động so với
cột cây số bên đường.
1.7. Đơn vị đo lường
Mỗi một thuộc tính của một đối tượng vật lý được đặc trưng bởi một hay
nhiều đại lượng vật lý. Một trong những vấn đề cơ bản của vật lí học là đo lường
các đại lượng vật lý. Người ta phải chọn một đại lượng làm mẫu gọi là đơn vị.
Từ năm 1965 người ta đã chọn hệ đo lường quốc tế SI (System International
- Hệ quốc tế).
Bảng 1.1. Bảy đại lượng vật lý cơ bản trong hệ SI
Tên đại lượng Ký hiệu Tên đơn vị Ký hiệu đơn vị
Chiều dài L met m
Khối lượng M kilogam kg
Thời gian T giây s
Cường độ dòng điện I ampe A
Cường độ sáng J candela Cd
Nhiệt độ θ Kelvin K
Lượng vật chất N mol Mol

Muốn biểu diễn những số rất nhỏ hay rất lớn, người ta dùng luỹ thừa 10.
Ví dụ: 3,6 mA = 3,6.10-3A 2,0 nm = 2,0.10-9m
Bảng 1.2
Thừa số Tên tiền tố Ký hiệu Thừa số Tên tiền tố Ký hiệu
1012 Tera T 10-1 dexi D
109 Giga G 10-2 centi C
106 Mega M 10-3 mili M
103 Kilo K 10-6 micro μ

102 Hecto H 10-9 nano N


101 Deca D 10-12 pico P

4
1.8. Thứ nguyên
Thứ nguyên của một đại lượng vật lí là công thức nêu lên sự phụ thuộc của
đại lượng đó vào các đại lượng cơ bản.
Ví dụ: Vận tốc = Chiều dài/ Thời gian
Ta kí hiệu thứ nguyên vận tốc là: [Vận tốc] = L/T = LT-1
Đơn vị của vận tốc là: m/s.
Nhờ khái niệm thứ nguyên ta có thể kiểm nghiệm lại độ đúng đắn của một
công thức vật lý vì hai vế của một công thức vật lý phải có thứ nguyên như nhau.
l
Ví dụ: Công thức chu kỳ của con lắc: T = 2π .
g

L
Thứ nguyên của hai vế là: T = = T.
L.T -2
Như vậy về mặt thứ nguyên công thức trên là hợp lý.
1.9. Các đại lượng vật lý
Mỗi thuộc tính của một đối tượng vật lý (Một vật thể, một hiện tượng, một
quá trình ...) được đặc trưng bởi một hay nhiều đại lượng vật lý.
Ví dụ: Khối lượng, thời gian, thể tích, lực, năng lượng ...
Các đại lượng vật lí có thể là vô hướng hay đại lượng véc tơ (hữu hướng).
1.9.1. Xác định một đại lượng vô hướng
Nghĩa là xác định giá trị của nó, có những đại lượng vô hướng không âm
như: Thể tích, khối lượng... , có những đại lượng vô hướng mà giá trị có thể âm hay
dương, ví dụ như: điện tích, hiệu điện thế...
1.9.2. Xác định một đại lượng véc tơ
Nghĩa là xác định điểm đặt, phương, chiều, và độ lớn của véc tơ đặc trưng
G JG
cho đại lượng đó. Ví dụ: lực F , cường độ điện trường E ...

5
Chương 1
DAO ĐỘNG VÀ SÓNG

1.1. CHUYỂN ĐỘNG DAO ĐỘNG


1.1.1. Dao dộng là gì?
Chuyển động dao động là sự chuyển động lặp đi lặp lại vị trí cân bằng sau
những khoảng thời gian nhất định.
+ Ví dụ:
- Dao động của lò xo:
JJG
Ở trạng thái cân bằng: Fhl = 0. Dùng ngoại lực kéo lò xo lệch khỏi VTCB
một đoạn x rồi thả ra, vật nặng chuyển động về vị trí cân bằng O do tác dụng của
JJG
một lực đàn hồi Fdh . Lực đàn hồi bằng nhưng ngược chiều với ngoại lực.
JJG G
Fdh = − k .x (1.1)

Dấu (-) do lực đàn hồi luôn ngược chiều với vectơ dịch chuyển x
k: hệ số đàn hồi của lò xo. Phụ thuộc bản chất của lò xo
Đến vị trí cân bằng Fdh = 0. Nhưng do quán tính, vật tiếp tục chuyển động
sang trái một đoạn đúng bằng x (nếu bỏ qua ma sát của không khí).
Lúc đó lại xuất hiện lực đàn hồi do lò xo phải kéo, lò xo trái đẩy, vật lại qua
vị trí cân bằng rồi sang phải.
Quá trình cứ lặp lại như vậy nhiều lần sau từng khoảng thời gian bằng nhau.
Người ta gọi chuyển động đó là chuyển động
dao động.
- Con lắc đơn
Lấy một sợi dây mảnh, không co giãn,
chiều dài l. Một đầu dây buộc vào vật nặng
khối lượng m, đầu kia buộc vào bản cố định.
Ta có một con lắc đơn.
Thoạt đầu dưới tác dụng của trọng lực Hình 1.1
JG
P con lắc đứng yên.

6
Tác dụng một ngoại lực làm cho con lắc lệch ra khỏi phương thẳng đứng một
góc lệch α . Sau đó thôi tác dụng ngoại lực.

Ở vị trí mới, trọng lực P của vật nặng được phân chia ra 2 thành phần:
JG
P = Pt + Pn (1.2)

P t: theo phương kéo dài của dây treo

P n: có tác dụng kéo con lắc về vị trí cân bằng

Ở vị trí cần bằng P n=0. Nhưng do còn quán tính nó lại tiếp tục sang trái (giả
thiết như ban đầu bài toán đề ra: dây treo mảnh, góc α nhỏ, bỏ qua ma sát của

không khí). Con lắc lệch sang trái một góc đúng bằng α và lúc đó P n lại xuất hiện
kéo vật về vị trí cân bằng. Cứ như vậy chuyển động của con lắc lặp đi lặp lại sau
những khoảng thời gian như nhau.

Lực P n là lực gây ra chuyển động dao động:


Pn = P.sin α (1.3)
Vì α nhỏ ⇒ sin α ≈ α . Ta có:
Pn = P. α (1.4)
Pn gọi là lực chuẩn đàn hồi
1.1.2 Phương trình dao động điều hoà
Trong 2 ví dụ trên nếu không có ma sát của môi trường thì độ dịch chuyển x
và góc lệch α về 2 phía đối với vị trí cân bằng là bằng nhau. Dao động sẽ thực hiện
trong một thời gian dài.
Nếu ly độ x của dao động biến đổi điều hòa thì dao động gọi là dao động
điều hoà. Trong dao động này độ lệch cực đại (hay biên độ) không đổi theo thời
gian. Ngược lại nếu có ma sát của môi trường, độ lệch cực đại (hay biên độ) sẽ giảm
dần, sau một thời gian sẽ ngừng chuyển động. Ta gọi là dao động tắt dần.
* Thiết lập phương trình
Ta lấy ví dụ về dao động của lò xo để thiết lập phương trình dao động điều hoà.
Lực đàn hồi gây ra gia tốc cho chuyển động dao động. Theo định luật Hooke:

F dh = -k. x (1.5)

7
Theo định luật Niutơn II:
d2x d2x
F = m.a . Ta có: a = => F = m.
dt 2 dt 2

..
Hay: F = m. x
..
⇒: -k.x = m. x
..
m. x + k.x = 0 (1.6)
Đây là phương trình vi phân cấp hai có vế phải bằng 0.
Vì m > 0 nên ta có thể chia cho m:
.. k k
x+ .x = 0 Đặt = ω2
m m
..
Ta có: x + ω 2 .x = 0 (1.7)
Giải ra ta được 2 nghiệm
x1 = a.cos( ω.t + α ) (1.8)
x2 = a.sin( ω.t + α' ) (1.9)
Trong đó: a, α , α ' là những hằng số phụ thuộc vào điều điện ban đầu của bài toán.
x: ly độ dao động
a: ly độ dao động cực đại hay biên độ của dao động.
a = xmax ứng với cos( ω.t + α ) = ± 1
( ω.t + α ): là một góc, gọi là pha của dao động
ω : tần số góc (tốc độ góc của vectơ biên độ dao động)
K 2.π
ω2 = ; ω=
m T
t: Thời gian dao động.
T: Chu kỳ dao động. Là thời gian để dao động thực hiện một dao động toàn phần.
α : là góc, là pha đầu của dao động, ứng với t = 0
1.2. CHUYỂN ĐỘNG SÓNG
1.2.1. Định nghĩa
Chuyển động sóng là sự lan truyền dao động trong một môi trường đàn hồi
(môi trường có liên kết giữa các phần tử).

8
1.2.2. Sự truyền sóng
Giả sử có một môi trường đàn hồi các phân tử liên kết với nhau bằng những
lực đàn hồi (môi trường rắn, lỏng, khí).
Do ngoại lực tác dụng, các phân tử này rời khỏi vị trí cân bằng và bắt đầu
dao động. Các dao động này do các liên kết phân tử, được lan truyền sang các phân
tử xung quanh. Như vậy khi có sóng truyền qua trong môi trường các vùng dãn, nén
liên tiếp tuần hoàn trong không gian và theo thời gian.
1.2.3. Các loại sóng
Khi truyền trong môi trường đồng nhất và đẳng hướng, dao động sẽ lan
truyền về mọi phía với vận tốc như nhau. Để đơn giản ta chọn một phương nào đó,
gọi là phương truyền sóng.
Nếu phương truyền sóng mà các phần tử của môi trường dao động vuông góc với
phương truyền sóng, gọi là sóng ngang. Ví dụ: sóng ánh sáng, sóng trên mặt nước ...
Nếu các phần tử của môi trường dao động song song với phương truyền sóng thì
đó là sóng dọc. Ví dụ: sóng di chuyển của lò xo khi co dãn, sóng âm trong không khí.
Phương dao động
Phương dao động Phương truyền

Sóng dọc Phương truyền

Sóng ngang

Hình 1.2
1.2.4. Các thông số cơ bản
1.2.4.1. Bước sóng ( λ )
Là khoảng cách ngắn nhất giữa các phân tử của môi trường dao động đồng
pha hoặc là quãng đường sóng truyền đi được trong một chu kì.
VD: Khoảng cách từ A → E ( Hình 1.3).
Đơn vị đo: m, cm, μm , nm.
1.2.4.2. Chu kỳ dao động (T)
Thời gian cần thiết để một điểm của môi trường thực hiện một dao động
toàn phần.
1.2.4.3. Vận tốc truyền sóng (c)
Quãng đường truyền sóng truyền được trong 3một đơn vị thời gian. Đơn vị
đo: m/s.
Chú ý: Vận tốc dao động của phân tử khác vận tốc lan truyền sóng.

9
1.2.4.4. Tần số (f)
Là số lần dao động trong một giây.
1
f= (1.10)
T
Đơn vị đo: Hezt (Hz): 1 Hz = 1/s
1.2.4.5. Tần số góc (ω)

ω= = 2.π .ν (1.11) Hình 1.3
T
Đơn vị đo: rad/s
1.3. SÓNG ÂM
1.3.1. Định nghĩa
Sóng âm là những dao động truyền trong các môi trường vật chất đàn hồi
(rắn, lỏng, khí). Sóng âm không truyền trong chân không.
1.3.2. Phân loại
Tiêu chuẩn để phân loại sóng âm là tần số.

Âm nghe Siêu Siêu siêu


Hạ âm được âm âm

0 16 20.103 109 1013 Tần số (Hz)

Với tần số 0 → 16 Hz: Vùng hạ âm; sóng đàn hồi gây ra do động đất, bão
truyền trong nước biển …
Với tần số 16 Hz → 20 KHz: Tai người bình thường nghe được.
Với tần số 20KHz → 109 Hz: siêu âm, tai người không nghe được (một số
loài vật như dơi, chó có thể nghe được ).
Với tần số 109Hz → 1013 Hz: siêu siêu âm. 1013Hz là giới hạn trên vì bước
sóng ở tần số này vào khoảng chiều dài khoảng cách giữa các phân tử chất rắn.
1.3.3. Các đặc trưng vật lý
- Sóng âm có mang năng lượng. Năng lượng sóng âm gồm động năng dao
động và thế năng đàn hồi của các phần tử môi trường.
- Cường độ âm (I): được tính là năng lượng siêu âm truyền qua một đơn vị
dịên tích đặt thẳng góc với phương truyền sóng trong một đơn vị thời gian.
Đơn vị đo của cường độ âm là: W/m2.
- Tốc độ truyền âm phụ thuộc vào mật độ môi trường và tính chất đàn hồi
của môi trường. Trong quá trình truyền âm, cường độ âm càng đi xa nguồn càng
giảm mau vì các lí do sau:

10
+ Các phần tử của môi trường dao động, ma sát với môi trường do đó có một
phần năng lượng dao động phải dùng để thắng ma sát và biến thành nhiệt năng làm
nóng môi trường.
+ Âm trong khi truyền gặp mặt phân cách 2 môi trường cũng phản xạ, khúc
xạ, nhiễu xạ tương tự ánh sáng. Chính hiện tượng phản xạ làm giảm rất nhiều cường
độ sóng âm đi tới.
- Mức cường độ âm:
I
L = lg (1.12)
I0

Trong đó: I là cường độ âm tại điểm đang xét. I0 là cường độ âm chuẩn


Đơn vị: Ben (B). Ngoài ra hay dùng đơn vị dexiben dB: 1B = 10dB
- Phổ của âm: Là tổng hợp dao động của các thành phần âm (Có dạng tuần
hoàn chứ không điều hòa).
1.3.4. Các đặc trưng sinh lý của âm
1.3.4.1. Độ cao của âm
Cảm giác về độ cao của âm là do tần số của âm quyết định. Những dao động
âm có tần số cao cho ta cảm giác thanh (trong). Những âm có tần số thấp cho ta cảm
giác trầm (đục). Tai người chỉ nghe được những âm thanh có tần số từ 16 đến
20.000 Hz, nhưng giới hạn này cũng tuỳ theo lứa tuổi, người già chỉ nghe được
những âm có tần số dưới 6.000 Hz. Một số súc vật có khả năng nghe được những
âm có tần số cao hơn hoặc thấp hơn phạm vi nghe của người về tần số. Tuy nhiên
người bình thường chỉ phân biệt được độ cao của âm trong phạm vi (40 - 4.000) Hz,
âm tần số cao hơn chỉ cho cảm giác rít, chính vì vậy các nhạc cụ thường được tạo ra
để phát các âm thanh có tần số trong khoảng đó. Để phân biệt được độ cao của âm,
1 1
thời gian âm tác động lên cơ quan thính giác ít nhất phải từ đến s.
100 40
Chẳng hạn với âm có tần số 40 Hz, gây nên cảm giác ở tai ta. Như thế âm
1
này thực hiện được 40 × = 1 dao động toàn phần. Nếu âm có tần số 6000 Hz thì
40
trong thời gian ấy âm đã thực hiện 150 dao động toàn phần. Từ kết quả này có thể
suy ra: Ngưỡng của cảm giác độ cao là một dao động toàn phần của âm. Điều này
cũng dễ dàng hiểu được một dao động mà chưa thực hiện đầy đủ một dao động toàn
phần thì không thể xác định chu kỳ hay tần số của nó.

11
Ngoài ra, người ta thấy độ cao phụ thuộc phần nào vào cường độ âm. Trong
một mức độ nhất định âm thấy như cao lên khi cường độ tăng và trầm xuống khi
cường độ giảm. Điều này có lẽ là kết quả của sự thay đổi đặc tính đàn hồi của màng
nhĩ do cường độ âm tác dụng lên màng.
Sóng siêu âm có tần số lớn hơn 20.000 Hz, không gây cảm giác âm thanh
cho người.
1.3.4.2. Âm sắc
Những âm phát ra từ âm thoa cho ta một cảm giác đơn giản, chúng ứng với
những dao động hình sin. Gọi p0 là biên độ áp suất âm gây tại màng nhĩ, t là thời
gian, f là tần số âm thì p là áp suất âm thoa gây tại màng nhĩ có thể biểu diễn bằng
phương trình :
p = p0 sin 2πft (1.13)
Đại đa số các âm là những âm phức tạp, gây cho ta những cảm giác phong
phú hơn. Chẳng hạn như âm của các dụng cụ âm nhạc, âm do người phát ra. Dùng
thiết bị phân tích âm có nhiều bộ phận cộng hưởng âm khác nhau có thể phân tích
âm phức tạp ra thành nhiều âm đơn giản gọi là phổ điều hoà; đặc biệt có thể phân
tích âm phức tạp thành âm đơn giản mà tần số của chúng là bội số nguyên của âm
đơn giản có tấn số nhỏ nhất.

x a

b c

t
d

Hình 1.4

Trên hình (1.4) trình bày một dạng âm phức tạp (a) và các thành phần phân
tích của nó (b), (c), (d). Âm có tần số nhỏ nhất gọi là âm cơ bản, các âm khác gọi là
họa âm.

12
Tai ta nhận được hai âm cùng độ cao của hai loại nhạc cụ khác nhau mà phân
biệt được là vì mỗi mỗi âm đó đã gây cho chúng ta cảm giác âm nhạc khác nhau.
Như vậy mỗi âm có một bản sắc riêng biệt hay nói khác đi mỗi âm có một âm sắc
riêng biệt. Về phương diện vật lý hai âm phức tạp khác nhau mà có cùng tần số thì
khác nhau bởi thành phần dao động điều hoà hình sin đã tạo nên chúng; vì vậy âm
sắc được đặc trưng bằng thành phần dao động điều hoà hình sin. Nếu như thực hiện
vẽ đồ thị các dao động âm, ta thấy ngay âm sắc còn đặc trưng bằng dạng đồ thị dao
động, chẳng hạn trên hình (1.5) trình bày đồ thị dao động của hai nốt nhạc cùng độ
cao của đàn piano (a) và kèn clarinet (b).

0 .0 1 s

Hình 1.5

Sự phân tích âm về độ cao và âm sắc, theo thuyết của Helmholtz, liên quan chặt
chẽ với những đặc tính của những sợi đàn hồi của màng nhĩ (chiều dài, chiều dầy và
mức độ căng). Khi tác dụng lên màng nhĩ, dao động âm cơ bản hay phức tạp gây nên ở
màng những dao động cộng hưởng của những sợi xác định mà tần số riêng của chúng
tương ứng với tần số phổ điều hoà của dao động âm. Khi ấy những xung động thần
kinh xuất hiện trong những tế bào sợi tương ứng sẽ đi vào phần trung ương của cơ
quan phân tích âm và do đó gây nên cảm giác về độ cao và âm sắc.
Những nghiên cứu hiện đại khẳng định rằng những dao động âm khác nhau
về tần số được tiếp nhận bằng những phần khác nhau của màng nhĩ giống như
thuyết của Helmholtz. Tuy nhiên điều này không phải chỉ coi như những dao động
cộng hưởng của các sợi dây của màng, mà là kết quả tác dụng đồng thời của nhiều
dao động xuất hiện ở limphô nội dịch và sự biến dạng đàn hồi những phần xác định
của màng. Hiện tượng này được coi là khâu đầu tiên của quá trình sinh lý thụ cảm
âm phức tạp.

13
1.3.4.3. Độ to
Độ to của âm là đặc trưng cảm giác về sự mạnh hay yếu của dao động âm
được cảm nhận bởi tai ta. Hiển nhiên rằng tại một tần số nhất định của dao động âm,
âm có cường độ càng lớn sẽ gây nên cảm giác âm thanh “càng to” đối với tai và
ngược lại. Người ta thấy rằng một âm có cường độ I khi thay đổi một lượng ΔI đủ
để con người nhận thức được rằng âm đó có thay đổi về độ to, cần phải có:
ΔI
> 0,1 (1.14)
I
Đây chính là biểu thức thể hiện ngưỡng của cảm giác thay đổi độ to.
Những âm có tần số khác nhau tuy có cùng cường độ nhưng lại gây nên những
cảm giác to nhỏ khác nhau, điều đó cho ta thấy độ nhạy cảm hay độ “thính” của tai
phụ thuộc vào tần số âm. Từ đó người ta xây dựng nên khái niệm “độ to” (loudness)
của âm. Thực tế cho ta biết tai thính nhất đối với những âm có tần số trong khoảng từ
1000Hz đến 5000Hz. Trong khoảng này có thể nghe được những âm có cường độ
vào khoảng 10-11 W/m2, ở cường độ âm ấy, các phân tử khí dao động với biên độ
khoảng 10-5 μm và tạo nên áp suất ở màng nhĩ vào khoảng 10-5 N/m2.
Những âm có cường độ quá nhỏ thì tai không nhận thấy được. Nếu ta tăng
dần cường độ âm lên, đến một lúc mà bắt đầu từ đó trở đi tai bắt đầu đau chói; nếu
tăng cường độ âm lên cao hơn nữa có thể gây nên sự phá hoại cơ quan thính giác.
Nói khác đi, ở mỗi tần số âm, tồn tại ngưỡng cảm nhận được và ngưỡng gây đau
tai. Ta có hai định nghĩa sau:
- Cường độ âm nhỏ nhất đủ gây nên cảm giác âm ở tai gọi là giới hạn nghe
hay ngưỡng nghe.
- Cường độ âm lớn nhất mà nếu vượt quá cường độ đó sẽ gây nên cảm giác
đau tai gọi là ngưỡng chói.
Đối với mỗi người thì ngưỡng nghe, ngưỡng chói có giá trị riêng, tuy nhiên
nhìn tổng quát thì gần nhau. Đối với tất cả mọi người ngưỡng nghe và ngưỡng chói
phụ thuộc vào tần số âm. Đối với một người “trung bình” (theo thống kê) thì tại tần
số 1000 Hz, ngưỡng nghe là 10-12 W/m2, ngưỡng chói là 1 W/m2.
- Đơn vị phon cho độ to của âm
Ta biết rằng khi cường độ âm thay đổi thì cảm giác về độ to cũng thay đổi
theo. Định luật Weber - Fechner áp dụng cho quan hệ giữa cảm giác thay đổi độ to
và cường độ âm như sau:

14
Sự biến thiên độ to của âm tỷ lệ với logarit của tỷ số cường độ hai dao động
âm đã gây ra cảm giác âm.
Tại một tần số âm xác định, gọi L1, L2 tương ứng là độ to gây ra do âm có
cường độ I1, I2 (tính bằng W/m2). Theo định luật trên thì:
I2
L2− L1 = k lg (1.15)
I1
Trong đó hệ số tỷ lệ k phụ thuộc vào việc đặt đơn vị cho độ to và ngoài ra
cần ghi nhớ rằng k biến thiên theo tần số âm. Như ta đã biết độ to là một đại lượng
hoàn toàn chủ quan, do đó người ta qui ước.
- Cường độ ngưỡng nghe tại tần số 1000 Hz; I0 =10-12 W/m2 (hay là 0 decibel)
gây nên cảm giác độ to là L0= 0 phon.
- Cường độ ngưỡng chói tại tần số này I = 1W/m2 (hay là 120 decibel)
tương ứng gây nên cảm giác độ to là L = 120 phon (nghĩa là k = 10).
Qua thực nghiệm trên rất nhiều người, các nhà khoa học đã xây dựng được
hệ các đường cong biểu diễn sự phụ thuộc độ to của âm vào cường độ và vào tần số
của âm. Trên hình 1.6 biểu diễn hệ các đường cong độ to 0; 10; 20;… 120 phon đối
với một người “trung bình”. Trên đồ thị này, trục tọa độ có trục tung là cường độ
âm đo bằng decibel, trên trục hoành ghi tần số âm đo bằng Hz nhưng đây là trục
logarith của tần số âm (nhằm thu gọn dải âm tần rất rộng).
Tất cả các điểm nằm trên mỗi đường cong tương ứng với các cường độ âm
và tần số âm khác nhau nhưng đều gây nên độ to như nhau đối với tai.
Đường thấp nhất tương ứng L0=0 phon là ngưỡng nghe, đường cao nhất tương
ứng L=120 phon là ngưỡng chói; giữa hai đường đó là miền nghe. Một âm nào đó có
các thông số nằm dưới miền nghe sẽ không nghe thấy được. Qua đồ thị ta có thể nhận
thấy tai “thính” nhất đối với các tần số trong khoảng từ 1000 Hz đến 2500 Hz.
Cường độ âm đo bằng decibel

Độ to của âm (phon)

Hình 1.6

15
Chú ý: Do cách ta qui ước đơn vị độ to nên tại tần số 1000 Hz, giá trị của
cường độ âm đo bằng decibel luôn luôn bằng giá trị độ to của âm đo bằng phon, tại
các tần số khác hiển nhiên hai giá trị này không giống nhau. Vì vậy ta cần tránh
nhầm lẫn hai đại lượng hoàn toàn khác nhau này. Để minh hoạ cho đồ thị hệ các
đường cong này, ta xét ví dụ: điểm có toạ độ (76 db; 60 Hz) thuộc đường cong 60
phon, điều đó có nghĩa là âm có tần số 60 Hz và cường độ 76 decibel gây nên cảm
giác độ to là 60 phon (cũng như âm có cường độ 60 decibel và tần số 1000 Hz)
Bảng 4.2. Độ to của một số âm điển hình
Loại âm thanh Cường độ âm (μW/cm2) Độ to (phon)
Ngưỡng nghe 10-10 0
-9
Tiếng tim đập (nghe trực tiếp) 10 10
-6
Nói thầm 10 40
-4
Nói to 10 60
-2
Radio mở to trong phòng 10 80
Động cơ môtô 1 100
2
Ngưỡng chói 10 120
8
Mức gây chết vì âm 10 180

1.4. HIỆU ỨNG DOPPLER VÀ ỨNG DỤNG


1.4.1. Hiệu ứng Doppler là gì?
Khi nguồn phát và nguồn thu sóng âm đứng yên tương đối với nhau thì khi
nguồn phát phát ra tần số ν , nguồn thu nhận được sóng âm cũng với tần số ν .
Những khi nguồn phát thu chuyển động tương đối với nhau thì tần số phát thu sẽ
khác nhau. Ta thấy rõ điều đó.
Khi đứng yên (nguồn thu) ta nghe thấy tiếng ô tô lại gần với tần số cao dần
lên và khi ô tô đi xa thì tần số lại thấp dần đi (nghe như trầm xuống).
Vậy hiệu ứng Doppler là hiệu ứng lệch tần số giữa nguồn phát và nguồn thu
thu được khi chúng chuyển động tương đối với nhau.
1.4.2. Giải thích
Gọi u là vận tốc chuyển động của nguồn âm A, u' là vận tốc chuyển động của
máy thu B và v là vận tốc truyền âm (v chỉ phụ thuộc môi trường truyền âm mà
không phụ thuộc sự chuyển động của nguồn âm). Ta quy ước rằng, nếu nguồn âm đi
tới gần máy thu thì u > 0, đi xa máy thu u < 0, nếu máy thu đi tới gần nguồn âm thì

16
u' > 0, đi xa nguồn âm thì u' < 0. Ngoài ra, ta nhận xét thêm rằng tần số ν của âm do
nguồn phát ra, về trị số bằng số sóng âm đã truyền đi trong một đơn vị thời gian.
1 v v
Thực vậy, ta có: ν = = =
T vT λ
ν
Tỷ số biểu diễn số sóng âm truyền đi trong một đơn vị thời gian. Vì vậy,
λ
muốn tính tần số của âm do máy thu nhận được, ta chỉ việc tính số sóng âm mà máy thu
đã nhận được trong một đơn vị thời gian.
Xét trường hợp tổng quát: Nguồn âm và máy đều chuyển động (u ≠ 0, u' ≠ 0).
Giả sử nguồn âm và máy thu đi tới gặp nhau (u > 0, u' > 0) (hình 1.7). Vì máy thu đi
tới gần nguồn âm nên có thể coi như vận tốc truyền âm v được tăng thêm một lượng
u' và bằng v' = v + u'.
v

A B
u>0 u' > 0

Hình 1.7
Như ta đã biết, vận tốc âm v chỉ phụ thuộc môi trường truyền âm mà không
phụ thuộc sự chuyển động của nguồn âm, nên khi nguồn âm chuyển động thì v
không thay đổi, mà chỉ có bước sóng λ của âm phát ra bị thay đổi. Thực vậy, ta biết
rằng sóng âm có tính chất tuần hoàn trong không gian với chu kỳ tương ứng với
bước sóng λ. Nghĩa là hai sóng liên tiếp phát ra cách nhau một khoảng thời gian
bằng chu kỳ T thì sẽ cách nhau một đoạn λ = vT. Nếu nguồn âm A đứng yên thì sau
một khoảng thời gian bằng chu kỳ T sóng a đo nguồn phát ra truyền đi được một
đoạn λ= v.T. Vậy sóng b do nguồn A vừa phát ra, phải cách sóng a một đoạn bằng
bước sóng λ đó. Nhưng do nguồn A chuyển động với vận tốc u nên trong khoảng
thời gian T này, nguồn A đã dời chuyển được một đoạn bằng uT, và trong trường
hợp nguồn A đi tới gặp máy thu B (u > 0) thì sóng b vừa phát ra phải cách sóng a
một đoạn:
λ' = λ - uT (1.16)
Do đó có thể coi bước sóng của âm do nguồn A phát ra đã bị giảm bớt một
lượng uT và trở thành λ'.

17
Cuối cùng, ta tính được tần số của âm mà máy thu đã nhận được trong
trường hợp nguồn âm và máy thu đi tới gặp nhau:
v' v + u'
ν' = =
λ ' λ − uT
1
Nhưng λ = vT và =ν
T
v + u'
Vậy ν' = .ν (1.17)
v−u
Công thức (1.17) chứng tỏ rằng trong trường hợp nguồn âm và máy thu chạy
lại gặp nhau thì tần số của âm mà máy thu nhận được sẽ lớn hơn tần số của âm do
nguồn phát ra (ν' > ν). Nói cách khác, âm mà máy thu nhận được sẽ cao hơn âm do
nguồn phát ra.
Còn nếu nguồn âm và máy thu đi xa nhau u < 0, u' < 0 thì theo công thức (9-33)
ta sẽ có ν' < ν, nghĩa là âm mà máy thu nhận được, sẽ thấp hơn do nguồn phát ra.
Ta có thể lấy thí dụ. Khi hai xe ô tô chạy lại gặp nhau, một xe bấm còi
(nguồn chuyển động), một xe không bấm còi. Người ngồi trên xe thứ hai (máy thu
chuyển động) nghe tiếng còi, phát ra từ xe thứ nhất, cao hơn mức thường. Khi hai
xe vừa qua khỏi để đi ra xa nhau thì người ngồi trên xe thứ hai nghe thấy tiếng còi
thấp hẳn xuống.
1.4.3. Ứng dụng
Hiệu ứng Doppler dùng để xác định tốc độ chuyển động của các vật khi xác
định được độ dịch chuyển tần số Δf . Nguồn phát đứng yên, phát ra tần số f0, gặp
đối tượng chuyển động phản xạ lại với tần số f.
Lúc sóng âm quay về nguồn phát lại đóng vai trò máy thu. Trong máy siêu
âm Doppler người ta dùng đầu dò (phát - thu).
Trong thực tế người ta dùng để đo tốc độ tàu hoả, ô tô đang chạy.
Trong Y học đo sự co bóp của cơ tim, đo tốc độ di chuyển của hồng cầu, lưu
lượng máu, chuẩn đoán các bệnh về tuần hoàn máu.

18
Chương 2
CƠ HỌC CHẤT LƯU

2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT LƯU


Chất lưu bao gồm các chất lỏng và các chất khí. Về mặt cơ học, một chất lưu
có thể quan niệm là một môi trường liên tục tạo thành bởi các chất điểm liên kết với
nhau bằng những nội lực tương tác (nói chung đó là lực hút)
Các chất lưu có những tính chất tổng quát sau:
1. Không có hình dạng nhất định.
2. Các chất lưu bao gồm các chất lưu dễ nén (chất khí) và các chất lưu khó
nén (chất lỏng).
3. Khi chất lưu chuyển động các lớp chất của nó chuyển động với những vận
tốc khác nhau, nên giữa các lớp chất này xuất hiện lực nội ma sát.
Chất lưu lí tưởng là chất lưu dược coi không chịu nén. Nó không có lực nhớt.
Một chất lưu không lý tưởng gọi là chất lưu thực.
Theo định nghĩa trên, mọi chất lưu đều là chất lưu thực. Tuy nhiên một chất
lưu rất linh động (không nhớt) có thể tạm gọi là chất lưu lý tưởng.
Ngoài ra, theo trên lực nội ma sát chỉ xuất hiện trong chất lưu chuyển động.
Vậy một chất lưu ở trạng thái nằm yên có gắn đầy đủ tính chất của một chất lưu lý
tưởng. Trong chương này chủ yếu chúng ta nghiên cứu các định luật chuyển động
của chất lỏng.
2.2. TĨNH HỌC CHẤT LƯU
2.2.1. Áp suất
Xét trong lòng chất lỏng một khối chất lỏng nằm
trong mặt kín S, gọi dS là một diện tích vi phân bao
quanh một điểm M bất kỳ của S.
Thực nghiệm chứng tỏ rằng phần chất lỏng ở ngoài
G
mặt kín S tác dụng lên dS một lực d F gọi là áp lực (lực nén). Hình 2.1
G
Trong trường hợp chất lỏng nằm yên, áp lực d F vuông góc với dS.
Ta có thể định nghĩa áp suất tại điểm M trong chất lỏng là:
dF
P= (2.1)
dS

19
Thực nghiệm cũng chững tỏ rằng với một chất lỏng lý tưởng áp suất P tại
điểm M là một đại lượng xác định (chỉ phụ thuộc
vào vị trí điểm M, không phụ thuộc vào hướng của
G
d F ). Biểu hiện cụ thể của áp suất là khi nhúng một
tấm mỏng vào trong một chất lỏng thì trên bề mặt
của vật ấy xuất hiện các lực nén (áp lực) do chất
lỏng tác dụng, có độ lớn như nhau và vuông góc Hình 2.2
với bề mặt tấm mỏng, bất kể tấm mỏng định hướng như thế nào.
Đơn vị đo: N/m2 (gọi là Pascan)
1pa = 1N/m2
1 atm = 1,013.105 pa
1 atm = 760 mmHg
1 at = 9,81.104 pa
2.2.2. Áp suất thuỷ tĩnh
Giả sử có một khối chất lỏng không chịu nén và ở
trạng thái tĩnh (đứng yên). Hãy xét một điện tích S nằm
ngang ở độ sâu h trong chất lỏng (hình 2.3)
Nếu không kể đến áp lực của khí quyển trên mặt
thoáng thì lực tác dụng lên diện tích S bằng trọng lượng
của cột chất lỏng ngay phía trên S.
F = P = m.g = V.D.g = S.h.D.g (2.2)
Hình 2.3
Trong đó: V = S.h (thể tích của cột chất lỏng)
D: Khối lượng riêng của chất lỏng
g: Gia tốc trọng trường
F
Áp suất thuỷ tĩnh: Ptt = = D.g.h (2.3)
S
Nếu áp suất của khí quyển trên mặt thoáng chất lỏng là P0 thì áp suất toàn
phần tác dụng lên diện tích S ở độ sâu h là:
P = P0 + D.g.h (2.4)
Chú ý: Hai điểm trong chất lỏng trên cùng một mặt phẳng ngang (cùng độ
sâu) thì áp suất tương ứng như nhau.

20
2.3. ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT LƯU LÝ TƯỞNG
2.3.1. Khái niệm về sự chuyển động của chất lỏng
2.3.1.1. Đường dòng
Xét một khối chất lỏng chuyển động, mỗi
phần tử chất lỏng có một vận tốc riêng được đặc tr-
G
ưng bởi một vectơ v .
Toàn bộ khối lượng chất lỏng gồm tập hợp vô
G
số các vectơ v . Đó là một trường vectơ vận tốc. Nếu Hình 2.4

trong trường vectơ vận tốc có một đường cong mà tiếp tuyến của đường cong này
G
tại bất kỳ một điểm nào trên đường cong đều trùng với vectơ vận tốc v của chất
lỏng thì đường cong đó gọi là đường dòng.
2.3.1.2. Ống dòng
Tập hợp nhiều đường dòng tựa trên một đường cong kín gọi là một ống dòng.
Khái niệm về đường dòng và ống dòng chỉ là những hình ảnh để mô tả sự
chuyển động của chất lỏng.
2.3.1.3. Chế độ chảy dừng
Trong sự chảy của chất lỏng nói chung vận
tốc của mỗi phân tử ở tại mỗi điểm (mỗi vị trí) tại
các thời điểm khác nhau là khác nhau. Nhưng
cũng có trường hợp vận tốc chuyển động của các
phân tử chất lỏng tại một vị trí xác định ở các thời
Hình 2.5
điểm khác nhau lại bằng nhau. Nghĩa là bất kỳ phân tử chất lỏng nào ở tại mọi thời
điểm đi qua một vị trí xác định tuỳ chọn đều có cùng một vận tốc chuyển động.
Trường hợp đó người ta nói chất lỏng ở trạng thái chảy dừng và chế độ chảy của
chất lỏng như vậy gọi là chế độ chảy dừng.
Ví dụ: Có một khối chất lỏng lý tưởng, tách một ống dòng để khảo sát. Tại vị trí (1)
JJG JJG
và (2) có tiết diện S1, S2; chất lỏng có vận tốc v1 , v 2 . Chất lỏng ở trạng thái chảy dừng.
2.3.2. Lưu lượng của chất lỏng
Là thể tích chất lỏng chảy qua một tiết diện nào đấy
trong một đơn vị thời gian. Ký hiệu là: L

Hình 2.6
21
Lưu lượng trung bình:
ΔV
L= (2.5)
Δt
Sau khoảng thời gian Δ t, có thể tích Δ V của chất lỏng chảy qua tiết diện Δ S.
Nếu chất lỏng ở trạng thái chảy dừng thì lưu lượng trung bình đúng bằng lưu
lượng tức thời. Gọi tắt là lưu lượng.
Gọi v là độ lớn của vận tốc chảy của chất lỏng khi đi qua tiết diện Δ S. Ta có:
ΔV ΔS.h ΔS.v.Δt
L= = =
Δt Δt Δt
L = ΔS.v ( ΔV = ΔS.v.Δt ) (2.6)
Lưu lượng của chất lỏng qua tiết diện Δ S bằng tích số giữa diện tích Δ S ấy
với độ lớn của vận tốc chảy v của chất lỏng khi đi qua diện tích ấy.
2.3.3. Định lý về sự liên tục của dòng
Giả sử có một khối chất lỏng lý tưởng ở trạng thái chảy dừng
Ta tưởng tượng tách riêng một ống dòng chứa chất lỏng để khảo sát sự
chuyển động của chất lỏng qua phần giới hạn giữa vị trí (1) và (2)
JJG
- Ở vị trí 1 của ống dòng chất lỏng có vận tốc v1 , tiết diện của ống là Δ S1.
JJG
- Ở vị trí 2 vận tốc chất lỏng là v 2 , tiết diện ống là Δ S2
Sau khoảng thời gian Δ t chất lỏng chảy
qua Δ S1 là Δ V1 và qua Δ S2 là Δ V2.
Vì chất lỏng đang xét là chất lỏng lý
tưởng ở trạng thái chảy dừng cho nên có bao
nhiêu chất lỏng chảy qua Δ S1 cũng có bấy
nhiêu chất lỏng chảy qua Δ S2.
Tức là: Δ V1 = Δ V2 Hình 2.7

Δ S1.v1. Δ t = Δ S2.v2. Δ t
Δ S1.v1 = Δ S2.v2
Hay L1 = L2
Nếu xét ở các vị trí trung gian bất kỳ khác nữa trên ống dòng ta có:
Δ S1.v1 = Δ S2.v2 = Δ S3.v3 = ... = Δ Snvn
L1 = L2 = L3 = ... = Ln = const (2.7)

22
Định lý: Với chất lỏng lý tưởng ở trạng thái chảy dừng thì lưu lượng của
nó ở mọi thời điểm trên ống dòng là bằng nhau và bằng một hằng số.
Trên thực tế chỗ ống nào có diện tích bé (hẹp) nước chảy xiết, chỗ nào có
diện tích lớn, nước chảy từ từ. Tức là khi Δ S nhỏ thì v lớn và ngược lại.
2.4. HIỆN TƯỢNG NHỚT. ỨNG DỤNG
Khi chất lỏng chảy với vận tốc nhỏ, nó sẽ
chảy thành lớp. Giả sử có một dòng chất lỏng chảy
theo một hướng xác định Ox.
Mỗi lớp chất lỏng có tốc độ lần lượt là v1,
v2, v3,...,vn (các hạt chất lỏng trong cùng một lớp
có vận tốc như nhau).
Do ma sát, các lớp tác dụng lên nhau. Lớp Hình 2.8

có v lớn hơn có xu hướng kép lớp có v nhỏ. Ngược lại, lớp chuyển động chậm chậm
kìm hãm lớp chuyển động nhanh. Xuất hiện lực ma sát nội (lực nhớt) Fms
Độ lớn của lực nội ma sát giữa hai lớp thứ j và j ở một nhiệt độ nhất định sẽ phải:
- Tỷ lệ thuận với dS là phần diện tích tiếp xúc giữa hai lớp i và j
- Tỷ lệ thuận với dv = vi - vj. Trong đó vi, vj là vận tốc thứ i và j.
- Tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai lớp (dz)
- Tuỳ thuộc vào bản chất của chất lỏng được đặc trưng bằng hằng số tỷ lệ.
Gọi là hệ số nhớt của chất lỏng η (eta).
Theo Niutơn:
dv
Fms = η .dS (2.8)
dz
dv
: gọi là gradiêng vận tốc. Cho thấy mức độ thay đổi của vận tốc khi đi từ
dz
lớp này qua lớp khác.
dv
Nếu dS = 1 đơn vị diện tích và = 1 Thì Fms = η
dz
Ý nghĩa vật lý của η : hệ số nhớt của chất lỏng chính bằng lực ma sát nội
xuất hiện giữa hai lớp chất lỏng có diện tích là 1 đơn vị và gradiêng vận tốc của
chúng bằng 1.

23
Lúc đó hệ số nhớt η chỉ phụ thuộc vào bản chất của chất lỏng và nhiệt độ
của chất lỏng. η 200C là một hằng số vật lý cùng với các hằng số vật lý khác dùng để
định tính các chất..
Chú ý: hệ số nhớt phụ thuộc vào nhiệt độ là vì lực nội ma sát gây ra do các
phân tử chất lỏng chuyển động tương đối với nhau. Khi nhiệt độ thay đổi thì trạng
thái chuyển động của các phân tử cũng thay đổi. Hệ số nhớt được xác định bằng
thực nghiệm, có ý nghĩa trong y học. Chẳng hạn xác định hệ số nhớt của máu, huyết
thanh cho ta biết tình trạng bệnh lý của cơ thể.
Đơn vị của η : N.s/m2 hay kg/m.s, gọi là poadơi
Bảng 2.1: Hệ số nhớt của một số chất ở 200C
Tên chất η (N.S/m2) η/η0

Nước 0,01 1
Rượu êtylic 0,012 1,2
Glycerin 8,5 850
Máu người 0,038 - 0,045 3,8 - 4,5

Hệ số nhớt của máu phụ thuộc vào cả huyết thanh và hồng cầu. Theo Anhstanh,
hệ số nhớt của một dung dịch chứa những hạt rất nhỏ phụ thuộc vào hệ số η của
riêng chất lỏng và thể tích V của tất cả các hạt trong 1cm3 dung dịch.
Như vậy lượng hồng cầu ảnh hưởng rất nhiều đến η của máu. Người thiếu
máu và người bình thường có hệ số η khác nhau.
Ngoài ra hệ số η cũng cho ta biết tình trạng của cơ thể. Bình thường η của
huyết thanh từ 1,64 - 1,69 ở 200C. Khi ốm có thể từ 1,5 - 3. Do tỷ lệ và chất lượng
của các albumin trong huyết thanh thay đổi.

24
Phần thứ hai: NHIỆT HỌC
Mở đầu: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1. Đối tượng


Trong phần cơ học ta đã nghiên cứu dạng chuyển động cơ, đó là sự thay đổi
vị trí của các vật vĩ mô trong không gian. Khi nghiên cứu chuyển động đó ta chưa
chú ý đến quá trình xảy ra bên trong vật, chưa xét đến những quá trình liên quan
đến cấu tạo của vật.
Thực tế có nhiều hiện tượng liên quan đến các quá trình xảy ra bên trong vật. Ví
dụ: vật có thể nóng chảy hoặc bốc hơi khi bị đun nóng, vật nóng lên khi bị ma sát ...
Những hiện tượng này liên quan đến một dạng chuyển động mới của vật chất đó là
chuyển động nhiệt. Chuyển động nhiệt chính là đối tượng nghiên cứu của nhiệt học.
Để nghiên cứu chuyển động nhiệt người ta dùng hai phương pháp:
• Phương pháp thống kê: Phương pháp này ứng dụng trong phần vật lý phân tử.
Ta biết rằng các chất cấu tạo bởi nguyên tử, phân tử riêng biệt rồi dựa vào
các qui luật thống kê để xác định các tính chất của vật. Phương pháp thống kê dựa
trên cấu tạo phân tử của các chất, nó cho biết sâu sắc bản chất của hiện tượng. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp việc ứng dụng phương pháp này tương đối phức tạp.
• Phương pháp nhiệt động học: Phương pháp này được ứng dụng trong phần
nhiệt động học.
Nhiệt động học là nghành vật lý nghiên cứu điều kiện biến hoá năng lượng từ
dạng này sang dạng khác và nghiên cứu những biến đổi đó về mặt định lượng.
Phương pháp nhiệt động học dựa trên hai nguyên lý cơ bản rút ra từ thực
nghiệm là nguyên lý thứ nhất và nguyên lý thứ hai của nhiệt động học. Nhờ các
nguyên lý này không cần chú ý đến cấu tạo phân tử của các vật ta cũng có thể rút ra
nhiều kết luận về tính chất của các vật trong những điều kiện khác nhau.
Mặc dù có những hạn chế ở chỗ không giải thích sâu sắc bản chất của hiện
tượng nhưng trong nhiều vấn đề thực tế nhiệt động học cho ta cách giải quyết rất
đơn giản.

25
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Thông số trạng thái và phương trình trạng thái
Khi nghiên cứu một vật nếu tính chất của nó thay đổi ta nói trạng thái của vật
đã thay đổi. Như vậy các tính chất của một vật biểu hiện trạng thái của vật đó và ta
có thể dùng một tập hợp các tính chất để xác định trạng của một vật. Mỗi tính chất
thường được biểu hiện bằng một đại lượng vật lý và như vậy trạng thái của một vật
được xác định bằng một tập hợp xác định các đại lượng vật lý. Các đại lượng vật lý
này được gọi là thông số trạng thái.
Trạng thái của một vật được xác định bởi nhiều thông số trạng thái. Tuy
nhiên trong đó chỉ có một số thông số độc lập, còn lại là các thông số phụ thuộc.
Những hệ thức giữa các thông số trạng thái của một vật gọi là những phương trình
trạng thái của vật đó.
Để biểu diễn trạng thái của một khối khí nhất định, người ta thường dùng ba
thông số trạng thái: thể tích V, áp suất P, nhiệt độ T của khối khí. Thực nghiệm
chứng tỏ rằng trong ba thông số đó chỉ có hai thông số là độc lập, nghĩa là giữa ba
thông số đó có một liên hệ được biểu diễn bởi phương trình trạng thái với dạng tổng
quát như sau:
f(p,V,T) = 0
Việc khảo sát dạng cụ thể của phương trình trạng thái là một trong những vấn
đề cơ bản của nhiệt động. Sau đây ta hãy xét hai thông số cơ bản áp suất và nhiệt độ.
1.2.2. Khái niệm áp suất và nhiệt độ
a. Áp suất
Áp suất là một đại lượng đại lý có giá trị bằng lực nén vuông góc lên một
đơn vị điện tích. Nếu ký hiệu F là lực nén vuông góc lên một diện tích ΔS thì áp
suất p cho bởi:
F
p=
ΔS
Trong hệ số SI đơn vị áp suất là Niutơn trên mét vuông (N/m2) hay Pascan (pa).
Ngoài ra để đo áp suất người ta còn dùng các đơn vị tính sau:
- Atmotphe kỹ thuật (gọi tắt là atmôphe, ký hiệu at) là áp suất bằng:
9.80665.104 = 9,81.104 N/m2.
- Atmotphe vật lý (ký hiệu atm); 1 atm = 760 mm Hg ≈ 1,013.105 N/m2; 1
atm = 1, 033 at.

26
- Milimet thuỷ ngân (viết tắt mmHg) hay còn gọi là tor bằng áp suất tạo bởi
trọng lượng cột thuỷ ngân cao 1 mm.
1 at = 736 mmHg = 9,81.104 N/m2
b. Nhiệt độ
Mỗi vật đều có một tính chất gọi là nhiệt độ, khi hai vật cân bằng nhiệt thì
nhiệt độ của chúng bằng nhau. Nhiệt độ đặc trưng cho mức độ chuyển động hỗn
loạn của phân tử.
Để xác định nhiệt độ người ta dùng nhiệt kế. Nguyên tắc của nhiệt kế là dựa
vào sự biến thiên của một đại lượng nào đó (chiều dài, thể tích, độ dẫn điện...) khi
đốt nóng hoặc làm lạnh rồi suy ra nhiệt độ tương ứng.
Nhiệt kế thường dùng là nhiệt kế thuỷ ngân. Trong nhiệt kế này nhiệt độ
được xác định bởi thể tích một khối thuỷ ngân nhất định.
Để chia độ một nhiệt kế thuỷ ngân người ta nhúng nó vào hơi nước đang sôi
ở áp suất 1,033 at (bằng áp suất khí quyển ở điều kiện bình thường) và ghi mức
thuỷ ngân là 100. Sau đó nhúng vào nước đá đang tan (cũng ở áp suất 1,033 at) và
ghi mức thuỷ ngân là 0. Đem chia đoạn trên thành 100 phần đều nhau, mỗi độ chia
tương ứng với một độ. Như vậy ta có thang nhiệt độ gọi là thang nhiệt độ bách phân
(hay thang Cenciut, trong thang này nhiệt độ ký hiệu là 0C ).
Ngoài thang bách phân, còn dùng thang nhiệt độ tuyệt đối (còn gọi là thang
nhiệt độ Kenlvin) mỗi độ chia của thang tuyệt đối bằng một độ chia của thang bách
phân, nhưng dộ không của thang tuyệt đối ứng với - 273,160 của thang bách phân.
Trong thang này nhiệt độ đo là Kelvin, ký hiệu là K.
Gọi: T là nhiệt độ trong thang tuyệt đối.
t: là nhiệt độ trong thang bách phân.
Ta có công thức
T = (t + 273,16) K
Trong các tính toán đơn giản ta thường lấy:
T = (t + 273) K
Ngoài ra người ta còn dùng thang nhiệt độ Farenhai là thang nhiệt độ trong
đó điểm của nước đá đang tan được lấy làm nhiệt độ 320 và điểm sôi của nước được
lấy làm nhiệt độ 2120. Nhiệt độ xác định theo thang nhiệt độ này gọi là nhiệt độ
Farenhai, kí hiệu là 0F. Như vậy:
n0C = (1,8n + 32) 0F

27
Chương 3
CÁC ĐỊNH LUẬT THỰC NGHIỆM VỀ CHẤT KHÍ
3.1. THUYẾT ĐỘNG HỌC CHẤT KHÍ VÀ KHÍ LÝ TƯỞNG
Hiện tượng nhiệt là hiện tượng liên quan chặt chẽ đến chuyển động hỗn loạn
của các phân tử tạo nên vật chất. Khi nghiên cứu vật chất được cấu tạo từ một số rất lớn
các phân tử ta không thể áp dụng phương pháp động lực học như trong phần cơ học
được. Vì vậy để nghiên cứu các hiện tượng nhiệt người ta phải dùng một phương pháp
khác. Đó là phương pháp vật lý thống kê. Phương pháp này không xét chuyển động
của từng phân tử riêng rẽ mà xét chuyển động chung của cả tập hợp phân tử và do đó
các đại lượng vật lý phải lấy giá trị trung bình đối với tất cả các phân tử.
Trước tiên ta xét cấu tạo vật chất từ các phân tử, đó là thuyết động học phân tử.
3.1.1. Nội dung thuyết động học phân tử
- Các chất có cấu tạo gián đoạn và gồm một số rất lớn các phân tử.
- Các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng. Khi chuyển động chúng
va chạm vào nhau và truyền năng lượng cho nhau.
- Cường độ chuyển động của các phân tử liên quan chặt chẽ đến nhiệt độ.
Cường độ phân tử càng mạnh thì nhiệt độ càng cao. Nhiệt độ tuyệt đối tỷ lệ với
động năng trung bình của phân tử.
3.1.2. Lượng chất và mol
Mol là lượng chất chứa 6,023.1023 hạt (nguyên tử, phân tử, ion), đựơc gọi là
số Avogađrô. Ký hiệu là NA.
NA = 6,023.1023 mol-1
Chú ý rằng mọi chất khí ở cùng nhiệt độ, áp suất và thể tích đều chứa cùng
một số phân tử. Nếu ký hiệu N là số phân tử chứa trong một vật thì số mol n sẽ là:
N
n= (3.1)
NA
3.1.3. Khí lý tưởng. Các định luật thực nghiệm
Để biểu diễn trạng thái vật chất như ta đã biết cần ba thông số chính đó là
áp suất, thể tích và nhiệt độ. Các định luật thực nghiệm về chất khí nêu lên mối
liên hệ giữa hai thông số trong 3 thông số trên. Cụ thể người ta xét các quá trình
biến đổi trạng thái của một khối lượng khí trong đó một số thông số được giữ
không đổi, cụ thể các quá trình:

28
- Đẳng nhịêt: nhiệt độ không đổi.
- Đẳng áp: áp suất không đổi.
- Đẳng tích: thể tích không đổi.
3.1.3.1. Định luật Bôilơ - Mariôt
Bôilơ (1669) và Mariôt (1676) nghiên cứu
quá trình đẳng nhiệt của chất khí, đã tìm ra định
luật sau đây:
Trong quá trình đẳng nhiệt của một khối
khí, thể tích tỷ lệ nghịch với áp suất, hay nói cách Hình 3.1

khác: tích số của thể tích và áp suất của khối khí là một hằng số
p.V = hằng số (3.2)
Nếu dùng hệ toạ độ OPV thì với một nhiệt độ không đổi, liên hệ giữa áp suất
và thể tích của một khối lượng khí nhất định được biểu diễn bằng một hypebôn
vuông (Hình 3.1). Đường hypebôn đó gọi là đường đẳng nhịêt. Ứng với các nhiệt
độ khác nhau ta đựơc các đường khác nhau. Nhiệt độ càng cao các đường đẳng
nhiệt càng xa gốc.
3.1.3.2. Định luật Gay-Luytxắc
Năm 1800, nghiên cứu các quá trình đẳng tích, đẳng áp của các chất khí
Gay- Luytxắc đã tìm ra các định luật sau đây:
- Trong quá trình đẳng tích của một khối khí, áp suất tỷ lệ với nhiệt độ tuyệt đối:
P
=const (3.3)
T
- Trong quá trình đẳng áp của một khối khí , thể tích tỷ lệ với nhiệt độ tuyệt đối:
V
=const (3.4)
T
Trên đồ thị dùng toạ độ OPT và OVT, đường biểu diễn là những đường
thẳng qua gốc O.
P V
V1 P1

V2 P2

O T O T
Hình 3.2 Hình 3.3

29
3.1.3.3. Giới hạn ứng dụng của các định luật thực nghiệm
Các định luật Bôilơ- Mariôt, Gay - Luytxắc chỉ là các định luật gần đúng.
Nếu áp suất chất khí quá lớn và nhiệt độ quá thấp tích số P.V và các hằng số hơi
khác nhau chút ít, chúng thay đổi tuỳ theo chất khí và tuỳ theo nhiệt độ.
Chúng ta gọi khí lý tưởng là chất khí hoàn toàn tuân theo ba định luật nói
trên. Hay chất khí lý tưởng là chất khí có thể bỏ qua sự tương tác giữa các phân tử,
nguyên tử.
Nhiều chất khí ở áp suất và nhiệt độ trong phòng có thể coi là khí lý tưởng

3.2. PHƯƠNG TRÌNH TRẠNG THÁI CỦA KHÍ LÝ TƯỞNG


3.2.1. Thành lập phương trình trạng thái
Xét một khối lượng khí M chuyển từ trạng thái I mà qua các thông số là P1,
V1,T1 sang trạng thái II có thông số là P1, V2, T2 qua
trạng thái trung gian có các thông số P2, V1’, T1 .
Trong quá trình đẳng nhiệt I sang I’. Ta có:
P1 .V1
P 2 .V1' = P1 .V1 => V 1' =
P2

Trong quá trình đẳng áp từ I’ sang II. Ta có:


V1' V2
=
T1 T2

V2 T1 Hình 3.4
=> V 1' =
T2

Thay V’1 vào ta có:


P1 .V1 T1 .V2
=
P2 T2

P1 .V1 P2 .V2
Do đó: =
T1 T2

P.V
Vậy tỷ số: ở trạng thái đều bằng nhau và ta viết:
T
P.V
= const = B (3.5)
T
Ta thấy trị số B phụ thuộc đơn vị đo P, V, T và phụ thuộc khối lượng khí M
và bản chất khí ta xét.

30
Theo định luật Avôgađrô ở áp suất P0 = 1,013.105 N/m2 nhiệt độ T0 = 273,13
K thể tích của kilemol của mọi chất khí đều bằng V ο = 22,4 m3. . Vậy công thức (*)
viết cho 1 kilômol thể tích V0 ta có:
P.V0 = R.T
Trong đó R là hằng số khí đúng với mọi chất khí.
Trong điều kiện cùng áp suất và nhiệt độ, thể tích chất khí tỷ lệ với khối
lượng khí. Do đó nếu gọi V là thể tích ứng với khối lượng M Kg, V0 là thể tích ứng
với khối lượng μ Kg = 1 Kmol thì ta có:
V M V.μ
= ⇒ V0 =
V0 μ M

Ta được dạng khác của phương trình trạng thái của khí lý tưởng:
M
P.V = .R.T (3.6)
μ

3.2.2. Giá trị của hằng số R


Khi nhiệt độ và áp suất ở điều kiện T0 = 273,13 oK; P0 = 1,013.105 N/m2.
Vậy ở trạng thái tiêu chuẩn này ta có:
P0 V0 1,013.10 5 N/m.22,4m 3 /Kmol
=R=
T0 273,130 K

=> R = 8,31.103 Jun/kmol.K


R = 0,0848 m3.atm/kmol.K
R = 8,31 Jun/mol. K
R = 0,0848 lit.atm/mol.K

31
Chương 4
CHẤT LỎNG

4.1. CẤU TẠOVÀ CHUYỂN ĐỘNG PHÂN TỬ CỦA CHẤT LỎNG


4.1.1. Trạng thái lỏng của các chất
Người ta thấy lúc nhịêt độ thấp hơn nhiệt độ tới hạn nào đó, nếu nén mạnh
chất khí, nó sẽ biến sang trạng thái lỏng. Thực nghiệm chứng tỏ rằng nếu tiếp tục
làm lạnh chất lỏng sẽ đông đặc và chuyển sang thể rắn. Vậy có thể nói trạng thái
lỏng là trạng thái trung gian giữa trạng thái khí và rắn.
Tuỳ theo nhiệt độ và áp suất, chất lỏng có tính chất gần chất khí và gần chất rắn.
Ở nhiệt độ gần nhiệt độ tới hạn không còn ranh giới giữa lỏng và khí nữa.
Ở nhiệt độ gần nhiệt độ đông đặc, chất lỏng lại có nhiều tính chất tương tự
chất rắn, lúc đó các phân tử lại không hoàn toàn chuyển động hỗn độn mà chúng
sắp xếp tương đối tương tự, gần giống như các tinh thể chất rắn. Tuy nhiên ở trạng
thái bình thường, chất lỏng có nhiều tính chất khác chất khí và chất rắn, ví dụ: tính
chảy được, không có hình dạng xác định...
Tính chất hai mặt của chất lỏng liên quan đến câu tạo và chuyển động phân
tử của nó.
4.1.2. Cấu tạo và chuyển động phân tử của chất lỏng
Ta biết rằng năng lượng chuyển động nhiệt của các phân tử chất lỏng vào cỡ
1
độ sâu của hố thế năng. Như vậy năng lượng ứng với một bậc tự do .kT sẽ bé hơn
2
độ sâu của hố, do đó các phân tử chất lỏng không dịch chuyển tự do mà chỉ thực
1
hiện các dao động quanh vị trí cân bằng. Tuy nhiên giá trị .K.T không nhỏ hơn độ
2
sâu của hố thế năng nhiều quá, vì vậy do thăng giáng động năng phân tử đủ lớn và
phân tử có thể vượt qua hố thế năng để di chuyển đến một vị trí cân bằng mới.
Người ta nói các phân tử chất lỏng sống đời “du mục” sau một thời gian “định cư ”
phân tử lại “nhổ lều” đi.
Thời gian dao động quanh vị trí cân bằng của chất lỏng phụ thuộc vào nhiệt độ.
Khi tăng nhiệt độ thời gian đó giảm, ở nhiệt độ gần nhiệt độ đông đặc, thời gian đó rất
lớn. Nghiên cứu về chuyển động phân tử trong chất lỏng, người ta dùng công thức:

32
W
τ = τ 0 .e k.T
(4.1)
Trong đó:
τ : thời gian dao động trung bình của phân tử quanh một vị trí cân bằng
K: Hằng số Bônzơman.
T: nhiệt độ tuyệt đối
τ 0 : chu kỳ dao động trung bình của phân tử quanh vị trí cân bằng.

W: năng lượng hoạt động của phân tử.


Với nước ở nhiệt độ thông thường τ =10-11 giây, trong khi đó τ 0 =10-13giây.
Như vậy, cứ dao động khoảng 100 chu kỳ, phân tử nước lại dịch đi chỗ khác.
4.2. CÁC HIỆN TƯỢNG MẶT NGOÀI CỦA CHẤT LỎNG
4.2.1. Áp suất phân tử
- Mặt cầu bảo vệ: Trong chất lỏng khoảng cách giữa các phân tử là nhỏ hơn
so với chất khí, vì vậy lực hút phân tử đóng vai trò đáng kể. Tuy nhiên lực hút phân
tử giảm nhanh theo khoảng cách, do đó chỉ những phân tử cách nhau một khoảng
nhỏ hơn 2r vào cỡ 10-9m mới tác dụng lên nhau. Nếu từ một phân tử làm tâm, ta vẽ
một mặt cầu bán kính r thì phân tử trên chỉ tương tác với các phân tử nằm trong mặt
cầu đó. Mặt cầu như vậy được gọi là mặt cầu bảo vệ (Hình 4.1).

Hình 4.1. Mặt cầu bảo vệ

- Áp suất phân tử: Ở vị trí (1), các phân tử nằm sâu trong lòng chất lỏng,
mặt cầu bảo vệ của chúng nằm hoàn toàn trong chất lỏng, lực tác dụng lên mỗi phân
tử đó về mọi phía bù trừ cho nhau. Đối với các phân tử nằm ở vị trí (3), chúng nằm
ở lớp mặt ngoài (có bề dày nhỏ hơn 10-9m) thì mặt cầu bảo vệ của chúng không
hoàn toàn nằm trong chất lỏng, có một phần nằm trong không khí, hút các phân tử
này lên phía trên với một lực rất yếu, không đáng kể, còn các phân tử chất lỏng ở

33
dưới hút các phân tử này với một lực lớn hơn, do đó lực tác dụng lên mỗi phân tử
đó không bù trừ cho nhau và mỗi phân tử chịu một lực tổng hợp hướng vào trong
chất lỏng. Lực này ép lên phần chất lỏng phía trong và gây nên một áp suất gọi là áp
suất phân tử. Đối với nước áp suất phân tử có giá trị đến hàng vạn atmophe.
- Đặc điểm: Mặc dầu áp suất phân tử rất lớn nhưng nó không nén được các
phân tử ở phía trong sít nhau lại. Vì khi các phân tử sít lại gần nhau một khoảng
cách nhỏ hơn r0 (r0 là khoảng cách mà tại đó lực hút cân bằng với lực đẩy) thì lúc đó
lực đẩy lại chống lại áp suất phân tử và làm cho các phân tử không sít lại nhau. Do
đó các chất lỏng có tính khó nén.
Cần chú ý rằng không thể đo đựơc áp suất phân tử vì nó luôn luôn hướng vào
trong lòng chất lỏng, nó không tác dụng lên thành bình và lên những vật nhúng vào
trong chất lỏng.
4.2.2. Năng lượng mặt ngoài và sức căng mặt ngoài của chất lỏng
4.2.2.1. Năng lượng mặt ngoài của chất lỏng
Lớp mặt ngoài của chất lỏng có những tính chất khác với phần bên trong
của chất lỏng. Ta biết rằng các phân tử lớp ngoài bị các phân tử ở phía trong hút,
vì vậy năng lượng của chúng ngoài động năng chuyển động nhiệt còn có thế năng
quy định bởi các lực hút đó. Nếu nhiệt độ đồng đều, thì năng lượng trung bình
chuyển động nhiệt của các phân tử mặt ngoài và phía trong giống nhau, còn về thế
năng thì khi đem phân tử từ các lớp trong ra mặt ngoài, ta cần thực hiện một công
chống lại lực hút phân tử công đó cũng làm tăng thế năng phân tử. Do đó các phân
tử ở lớp mặt ngoài có thế năng lớn hơn so với thế năng của các phân tử phía trong.
Như vậy các phân tử mặt ngoài có năng lượng tổng cộng lớn hơn so với năng
lượng của các phân tử phía trong. Phần năng lượng lớn hơn đó đựơc gọi là năng
lượng mặt ngoài của chất lỏng.
Số phân tử lớp mặt ngoài càng nhiều thì năng lượng mặt ngoài càng lớn , vì
vậy năng lượng mặt ngoài tỷ lệ với diện tích mặt ngoài.
Gọi Δ E và Δ S là năng lượng và diện tích mặt ngoài, ta có
Δ E = δ .ΔS (4.2)
δ là một hệ số tỷ lệ phụ thuộc chất lỏng gọi là hệ số sức căng mặt ngoài.
Trong hệ SI đơn vị của δ là Jun trên met vuông (J/m2 = N/m).

34
Ta biết rằng một hệ ở trạng thái cân bằng bền lúc thế năng cực tiểu, vì vậy
chất lỏng ở trạng thái cân bằng bền lúc diện tích mặt ngoài của nó nhỏ nhất. Thông
thường do tác dụng của trọng lực nên chất lỏng choán phần dưới của bình chứa và
mặt ngoài là mặt thoáng nằm ngang nhưng nếu ta khử tác dụng của trọng lực, thì
khối chất lỏng sẽ có dạng hình cầu, tức là hình có diện tích mặt ngoài nhỏ nhất
trong các hình có cùng thể tích.
Thí nghiệm sau đây cho ta thấy điều đó. Bỏ một ít giọt dầu vào trong dung dịch
rượu cùng tỷ trọng (không hoà tan dầu ); trọng lượng của các giọt dầu triệt tiêu bởi sức
đẩy Acsimet nên các giọt dầu có dạng những quả cầu lơ lửng trong dung dịch.

Nước + Rượu
Dầu

Hình 4.2 Những giọt dầu trong dung Hình 4.3 Vòng chỉ dạng hình tròn
dịch có dạng hình cầu
Nếu lấy một khung dây thép nhúng vào nước xà phòng ta sẽ được một màng
xà phòng phủ kín khung. Thả vào đó một vòng chỉ rồi chọc thủng màng xà phòng ở
phía trong vòng chỉ, vòng chỉ sẽ trở thành hình tròn. Sở dĩ như vậy vì do điều kiện
năng lượng cực tiểu nên diện tích màng xà phòng còn lại phải nhỏ nhất, tức là diện
tích thủng phải lớn nhất. Muốn vậy thì diện tích thủng phải là hình tròn, vì trong các
hình cùng chu vi, hình tròn có diện tích lớn nhất.
4.2.2.2. Sức căng mặt ngoài
Các thí nghiệm trên đây chứng tỏ diện tích mặt
ngoài của chất lỏng có khuynh hướng tự co lại, vì vậy một
phương diện nào đấy, mặt ngoài chất lỏng giống như một Δx

màng cao su bị căng. Để giữ nguyên tình trạng mặt ngoài M N

của chất lỏng, ta phải tác dụng lên chu vi mặt ngoài những G
F
lực vuông góc với đường chu vi và tiếp tuyến với mặt Hình 4.4
ngoài, lực đó gọi là sức căng mặt ngoài.

35
Để tính giá trị sức căng mặt ngoài người ta làm thí nghiệm sau:
Lấy một khung dây thép có cạnh MN chiều dài bằng 1, có thể linh động
được (Hình 4.4).
Nhúng khung vào nước xà phòng và lấy ra, ta đựơc màng xà phòng. Để màng
xà phòng khỏi co lại, cần phải tác dụng lên MN một lực F đúng bằng sức căng mặt
ngoài. Dịch chuyển cạnh MN một đoạn Δ x, diện tích mặt ngoài tăng lên một lượng là:
Δ S = 2.l. Δ x
Sở dĩ có thừa số 2 trong vế phải là vì màng xà phòng có hai mặt ngoài ở hai phía.
Công thực hiện bởi lực F trong dịch chuyển Δ x là:
A = F. Δ x
Công này dùng để làm tăng diện tích mặt ngoài lên Δ S, tức là đã làm tăng
năng lượng mặt ngoài lên một lượng Δ E. Theo (4.2) ta có:
Δ E = Δ A = δ.ΔS
Từ đó ta suy ra:
F = δ.2.l (4.3)
2l chính là chiều dài của đường kính chu vi.
Trường hợp tổng quát, sức căng có thể thay đổi được dọc theo đường chu vi,
lúc đó xét một đoạn Δ l đủ nhỏ của chu vi, ta áp dụng công thức trên:
ΔF = δ.Δl (4.4)
Trong đó Δ F là sức căng tác dụng lên đoạn Δ l.
Từ (4.4) ta thấy nếu Δ l bằng một đơn vị chiều dài thì δ = Δ F. Vì vậy có thể
định nghĩa δ như sau: Hệ số sức căng mặt ngoài là một đại lượng vật lý về trị số
bằng sức căng mặt ngoài tác dụng lên một đơn vị chu vi mặt ngoài.
Trong hệ SI, δ đo bằng đơn vị Niutơn/met. Với một chất lỏng cho trước,
δ phụ thuộc nhiệt độ, khi nhiệt độ tăng thì δ giảm.
Bảng sau có giá trị sức căng mặt ngoài của một số chất lỏng ở 200C.

Chất lỏng ở 200C δ (N/m)


Nước 0,073
Thuỷ ngân 0,540
Ete 0,017

36
Ứng dụng của hiện tượng:
- Giải thích sự tạo thành lớp bọt trong chất lỏng: Giả sử có một bọt không khí
ở trong chất lỏng, nó sẽ nổi lên mặt. Tới mặt chất lỏng, bọt khí sẽ đội một lớp mỏng
chất lỏng có dạng hình vòm. Nếu bọt không khí đủ nhỏ thì nó không thể xé rách lớp
mặt ngoài và chịu ở dưới mặt chất lỏng. Những bọt nhỏ như vậy tạo thành lớp bọt.
- Sự tạo thành giọt khi chất lỏng chảy qua một lỗ nhỏ: Khi chất lỏng chảy
ra khỏi một ống thẳng đứng thì do sức căng mặt ngoài, chất lỏng không thể ngay
một lúc chảy ra khỏi ống. Chất lỏng chảy ra từ từ và phía trên giọt chất lỏng bị thắt
lại. Lúc trọng lượng giọt chất lỏng thắng sức căng mặt ngoài thì chỗ thắt bị đứt và
tạo thành một giọt nước rơi xuống. Nếu lỗ rát nhỏ và áp suất chất lỏng không đủ lớn,
giọt chất lỏng sẽ không chảy ra ngoài được. Thí dụ nước mưa không chảy qua được
các lỗ nhỏ của vải bạt ... Chính điều đó trong Y học người ta có thể lấy giọt thuốc
làm đơn vị liều.

Hình 4.5 Hình 4.6

4.2.3. Hiện tượng dính ướt và không dính ướt


Thông thường ở điều kiện cân bằng thuỷ tĩnh mặt thoáng của chất lỏng là
mặt nằm ngang. Nhưng ở chỗ chất lỏng tiếp xúc với thành bình do ảnh hưởng của
lực phân tử phía thành bình, mặt thoáng của chất lỏng bị cong đi.
Gọi O là điểm mặt thoáng chạm thành bình, tại vị trí đó không những tồn tại lực
hút phân tử của chất lỏng mà còn có lực hút phân tử của chất rắn đối với chất lỏng.
4.2.3.1. Hiện tượng dính ướt
Gọi F1 là tổng cộng các lực của các phân tử nứơc tác dụng lên phân tử A nằm
sát thành bình.
Gọi F2 là tổng lực các phân tử thành bình tác dụng lên phân tử A.
Trường hợp lực F2 có giá trị số lớn hơn F1 thì tổng hợp lực F hướng vào
thành bình, chính lực này đã đẩy các phân tử chất lỏng xô vào thành bình tạo thành
mặt cong lõm: chất lỏng làm ướt bình.

37
Dạng mặt ngoài của chất lỏng được xác định bởi góc làm ướt θ . Đó là góc
giữa tiếp tuyến của bề mặt chất lỏng và thành bình tiếp xúc với chất lỏng.
Nếu θ < 900: ta nói chất lỏng làm ướt vật. Ví dụ: nước làm ướt thuỷ tinh,
giọt dầu loang rộng trên mặt nước...
Nếu θ = 00 ta nói làm ướt hoàn toàn.
4.2.3.2. Hiện tượng không dính ướt
Trường hợp F2 có trị số bé hơn F1 nên tổng hợp lực F hướng vào lòng chất
lỏng, lực này đẩy các phân tử xô vào lòng chất lỏng tạo mặt cong lồi: chất lỏng
không làm ướt bình.
Trong trường hợp này góc θ > 900. Ví dụ thuỷ ngân trong thuỷ tinh góc θ = 1690.
Nếu θ =1800. Chất lỏng không làm ướt hoàn toàn chất rắn
Góc θ phụ thuộc bản chất các chất tiếp xúc với nhau, phụ thuộc trạng thái bề
mặt tiếp xúc chất lỏng.

Hình 4.7

Hình 4.8.Góc làm ướt θ

Hiện tượng làm ướt và không làm ướt thường hay gặp trong thực tế: Mực là
ướt ngòi bút nên mới dính vào ngòi bút, nước mưa không làm ướt một số lá cây (lá
mon, lá khoai, sen ...), ứng dụng trong kỹ thuật tuyển khoáng để làm giàu quặng ...

38
4.3. HIỆN TƯỢNG MAO DẪN
4.3.1. Áp suất phụ dưới mặt khum
Như ta đã biết mặt thoáng chất lỏng do tồn
tại sức căng mặt ngoài nên có thể coi như một
màng đàn hồi, do đó nó có dạng lồi lên hoặc lõm
xuống. Bề mặt cong có xu hướng có diện tích tạo ra
một áp suất ΔP phụ thêm vào áp suất phân tử.
Trường hợp bề mặt chất lỏng là mặt thoáng
lồi (chất lỏng không làm ướt chất rắn), diện tích
này chịu tác dụng của các lực do các phần mặt Hình 4.9
thoáng xung quanh kéo ra, tiếp tuyến mặt, có thể phân tích thành lực nằm ngang và
lực hướng xuống dưới. Kết quả chung là mặt thoáng lồi chịu tác dụng một áp suất
phụ ΔP hướng xuống phía dưới.
Trường hợp mặt thoáng lõm, diện tích này chịu tác dụng của các lực do các
phần mặt thoáng xung quanh kéo ra (tiếp tuyến mặt) có thể phân tích thành lực nằm
ngang và lực hướng lên trên. Kết quả chung là mặt thoáng lõm chịu tác dụng một áp
suất phụ hướng lên trên.
Áp suất phụ ΔP này được tính theo công thức:

ΔP= (4.5)
R
Trong đó R là bán kính của mặt cong, δ là hệ số sức căng mặt ngoài,
Công thức có thể chứng minh như sau:
Xét một mặt cong dạng chỏm cầu, đặc trưng bằng bán kính cong R và khẩu
kính r (Hình 4.9). Xét một phân tử Δ l trên chu vi C, nó chịu tác dụng của một lực
JJG JJG
căng ΔF,ΔF vuông góc với Δl và tiếp tuyến với mặt cong.
JJG
Từ công thức: ΔF=δ.Δl . Phân tích ΔF thành hai lực thành phần: thành phần
JJG JJG
nằm ngang ΔF2 và thành phần thẳng đứng ΔF1 . Từ hình 1:
ΔF1 = ΔF .sin β và ΔF2 =ΔF.cosβ

Thành phần ΔF 1 gây ra áp suất phụ. Tính sức căng lên chất lỏng bằng tổng
các lực ΔF 1 và có độ lớn:

39
r δ.r
F = ∑ ΔF1 = ∑ ΔF.sinβ = ∑ δ.Δl. = . ∑ Δl
R R
Vì rằng ∑ Δl bằng chu vi vòng tròn C, nên ta có:
δ.r δ.2π.r 2
F= .2π.r=
R R
Lực này phân phối đều và ép lên diện tích chỏm cầu là π .r 2 , tạo ra áp suất
phụ ΔP . Do đó áp suất phụ ΔP sẽ là:
F 2π.r 2 .δ 2δ
ΔP = = = (4.6)
S R.π.r 2 R
Trường hợp mặt khum lõm:
2.δ
ΔP =- (4.7)
R
Hai công thức (4.6) và (4.7) có thể viết chung:
2.δ
ΔP = (4.8)
R
Với qui ước: R > 0 nếu bán kính mặt cầu hướng về phía chất lỏng.
R<0 nếu bán kính mặt cầu hướng ra khỏi chất lỏng.
Trường hợp mặt thoáng là mặt phẳng (R = ∞ ) áp suất phụ ΔP =0.
Ý nghĩa của áp suất phụ trong sự chảy của chất lỏng trong ống dẫn hình
trụ là ở chỗ: trong một ống dẫn chất lỏng thực mà có bọt khí, áp suất phụ có thể
làm cho chất lỏng không chảy được. Hiện tượng bọt khí cản chuyển động này được
gọi là chuỗi hạt mao quản.
Thật vậy, xét một ống dẫn có bọt khí bên trong ta thấy:
- Nếu chất lỏng đứng yên hai áp suất phụ Δ P1 và Δ P2 hướng vào mặt khum
lõm. Nếu ống trụ đều thì Δ P1= Δ P2 nhưng ngược chiều nhau (Hình 4.10a).
- Nếu chất lỏng chuyển động (từ trái sang phải chẳng hạn) mặt 1 bị bẹt ra,

bán kính cong lớn lên, do đó: Δ P1 = sẽ bé, mặt 2 lõm vào, bán kính cong R2 bé
R1


đi, do đó Δ P2 = sẽ lớn lên. Δ P2 có giá trị lớn hơn Δ P1 sẽ cản chuyển động của
R2

chất lỏng (Hình 4.10b). Tác dụng cản chuyển động càng tăng khi có một chuỗi bọt
(Hình 4.10c) gọi là chuỗi hạt mao quản hoặc khi có bọt chỗ phân nhánh.

40
Từ đó ta thấy khi có bọt khí lọt vào mạch máu có thể làm ngưng sự tuần
hoàn. Do đó cần chú ý đẩy hết bọt khí trước khí tiêm thuốc vào tĩnh mạch. Thợ lặn
trước khi lên khỏi mặt nước phải cho áp lực khí trong bộ đồ lặn giảm từ từ nếu
không thì khí nitơ tan trong máu thoát ra nhanh làm phổi không kịp bài tiết sẽ tạo
thành chuỗi hạt mao quản ngăn cản sự tuần hoàn. Những phi công lái máy bay ở
tầng cao của khí quyển nếu buồng lái không kín cũng có thể gặp tại nạn tương tự
như thợ lặn.

Hình 4.10. Ảnh hưởng của bọt khí Hình 4.11

4.3.2. Hiện tượng mao dẫn


Nhúng một ống thuỷ tinh có tiết diện nhỏ
vào một cốc đựng chất lỏng thì nhận thấy mặt chất
lỏng trong ống thuỷ tinh có thể lõm hoặc lồi, dâng
cao hơn hay hạ thấp hơn so với mực ngoài, đó là
hiện tượng mao dẫn.
Do hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hình 4.12
bề mặt chất lỏng trong ống bị cong sẽ chịu thêm một áp suất phụ hướng lên trên (mặt
lõm xuống) hoặc hướng xuống dưới (mặt lồi lên) làm giảm áp suất khí quyển (hoặc
tăng) trên mặt ống. Do đó chất lỏng phải dâng lên để cho áp suất tại hai điểm có cùng
độ cao phải bằng nhau.
Ta tính độ cao dâng lên hay hạ xuống trong ống. Giả sử chất lỏng làm ướt chất
rắn (nước và thuỷ tinh), tiết diện cong của mặt thoáng là một chỏm cầu bán kính R.
Gọi h cột chiều cao của chất lỏng trong ống mao dẫn, θ là góc bờ.

41
Ở trạng thái cân bằng áp suất giữa hai điểm A và B có cùng độ cao phải bằng nhau:
PA = PB → PA = P0
PB= P0 - Δ P + ρ.g.h
Ta có:
Δ P = ρ.g.h

=ρ.g.h
R
Bán kính cong R thường khó xác định nên ta thay bằng bán kính r của ống
mao quản. Ta có biểu thức:
r = R.cos θ
Từ đó ta suy ra:
2δ.cosθ
=ρ.g.h
r
Và:
2.δ.cosθ
h= (4.9)
r.ρ.g

Công thức (4.9) được gọi là công thức Giurin(Jurin). Từ công thức (4.9) ta
nhận thấy: dấu của cos θ cho phép xác định xem chất lỏng dâng lên hay hạ xuống
trong ống mao dẫn.
π
+ Khi 0 < θ < : chất lỏng làm ướt chất rắn thì cos θ > 0 và chất lỏng dâng
2
lên trong ống (h > 0).
π
+ Khi < θ ≤ π : chất lỏng không làm ướt chất rắn thì cos θ < 0 và chất lỏng
2
hạ xuống (h < 0).
Từ đó ta nhận thấy có thể xác định hệ số sức căng mặt ngoài bằng cách đo
chiều cao h và bán kính r của ống mao quản.
Trong trường hợp chất lỏng làm ướt hoàn toàn chất rắn thì θ =00. Do đó
cos θ =1 và công thức Guirin trở thành:
2δ ρ.g.r.h
h= => δ= (4.10)
r.ρ.g 2

42
Nhiều hiện tượng trong đời sống kỹ thuật và tự nhiên được giải thích bằng
hiện tượng mao dẫn: bông, bấc đèn, giấy thấm...có khả năng hút các chất lỏng vì
khe hẹp trong các chất này là các ống mao dẫn. Các chất dinh dưỡng nước được
chuyển từ dưới lên trên ở những cây cao vài mét, còn những cây cao hàng chục mét
ngoài hiện tượng mao dẫn để dẫn nước và các chất dinh dưỡng nuôi cây còn có hiện
tượng thẩm thấu của các tế bào sống nữa vì sức mao dẫn chỉ đưa nhựa và các chất
khác lên cao được vài met.
4.4. HIỆN TƯỢNG SÔI, HIỆN TƯỢNG BAY HƠI
4.4.1. Hiện tượng bay hơi
Chất lỏng đựng trong bình không kín thường có sự bay hơi. Đó là hiện tượng
chất lỏng biến thành chất hơi.
Sự bay hơi xảy ra trong mọi nhiệt độ, nhưng nhiệt độ càng cao thì sự bay hơi
xảy ra càng mạnh.
Điều kiện để có sự bay hơi: muốn bay hơi ra khỏi mặt thoáng các phân tử
chất lỏng cần một động năng nào đó để thắng lực hút trong chất lỏng, lực đó gây ra
bởi các phân tử chất lỏng dưới mặt thoáng.
Gọi A là công giữ các phân tử khỏi bay hơi thì các phân tử phải có động
năng thoả mãn các điều kiện sau đây:
m.Vn2
≥A (4.11)
2
Trong đó: m là khối lượng phân tử.
Vn là thành phần vận tốc theo phương pháp tuyến với mặt thoáng.
Nhiệt độ của khối chất lỏng càng cao, số phân tử có
vận tốc lớn càng nhiều, số phân tử thoả mãn điều kiện bay hơi
tăng lên do đó hiện tượng bay hơi xảy ra mạnh hơn. --- - - - - - -
4.4.2. Hiện tượng sôi - - - - - - - -
------ -h- - -
4.4.2.1. Định nghĩa -- -- - - - -
Hiện tượng sôi là hiện tượng bay hơi không những ở - - - - - - - --
- - - - - - -
trên bề mặt mà ngay cả ở trong khối chất lỏng.
Hình 4.13
4.4.2.2. Giải thích
Khi ta đun chất lỏng các bọt hơi xuất hiện ở đáy nồi đun và xung quanh
thành nồi. Bọt hơi ở trong lòng chất lỏng chịu tác dụng của các áp suất.
43
- Áp suất trên bề mặt: P0
- Áp suất thuỷ tĩnh: Ptt
- Áp suất phụ: ΔP
- Áp suất hơi bão hoà.
Trong đó áp suất hơi bão hào trong bọt khí chống lại áp suất nén, áp suất
thuỷ tĩnh và áp suất phụ. Điều kiện sôi:
Pbh = P0 + Ptt + ΔP

Pbh = P0+ ρ.g.h + (4.12)
R
Thông thường áp suất thuỷ tĩnh rất nhỏ so với áp suất nén P0 coi Ptt ≈ 0 .

Áp suất phụ ΔP = , khi nhiệt độ càng tăng bọt hơi càng lớn dần, vậy bán
R
kính R càng tăng, do đó ΔP càng giảm, thông thường ΔP <<P0 có thể bỏ qua được.
Vậy điều kiện sôi: Pbh ≥ P0
Nhiệt độ khối chất lỏng ứng với điều kiện sôi gọi là nhiệt độ sôi hay điểm sôi.
Đối với mỗi chất lỏng ở điều kiện bình thường điểm sôi là một hằng số. Do
đó nhờ vào tính chất này, ta có thể các định định tính các chất.
4.4.2.3. Nhiệt lượng sôi riêng (Xs)
Nhiệt lượng sôi riêng (Xs) là nhiệt lượng cần thiết để biến một khối lượng
chất lỏng đã ở nhiệt độ sôi hoàn toàn biến thành hơi.
dPbh X
Thực nghiệm đã xác nhận: = 0 S (4.13)
Ts TS . ( Vv -Vl )
Trong đó:
T0s: nhiệt độ sôi.
Vh: thể tích riêng của chất ở thể hơi.
Vl: thể tích riêng của chất ở thể lỏng.
dTs0 Ts0 . ( Vh -Vl )
Ta có: = (4.14)
dPbh Xs
dTs0
Vì (Vh- Vl) > 0, > 0 : hàm đồng biến.
dPbh
Ứng dụng: Dùng hấp tiệt trùng: P ↑ , do đó T0 ↑ hoặc cô dung dịch ở nhiệt
độ thấp: P ↓ , do đó T0 ↓ .

44
Phần thứ ba: ĐIỆN TỪ
Chương 5: TĨNH ĐIỆN

5.1. KHÁI NIỆM MỞ ĐẦU


5.1.1. Sự nhiễm điện do cọ sát
Từ thế kỷ VI trước công nguyên người ta đã nhận thấy khi đem cọ sát thuỷ
tinh, êbônit và một số vật khác vào len dạ, thì thuỷ tinh, êbônit... có khả năng hút
các vật nhẹ như giấy vụn, lông chim... Hiện tượng đó gọi là hiện tượng nhiễm điện
do cọ sát. Thuỷ tinh, êbônit... được gọi là vật nhiễm điện.
Qua sự nhiễm điện do cọ sát người ta thấy chỉ xuất hiện 2 loại điện tích:
- Loại điện tích xuất hiện giống như ở thuỷ tinh khi cọ sát vào len dạ gọi là
điện tích dương (+).
- Loại điện tích xuất hiện như ở thanh êbônit khi cọ sát vào len dạ gọi là điện
tích âm (-).
Qua thực nghiệm còn thấy các loại điện tích tương tác với nhau: hai điện tích
cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau.
5.1.2. Sơ lược về thuyết điện tử
Qua nhiều thí nghiệm các nhà bác học đã đi đến kết luận:
- Điện tích trên một vật mang điện bất kỳ có cấu tạo gián đoạn, nó luôn luôn
bằng một số nguyên lần của một điện lượng nhỏ nhất gọi là điện tích nguyên tố:
điện tích nguyên tố có giá trị q 0 = 1,6.10-19 C. Các hạt mang điện tích nguyên tố có

electron mang điện tích nguyên tố âm, proton mang điện tích nguyên tố dương.
- Proton và điện tử (electron) đều có trong thành phần cấu tạo nguyên tử
của mọi chất. Proton nằm ở hạt nhân nguyên tử, điện tử chuyển động xung quanh
hạt nhân.
- Ở trạng thái bình thường số proton và điện tử của một nguyên tử luôn luôn
bằng nhau (bằng số thứ tự Z của nguyên tố trong bảng tuần hoàn Mendeleep), ta nói
nguyên tử trung hoà về điện. Nếu vì lý do nào đó nguyên tử mất, thu thêm điện tử
sẽ trở thành một phần tử mang điện. Nếu mất điện tử nguyên tử sẽ mang điện dương
gọi là ion (+), nếu thu thêm điện tử nguyên tử trở thành mang điện âm gọi là ion (-).

45
Học thuyết căn cứ vào chuyển động của điện tử để giải thích các hiện tượng
về điện gọi là thuyết điện tử.
5.1.3. Định luật bảo toàn điện tích
Các hiện tượng về điện luôn luôn tuân theo định luật bảo toàn điện tích: Các
điện tích không thể tự nhiên sinh ra, cũng không tự biến mất nó chỉ có thể
truyền từ vật này sang vật khác hoặc phần này sang phần khác của vật.
Nói một cách khác: Tổng đại số các điện tích trong một hệ cô lập là không đổi.
Thí dụ: Khi cọ sát thuỷ tinh vào len dạ nếu thuỷ tinh mang điện dương thì
điện tử từ thuỷ tinh đã mất đi, có nghĩa là nó phải chuyển sang len dạ, do đó len dạ
phải mang điện âm. Độ lớn điện tích trên hai vật luôn luôn bằng nhau nếu trước đó
hai vật đều chưa mang điện.
5.1.4. Vật dẫn điện, vật cách điện
5.1.4.1. Vật dẫn điện
Là những vật mà điện tích có thể chuyển động tự do trong toàn bộ thể tích
của vật. Thí dụ như kim loại, các dung dịch điện phân, chất khí đã bị ion hoá, các cơ
thể sống...
5.1.4.2. Vật cách điện (điện môi)
Là các vật mà điện tích không thể chuyển động từ điểm này đến điểm kia của
vật (không có điện tích tự do). Thí dụ: Thuỷ tinh, êbônit, cao su, gỗ, không khí khô ...
Chú ý: Sự phân chia ra vật dẫn điện và cách điện chỉ có tính chất quy ước.
Thực vậy trong những điều kiện nhất định vật nào cũng có thể dẫn điện được, chúng
chỉ khác nhau là độ dẫn điện nhiều hay ít. Khi thay đổi điều kiện thì tính dẫn điện
thay đổi. Thí dụ: thủy tinh ở điều kiện bình thường dẫn điện rất yếu (không dẫn
điện) nhưng ở nhiệt độ cao có thể dẫn điện.
Ngoài ra có một nhóm chất có tính chất dẫn điện trung gian giữa vật dẫn điện
và điện môi. Đó là các chất bán dẫn.
Trong chương này chỉ nghiên cứu tương tác và tính chất của các điện tích
đứng yên (so với hệ quy chiếu dùng để nghiên cứu điện tích đó).
5.2. ĐỊNH LUẬT CULÔNG (COULOMB)
Như ta đã biết các điện tích tương tác với nhau: cùng dấu thì đẩy nhau, khác
dấu thì hút nhau. Tương tác giữa hai điện tích đứng yên gọi là tương tác tĩnh điện
(hay là tương tác Culông).

46
1875 Culông, nhà bác học người Pháp bằng thực nghiệm đã xác định được
lực tương tác giữa hai điện tích điểm.
5.2.1. Điện tích điểm
Là những vật mang điện có kích thước nhỏ không đáng kể so với khoảng
cách từ điểm đó đến những điểm hoặc những vật mang điện khác mà ta đang khảo
sát. Như vậy khái niệm điện tích điểm chỉ có tính chất tương đối, tương tự như khái
niệm chất điểm trong cơ học.
5.2.2. Định luật Culông trong chân không
Giả sử có hai điện tích điểm q1, q2 đặt
trong chân không cách nhau một khoảng r.
Định luật Culông phát biểu như sau: Lực
tương tác giữa hai điện tích điểm có phương
nằm trên đường thẳng nối hai điện tích, có
Hình 5.1
chiều: 2 điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, 2
điện tích khác dấu hút nhau (Hình 5.1). Có độ lớn tỷ lệ thuận với tích số độ lớn của
hai điện tích, tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai điện tích đó.
Về mặt độ lớn ta có:
G G q q
F21 = F12 =K. 1 2 2 (5.1)
r
Trong đó K là hệ số tỷ lệ. Trong hệ SI:
1
K= ;ε 0 được gọi là hằng số điện, có giá trị: ε 0 = 8,86.10-12(N-1.C2m-2)
4πε 0

K= 9.109 (N.C-2m2)
Ta có thể biểu diễn định luật Culông dưới dạng vectơ như sau:
G
Kẻ vectơ r gốc q1 ngọn q2 thì:
G G
1 q1q 2 r
F12 = (5.2)
4πε 0 r 2 r
G G
F21 =-F12 (5.3)
5.2.3. Định luật Culông trong các môi trường
Thực nghiệm cũng chứng tỏ nếu hai điện tích điểm đặt trong chất điện môi
có cùng khoảng cách như khi chúng đặt trong chân không thì lực tương tác sẽ giảm
đi ε lần.

47
Công thức (5.1) sẽ là:
G G
1 q1q 2 r
F12 = (5.4)
4πε 0 .ε r 2 r

Trong đó ε được gọi là hằng số điện môi phụ thuộc vào bản chất của điện
môi, nhiệt độ.
Thí dụ: Trong chân không ε = 1
Không khí: ε = 1,006 ≈ 1
Nước ε = 81
Chú ý: Định luật Culông mới chỉ cho ta xét tương tác giữa hai điện tích
điểm. Tuy nhiên nếu áp dụng nguyên lý tổng hợp lực trong cơ học ta có thể xét
tương tác giữa hai vật mang điện bất kỳ. Thật vậy:
- Nếu hệ gồm nhiều điện tích điểm q1, q2,... qn phân bố gián đoạn trong
không gian và một điện tích q0 đặt trong không gian đó. Ta xét tương tác từng hệ 2
điện tích q1 và q0; q2 và q0 , ... , qn và q0 ta sẽ có:
G G G G G
F=F10 +F20 +F30 +......+Fn0
G n G (5.5)
F= ∑ Fi0
i=1

- Nếu vật mang điện bất kỳ. Ta có thể chia vật thành vô số phần mang điện
rất nhỏ hợp thành, mỗi phần như thế coi như điện tích điểm.
- Dựa vào phương pháp tính toán trên đây người ta chứng minh được tương
tác giữa hai quả cầu mang điện đều có có thể xác định bằng định luật Culông song
phải coi điện tích của mỗi quả cầu như một điện tích điểm nằm ở tâm quả cầu đó.

5.3. ĐIỆN TRƯỜNG CỦA CÁC ĐIỆN TÍCH ĐIỂM


5.3.1. Khái niệm về điện trường
Ta đã biết các điện tích tương tác với nhau ngay cả khi chúng đặt trong chân
không. Ở đây có thể đặt ra nhiều câu hỏi: Lực tương tác đó truyền đi như thế nào?
Có cần môi trường xung quanh không? Khi chỉ có một điện tích thì môi trường
xung quanh có gì thay đổi?
Để trả lời các câu hỏi trên trong quá trình phát triển của vật lý học đã có hai
giả thuyết đối lập nhau: Thuyết tác dụng xa, thuyết tác dụng gần.

48
Theo thuyết tác dụng xa, điện tích tương tác với nhau không cần một môi
trường trung gian mà nó được truyền từ điện tích này đến điện tích kia một cách tức
thời với vận tốc vô cùng lớn. Cũng theo thuyết này nếu chỉ có một điện tích thì môi
trường xung quanh điện tích đó không biến đổi gì. Thừa nhận thuyết tương tác (tức
là truyền vận động) không cần thông qua vật chất, thuyết tác dụng xa đã thừa nhận
có vận động phi vật chất do đó thuyết này đã bị bác bỏ.
Trái với thuyết tác dụng xa, thuyết tác dụng gần cho rằng xung quanh mỗi
điện tích có xuất hiện một dạng vật chất “đặc biệt” gọi là điện trường. Nhờ điện
trường các điện tích mới tương tác được với nhau, vận tốc truyền phải là hữu hạn.
Một tính chất cơ bản của điện trường là khi đặt một điện tích trong điện trường thì
đều bị điện trường tác dụng lực.
Khoa học hiện đại đã chứng minh thuyết tác dụng gần là đúng.
Vậy xung quanh điện tích đứng yên xuất hiện một điện trường. Điện trường
là một dạng của vật chất.
5.3.2. Vectơ cường độ điện trường
5.3.2.1. Định nghĩa
Giả sử có một điện tích q0 đặt tại một điểm trong điện trường. Điện tích q0
rất nhỏ để nó không làm thay đổi điện trường mà ta đang xét, điện tích q0 được gọi
là điện tích thử (q0 > 0).
Thực nghiệm chứng tỏ:
G
JG F
E= = const (5.6)
q0
G
Đối với một điểm xác định E được gọi là véctơ cường độ điện trường.
Vậy: Véctơ cường độ điện trường tại một điểm là một đại lượng véctơ có giá trị
bằng lực của điện trường tác dụng lên một đơn vị điện tích dương đặt tại đó.
Vì vậy véctơ cường độ điện trường đặc trưng cho điện trường về phương
diện tác dụng lực.
G
Trong hệ SI đơn vị của E là (V.m-1).
5.3.2.2. Véctơ cường độ điện trường gây ra bởi một điện tích điểm
Giả sử có một điện tích điểm q. Xung quanh q có một điện trường. Tại một
điểm M cách q một khoảng r nếu ta đặt điện tích q0. Theo định luật Culông lực tác
dụng của điện trường q lên q0 là:
G G
1 q q0 r
F=
4πε 0 .ε r 2 r

49
G G
G F 1 q r
Do đó: E= = . 2. (5.7)
q 0 4.π.ε 0 .ε r r
G G
Rõ ràng: q >0 thì E cùng chiều r q q0
G G
q < 0 thì E ngược chiều r
HìnhG 5.2 M
1 q r
Về độ lớn: E = . 2
4π.ε 0 .ε r

5.3.2.3. Véctơ cường độ điện trường do hệ điện tích điểm


Giả sử có hệ điện tích điểm q1, q2, ... qn. Tại một điểm M trong điện trường
do hệ điện tích điểm trên gây ra nếu ta đặt điện tích thử q0.
G G G G
Ta có: Fq =Fq q +Fq q +...+Fq q
0 1. 0 2 0 n 0

G G G G
G Fq0 Fq1q0 Fq 2 .q0 Fqn q0
E= = + +...+
q0 q0 q0 q0
G G G
= E1 +E 2 +....+E n
G n G
E = ∑ Ei (5.8)
i=1

Biểu thức (5.8) được gọi là nguyên lý chồng chất của điện trường.
5.4. ĐIỆN THẾ, HIỆU ĐIỆN THẾ

5.4.1. Công của lực điện trường


Giả sử có một điện tích +q. Xung quanh q
có một điện trường. Ta hãy tính công của lực điện
trường làm q0 dịch chuyển từ A đến B theo một
đường bất kỳ
B B
G G B
A = ∫ dA= ∫ F.dS= ∫ F.dS.cosα
A A A

r2
Hình 5.3
1 q.q q.q 0 1
=∫ . 2 0 .dr= .(- ) r2
r1
r1
4.π.ε 0 .ε r 4.π.ε 0 .ε r

q.q 0 1 1
A= .( - ) (5.9)
4.π.ε 0 .ε r1 r2

Nhận xét: Công của lực điện trường không phụ thuộc vào hình dạng đường đi,
chỉ phụ thuộc vào vị trí các điểm đầu và điểm cuối. Vì vậy điện trường cũng là một
trường thế và lực điện là một lực thế.

50
5.4.2. Thế năng điện tích điểm trong điện trường
Ta đã biết đối với trường thế.
A12 =Wt1 -Wt 2

Áp dụng vào điện trường:


1 q.q 1 q.q
A12 = . 0- . 0
4.π.ε 0ε r1 4.π.ε 0 ε r2
1 q.q 1 q.q
Đặt: Wt1 = . 0 ; Wt 2 = . 0
4.π.ε 0 ε r1 4.π.ε 0 ε r2
Tổng quát: Thế năng của một điện tích điểm Hình 5.4
trong điện trường tại một vị trí cách q một khoảng r
là:
1 q.q
Wtq = . 0 +C
4.π.ε 0 ε r
C là hằng số tuỳ ý chọn. Tuy nhiên trong thực tế ta không tính thế năng mà
chỉ tính hiệu thế năng, nên hằng số C đơn giản ta chọn bằng 0.
1 q.q
Do đó: Wtq = . 0 (5.10)
4.π.ε 0 ε r
Vậy nếu q và q0 cùng dấu thế năng dương, còn q và q0 khác dấu thế năng âm.
5.4.3. Điện thế
1 q.q
Từ biểu thức: Wtq = . 0
4.π.ε 0 ε r
Nếu ta dùng đại lượng:
Wtq 1 q
V= = . (5.11)
q0 4.π.ε 0ε r
Thì rõ ràng V không phụ thuộc vào q0 chỉ còn phụ thuộc vào điện tích q gây
ra điện trường và r tính từ vị trí xét. V được gọi là điện thế.
Nếu có hệ điện tích điểm:
n n
1 q
V= ∑ Vi = .∑ i (5.12)
i=1 4.π.ε 0 ε i=1 ri
Trong hệ SI đơn vị của điện thế là Vôn (V)
5.4.4. Hiệu điện thế
Với khái niệm hiệu điện thế thì công của lực điện trường có thể viết:
⎛ q q ⎞
A12 =q 0 ⎜ - ⎟
⎝ 4.π.ε 0 ε.r1 4.π.ε 0ε.r2 ⎠

51
A12 =q 0 (V1 -V2 )

A12
V1 -V2 = (5.13)
q0

Đại lượng V1 -V2 được gọi là hiệu điện thế giữa hai điểm 1 và 2 trong điện trường,
có giá trị bằng công làm dịch chuyển một đơn vị điện tích dương giữa hai điểm đó. Do
đó hịêu điện thế đặc trưng cho điện trường về khả năng sinh công.
Rõ ràng điện thế và hiệu điện thế cùng đơn vị đo (Vôn).

52
Chương 6
DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI

6.1. NHỮNG KHÁI NIỆM MỞ ĐẦU


6.1.1. Định nghĩa dòng điện
Trong môi trường dẫn điện các điện tích tự do luôn luôn chuyển động hỗn
loạn. Dưới tác dụng của điện trường ngoài các điện tích tự do đó sẽ chuyển động có
hướng: điện tích dương chuyển động cùng chiều điện trường, đi tích âm chuyển
động ngược chiều điện trường. Dòng các hạt điện tích chuyển động có hướng
dưới tác dụng của điện trường gọi là dòng điện.
Theo quy ước chiều của dòng điện là chiều chuyển dời của các hạt điện tích
dương hay là ngược chiều với chiều chuyển động của các hạt điện tích âm.
6.1.2. Bản chất dòng điện trong các môi trường
Bản chất dòng điện trong các môi trường khác nhau cũng khác nhau (Hình 6.1).
Thực vậy như ta đã biết trong kim loại các nguyên tử liên kết chặt chẽ với
nhau tạo thành mạng tinh thể kim loại. Các ion dương chỉ dao động xung quanh nút
mạng, dòng các điện tử tự do (electron tự do) chuyển động hỗn loạn trong không
gian giữa các nút mạng. Dưới tác dụng của điện trường chính các điện tử tự do này
chuyển động tạo ra dòng điện (Hình 6.1.a)

Hình 6.1

Trái lại trong chất điện phân khi chưa có điện trường ngoài các phân tử chất
điện phân do tương tác với nhau đã tự phân ly thành ion dương, ion âm. Dưới tác
dụng của điện trường các ion này chuyển động tạo ra dòng điện (Hình 6.1.b). Khối
lượng m của chất được giải phóng ra ở điện cực bình điện phân được tính theo
công thức:

49
1 A
m(g) = . .It (6.1)
F n
Trong đó F là một hằng số gọi là số Farađây: F = 96500C/mol, A là khối lượng
mol nguyên tử của chất thu được ở điện cực.
Đối với chất khí ở trạng thái bình thường các phân tử khí hầu như đều ở trạng
thái trung hoà về điện. Tuy nhiên khi có kích thích bên ngoài các phân tử khí có thể
giải phóng điện tử thành ion dương. Các điện tử được giải phóng một số ở trạng thái tự
do, một số kết hợp với nguyên tử trung hoà khác thành ion âm. Khi có điện trường
ngoài cả ion dương, ion âm, điện tử đều chuyển động tạo ra dòng điện (Hình 6.1.c).
Chân không vốn không có hạt mang điện. Nó chỉ dẫn được điện khi đưa
electron vào. Dòng điện trong chân không là dòng chuyển dời có hướng của các
electron bứt ra từ catốt bị nung nóng do tác dụng của điện trường. Đặc điểm của dòng
điện trong chân không là nó chỉ chạy theo một chiều nhất định từ anôt sang catôt.
Dòng điện trong bán dẫn là dòng dịch chuyển có hướng của các electron tự
do và lỗ trống dưới tác dụng của điện trường. Tuỳ theo tạp chất pha vào bán dẫn
tinh khiết mà bán dẫn thuộc một trong hai loại là bán dẫn loại n và bán dẫn loại p.
Dòng điện trong bán dẫn loại n chủ yếu là dòng electron, còn trong bán dẫn loại p
chủ yếu là dòng các lỗ trống.

6.1.3. Tác dụng của dòng điện


Tuy có bản chất khác nhau nhưng dòng điện bao giờ cũng có tác dụng đặc
trưng giống nhau như tác dụng nhiệt, tác dụng từ, tác dụng sinh lý, tác dụng cơ học,
... Các tác dụng này được ứng dụng nhiều trong y học.
6.2. NHỮNG ĐẠI LƯỢNG ĐẶC TRƯNG CỦA DÒNG ĐIỆN

6.2.1. Cường độ dòng điện


Xét một điện tích S bất kỳ nằm trong môi
trường có dòng điện chạy qua (Hình 6.2)
Cường độ dòng điện qua diện tích S là đại
lượng có trị số bằng điện lượng chuyển qua diện tích
ấy trong một đơn vị thời gian.

Hình 6.2

50
dq
i= (6.2)
dt
Từ đó suy ra điện lượng q đi qua diện tích S trong thời gian t sẽ là:
t t
q= ∫ dq= ∫ i.dt (6.3)
0 0

Nếu i có phương chiều độ lớn không đổi theo thời gian thì dòng điện đó được
gọi là dòng điện không đổi từ (2) nếu i = I = hs. Ta có:
t
q= ∫ i.dt=I.t (6.4)
0

Trong hệ SI đơn vị cường độ dòng điện là Ampe (A), đơn vị diện tích q là
Culông (C).
Ngoài ra trong thực tế còn dùng:
Kilo Ampe: 1kA = 103 A
Mili Ampe: 1mA = 10-3 A
Micro Ampe: 1 μ A = 10-6A

6.2.2. Véctơ mật độ dòng điện


Cường độ dòng điện chỉ đặc trưng cho độ mạnh yếu của dòng điện qua một
diện tích nào đó, chưa đặc trưng cho độ mạnh yếu của dòng điện tại từng điểm trong
môi trường, ngoài ra cường độ dòng điện còn chưa cho ta biết phương, chiều các
dòng điện. Vì vậy, ngoài cường độ dòng điện người ta còn dùng một đại lượng vật
lý khác để đặc trưng cho dòng điện đó là vectơ mật độ dòng điện.
6.2.2.1. Định nghĩa
G
Véctơ mật độ dòng điện j tại một điểm
M trong môi trường có dòng điện là một vectơ
có gốc tại M, có phương chiều là phương chiều
của điện tích dương chuyển động qua điểm đó,
có độ lớn bằng cường độ dòng điện qua một đơn Hình 6.3
vị diện tích đặt vuông góc với phương chuyển động ấy. (Hình 6.3)
Về độ lớn ta có:
dI
j= (6.5)
dSn

Từ (4) ta suy ra cường độ dòng điện qua diện tích vuông góc Sn là:

51
I= ∫ dI= ∫ j.d.Sn (6.6)
Sn Sn

Nếu trên cả mặt Sn mà j = const .Ta có:


I=j.Sn
Để tính cường qua điện tích S bất kỳ ta phải chia
diện tích S đó thành những phần tử dS. Sao cho trên dS,
j không đổi. Gọi dSn là hình chiếu dS trên phương
G
vuông góc với j ; thì rõ ràng cường độ dòng điện qua
dSn cũng bằng cường độ qua dS.
Ta có: Hình 6.4
dI=j.dSn = j.dS.cos α
Vì: j.cos α = jn
G G G
jn là hình chiếu của j trên pháp tuyến n của dS. Nên dựng dS là một vectơ
G
có phương pháp tuyến n , có độ lớn bằng giá trị của dS.
Theo toán học ta có:
G G
dI= j.dS
G G
I= ∫ dI= ∫ j.dS (6.7)
s s
G
Trong hệ SI đơn vị của j là: A/m2
6.2.2.2. Sự liên hệ giữa véctơ mật độ dòng điện và véctơ vận tốc của các điện tích
chuyển động
Nếu gọi n0 là mật độ điện tích tự do q là độ lớn mỗi hạt điện tích, v là độ

lớn vận tốc mỗi hạt thì j, n0, q , v có mối liên hệ với nhau.
Thực vậy trong một đơn vị thời gian số hạt điện tích đi qua dSn sẽ là:
dn = n0. v.dSn
Do đó cường độ dI qua dSn sẽ là:
dI= n 0 .v.dSn q
dI
j= = n 0 . q .v
dSn
Hình 6.5
Ta có thể biểu diễn dưới dạng tổng quát như sau:
G G
j = n 0 .q.v (6.8)
Dễ dàng nhận thấy (7) đúng cho cả hạt mang điện tích dương và điện tích âm.

52
G G
Thật vậy: q > 0 → j cùng chiều v
G G
q < 0 → j ngược chiều v

53
Chương 7
TỪ TRƯỜNG DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI
7.1. Thí nghiệm về tương tác từ của dòng điện
Ta đã biết xung quanh một nam châm xuất hiện một từ trường. Nhờ từ
trường mà các nam châm tương tác được với nhau (các cực cùng dấu đẩy nhau,
khác dấu hút nhau). Tương tác của nam châm với nhau gọi là tương tác từ.
Các thí nghiệm sau đây cũng chứng tỏ dòng điện cũng có từ tính như nam
châm, nghĩa là xung quanh dòng điện cũng xuất hiện một từ trường.
7.1.1.Thí nghiệm 1:
Đặt một kim nam châm tự do thì kim nam châm luôn luôn chỉ theo hướng
Bắc Nam. Căng một sợi dây dẫn sao cho phương của sợi dây song song với trục của
nam châm (hình 7.1a). Nếu cho dòng điện không đổi đi qua sợi dây thì kim nam
châm bị quay đi 1 góc (hình 7.1b).

Hình 7.1

7.1.2. Thí nghiệm 2


Đưa nam châm thẳng vào gần một ống dây dẫn có
dòng điện chạy thì thấy nam châm có thể hút hoặc đẩy ống
dây đó (hình 7.2)
7.1.3. Thí nghiệm 3
Hình 7.2
Có hai dây dẫn đặt song song với nhau. Nếu cho
dòng điện chạy qua hai dây dẫn đó cùng chiều thì thấy hai
dây dẫn đó hút nhau, nếu dòng điện chạy ngược chiều thì hai
dây dẫn đó đẩy nhau. (Hình 7.3)
7.1.4. Kết luận
Qua nhiều thí nghiệm chứng tỏ nam châm tác dụng
lên nam châm cũng giống như dòng điện tác dụng lên nam
cham, hay nam châm tác dụng lên dòng điện hoặc dòng điện
Hình 7.3
tác dụng lên dòng điện.

54
Vậy xung quanh nam châm và xung quanh dây dẫn có dòng điện chạy qua
đều xuất hiện một từ trường. Tương tác giữa nam châm với nam châm, dòng điện
với dòng điện, hay giữa nam châm với dòng điện đều có cùng bản chất được gọi là
tương tác từ.
7.2. Định luật ampe (amper) về tương tác từ của dòng điện
7.2.1. Phần tử dòng điện
Trên một dây dẫn có dòng điện I chạy qua nếu ta thấy một
đoạn nhỏ MN, MN coi là thẳng, thì phần tử dòng điện MN được
JG JG
định nghĩa là: I. dl trong đó dl là véctơ có độ dài MN, có chiều là
chiều dòng điện I chạy trong dây dẫn (Hình 7.4). Hình 7.4
7.2.2. Định luật Ampe
7.2.2.1. Trong chân không.
Giả sử trong chân không có 2 dòng điện I, I0. Trên dây dẫn có cường độ I, tại
JG
O ta thấy phần tử dòng điện I. dl , trên dây dẫn
có cường độ I0 ta lấy phần tử dòng điện I0 ta lấy
JJG
phần tử dòng điện I0. dl0 tại điểm M. Kẻ vectơ
G JJJJG
r = OM .
JG G
Dựng mặt phẳng P chứa I. dl và r . Tại
G
M kẻ pháp tuyến n với mặt phẳng P sao cho
JG G G
thứ tự 3 véctơ I. dl , r , n lập thành một tam Hình 7.5
diện thuận.
JG G JJG G
Gọi θ góc giữa I. dl và r , θ 0 là góc giữa I0. dl0 và n (Hình 7.5)
JG JJG
Qua thực nghiệm chứng tỏ lực tác dụng của phần tử I. dl lên phần tử I0. dl0 là
JJJG
một lực dF0 .
JJG G
- Có phương vuông góc với phần tử I0. dl0 và vuông góc với n .
JJG G JJJG
- Có chiều sao cho thứ tự ba vectơ I0. dl0 , n và dF0 lập thành tam diện thuận.
- Có độ lớn:
I.dl.sin.θ.I0 .dl0 .sinθ 0
dF0= K. (7.1)
r2

55
μ0
K: là hệ số tỷ kệ trong hệ SI: K = .

H
μ 0 được gọi là hằng số từ có giá trị: μ 0 = 4π .10−7 (henri/met).
m
Ta có thể biểu diễn bằng biểu thức toán học tổng quát như sau:
G G
JJJG μ (I .dl ) ∧ (I.dl ∧ Gr)
dF0 = 0
. 0 0
(7.2)
4π r3
7.2.2.2. Trong các môi trường
Thực nghiệm cũng chứng tỏ, hai phần tử dòng điện nếu đặt trong môi
trường, cùng khoảng cách so với khi chúng đặt trong chân không thì lực tác dụng sẽ
thay đổi μ lần.
JJG JJJG
dF = μ.dF0 (7.3)
μ được gọi là độ từ thẩm của môi trường.

Nếu μ >1 thì môi trường đó gọi là chất thuận từ. μ <1 thì được gọi là môi
trường nghịch từ.
Và định luật Ampe được viết tổng quát cho các môi trường là:
G G
JJG μ.μ (I .d l ) ∧ (I.d l ∧ Gr)
dF = 0
. 0 0
(7.4)
4π r3
Nhận xét: địnhluật Ampe là định luật cơ bản của tương tác từ. Thật vậy dòng
điện chính là tập hợp của các phần tử dòng điện do đó nếu biết tương tác giữa hai
phần tử dòng điện ta có thể tính được tương tác giữa các dòng điện, cũng giống như
định luật Culông là định luật cơ bản của tương tác điện tích.
7.3. Vectơ cảm ứng từ, vectơ cường độ từ trường
G
7.3.1. Vectơ cảm ứng từ B
Từ định luật Ampe nếu ta xét vectơ
G
JJG μ.μ (I.dl) ∧ Gr
dB = . (7.5)
4π r3
JJG JG
Thì vectơ dB chỉ phụ thuộc vào I. dl là phần tử dòng điện gây ra từ trường và
JJG JJG
vị trí các điểm xét, không phụ thuộc vào I0. dl0 . dB được gọi là vectơ cảm ứng từ
JG
do phần tử dòng điện I. dl gây ra tại điểm M.
Biểu thức (7.5) được gọi là định luật Bio-Sava-Laplat.

56
Định lý được phát biểu như sau: Véctơ cảm ứng từ do phần tử dòng điện
gây ra tại một điểm trong từ trường có:
- Phương vuông góc với mặt phẳng chứa phần tử dòng điện và điểm xét
JG G
(mặt phẳng chứa I. dl , r ).
JG G JJG
- Chiều sao cho thứ tự ba vectơ I. dl , r , dB lập thành tam diện thuận
G
(chiều của r ).
- Có độ lớn:
μ.μ 0 I.dl.sinθ
dB= .
4π r2
* Chú ý:
JJG
- Với khái niệm dB thì định luật Ampe có thể biểu diễn :
JJG JJG JJG
dF = ( I0 .dl0 ) ∧dB (7.6)
Rõ ràng so sánh với biểu thức lực tĩnh điện:
G G
F = q.E
JJG G
Thì thấy dB tương đương với vectơ E .
JJG
- Chiều của vectơ dB còn có thể tìm theo quy tắc đinh ốc sau đây:
Đặt cái đinh ốc theo phương của dòng điện và vặn đinh ốc sao cho nó tiến
JJG
theo chiều dòng điện, thì chiều quay của cái đinh ốc là chiều của vectơ dB .
- Trong hệ SI đơn vị cảm ứng từ là Tesla (T).
7.3.2. Nguyên lý chồng chất từ trường
Dựa vào định luật Ampe ta có thể tính được véctơ cảm ứng từ của cả dòng
điện hoặc n dòng điện gây ra tại một điểm trong từ trường. Thật vậy:
- Đối với một dòng điện:
G JJG
B= ∫
cadongdien
dB (7.7)

- Đối với n dòng điện:


G n G
B= ∑ Bi (7.8)
i=1

G
Trong đó Bi là vectơ cảm ứng từ do dòng điện thứ i gây ra.
Biểu thức (7.7) và (7.8) gọi là nguyên lý chồng chất của từ trường.

57
G
7.3.3. Vectơ cường độ từ trường H
G G
Cũng giống như điện trường, ngoài véctơ E người ta còn dùng véctơ D để
G
đặc trưng cho điện trường. Trong từ trường ngoài véctơ B ta còn dùng một đại
G
lượng véctơ cường độ từ trường H được định nghĩa:
G
G B
H= (7.9)
μ 0μ
G G G
Rõ ràng H và B cùng phương chiều chỉ khác nhau về độ lớn, và H không
G
phụ thuộc vào μ . Trong hệ SI đơn vị của H là Ampe/met (A/m)
G G
7.3.4. Vectơ cảm ứng từ B và cường độ từ trường H trong một vài trường hợp đặc
biệt
Dựa vào định luật Ampe và nguyên lý chồng chất
G
của từ trường ta có thể tính được vectơ cảm ứng từ B cho
các dòng điện. Ta chỉ xét một số trường hợp đặc biệt sau:
7.3.4.1. Dòng điện tròn
Giả sử có một dây dẫn hình tròn bán kính R, có
dòng điện I chạy qua. Ta hãy tính cảm ứng từ do dòng
Hình 7.6
điện gây tại tâm O.
JG
Xét phần tử I. dl bất kỳ, ta thấy:
α = 900
Về độ lớn :
μ.μ 0 I.dl.sinα μ.μ 0 I.dl
dB = . 2
= . (7.10)
4.π r 4π R 2
Còn phương chiều áp dụng quy tắc đinh ốc (trong trường hợp này có
phương vuông góc với mặt phẳng chứa dây dẫn, chiều đi vào) (Hình 7.6).
JG
Các phần tử I. dl bất kỳ trên dây dẫn đều gây ra ở O những vectơ cảm ứng
từ dB cùng phương cùng chiều và có độ lớn đều bằng:
μ.μ 0 I.dl
dB = .
4π R 2
Do đó:

58
μ.μ 0 I.dl
B= ∫
cadongdien
dB = ∫
cadongdien
.
4π R 2

μ.μ 0 I.dl μ.μ 0 I


B= . 2 ∫
4π R cadongdien
dl = . .2π.R
4π R 2

μ.μ 0 .I
B= (7.11)
2R
Chú ý:
- Để đặc trưng cho tính chất từ của dòng điện tròn người ta ra một đại lượng
vậy lý là mô men từ của dòng điện tròn được định nghĩa như sau:
G G
Pm = I. S

Trong đó: I là cường độ dòng điện


G
S là một vectơ có cường độ lớn bằng diện tích của hình tròn chứa vòng dây
G G
có dòng điện chạy, chiều của S là chiều của B tại đó:
Nếu dùng khái niệm:
G G
Pm = I. S
G
Thì cảm ứng từ B do dòng điện tròn gây ra tại tâm O có thể viết.
G
G μ 0 .μ.I.S μ.μ 0 .Pm
B0 = = (7.12)
2.π.R 3 2π.R 3
- Để tìm chiều của vectơ cảm ứng từ gây ra đối với dòng điện tròn người ta
còn dùng quy tắc kim đồng hồ như sau:
Nhìn vào vòng dây, nếu dòng điện chạy
ngược chiều kim đồng hồ thì đó là cực bắc (đường
sức cảm ứng từ đi ra từ cực bắc) nếu dòng điện
chạy cùng chiều kim đồng hồ đó là cực nam.
G G Hình 7.7
Biết B0 ta có thể tính H 0 :
JJG G G
G B0 I.S Pm
H0 = = =
μ.μ 0 2.π.R 3 2π.R 3

Về độ lớn:
I
H0 = (7.13)
2R
Rõ ràng theo (7.13) trong hệ SI đơn vị của H sẽ là (A/m)

59
7.3.4.2. Dòng điện thẳng
G
Giả sử có dây điện thẳng dài AB, có cường độ I đi qua. Hãy tính cảm ứng từ B
G
và H do dòng điện gây ra tại một điểm M cách dây dẫn một khoảng R (Hình 7.8).
Muốn vậy trên dây dẫn tại một điểm C bất kỳ ta lấy một phần tử dòng điện I.
JG JG
I. dl thì I. dl sẽ gây ra tại M một vectơ cảm ứng từ có phương chiều xác định bằng
JG
quy tắc đinh ốc (trong hình vẽ có phương vuông góc với mặt phẳng chứa I. dl và
điểm xét, chiều đi vào).
μ 0 .μ I.dl.sinθ
Có độ lớn: dB = .
4π r2
Gọi CH = l ta có:
l
=cotgθ
R

d(cotg θ ) = -
sin 2θ
R.dθ
dl = -
sin 2θ
R.dθ Hình 7.8
Vì dl > 0 nên dl =
sin 2θ
R
Mặt khác ta có: r =
sin θ
μ 0 .μ.I
Do đó: dB = .sinθ.dθ
4π.R
Ta thấy các phần tử dòng điện trên dây dẫn đều gây ra tại M các véctơ cảm
ứng từ dB có cùng phương, cùng chiều. Do đó về độ lớn.
θ2
μ.μ 0 .I
B= ∫
cadongdien
dB= ∫
θ1
4π.R
.sinθ.dθ

μ.μ 0 .I θ2
B= .(-cosθ) θ1 )
4π.R
μ.μ 0 .I
B= .(cosθ1 -cosθ 2 ) (7.14)
4π.R
Nếu dây dẫn dài vô hạn thì : θ1 = 0;θ 2 = π và (7.14) trở thành:

60
μ.μ 0 .I μ.μ 0 .I
B= . [1-(-1)] =
4π.R 2π.R
G
Tương tự vectơ cường độ từ trường H do dòng điện gây ra tại M có phương,
chiều cùng chiều với B.
Còn độ lớn:
I
H= (cosθ1 -cosθ 2 ) (7.15)
4π.R
Và trường hợp dây dẫn dài vô hạn:
I
H= (7.16)
2π.R

61
Chương 8
CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ

8.1. Thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ


Ta đã biết dòng điện gây ra xung quanh nó một từ trường. Vậy ngược lại từ
trường có thể gây ra dòng điện không?
Năm 1831 nhà vật lý học người Anh Faraday bằng thực nghiệm đã chứng tỏ
khi có từ trường biến đổi đã sinh ra trong mạch kín dòng điện, gọi là dòng điện cảm
ứng, hiện tượng đó gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ.
Phát minh ra hiện tượng cảm ứng điện từ là một trong
những phát minh quan trọng nhất của vật lý nói riêng và khoa
học nói chung.
8.1.1. Thí nghiệm 1
Dùng một nam châm thẳng để gần đầu một ống dây A,
ống dây A được nối với điện kế nhận G (Hình 8.1)
- Nếu giữ nguyên ống dây và dịch chuyển nam châm thì
trong thời gian nam châm dịch chuyển, trong ống dây A có dòng
điện. Độ lớn, chiều của dòng điện phụ thuộc vào tốc độ dịch
Hình 16.1
chuyển của nam châm (nếu dịch chuyển thanh nam châm càng
nhanh thì cường độ dòng cảm ứng càng lớn. Nếu đưa cực bắc lại Hình8.1
gần ống dây, thì dòng cảm ứng xuất hiện có chiều ngược chiều
với khi đưa cực bắc ra xa ống dây).
- Nếu giữ nguyên nam châm và dịch chuyển ống dây thì
hiện tượng cũng xảy ra tương tự như trên.Vậy khi có sự chuyển
động tương đối giữa nam châm và ống dây thì trong ống dây
xuất hiện dòng cảm ứng.
8.1.2. Thí nghiệm 2
Thay nam châm bằng một ống dây B, ống dây B được
nối với nguồn điện một chiều (Hình 8.2).
- Nếu đóng khoá K. Cho 2 ống dây A, B chuyển động
tương đối thì ống dây A cũng có dòng cảm ứng như thí nghiệm 1. Hình 8.2

62
- Nếu để A và B đứng yên, đóng hoặc ngắt khoá K ta cũng thấy trong ống
dây A xuất hiện dòng cảm ứng. Dòng cảm ứng có chiều khi đóng K ngược chiều
với dòng cảm ứng xuất hiện khi ngắt khoá K.
* Nhận xét: qua thí nghiệm 2 ta thấy một ống dây có dòng điện một chiều chạy qua
tương đương với một nam châm thẳng, ta gọi nam châm điện.
* Kết luận: qua nhiều thí nghiệm Faraday đã đi đến kết luận.
- Khi từ thông qua mạch kín biến đổi thì trong mạch kín xuất hiện dòng cảm ứng.
- Dòng điện cảm ứng chỉ tồn tại trong thời gian từ thông biến đổi qua
mạch kín.
- Cường độ dòng cảm ứng tỷ lệ thuận với tốc độ biến thiên từ thông qua mạch kín.
- Chiều của dòng điện cảm ứng phụ thuộc vào sự biến đổi của từ thông qua
mạch kín đó tăng hay giảm.
8.2. Các định luật cơ bản về cảm ứng điện từ
8.2.1. Định luật Lenxơ về chiều dòng cảm ứng
8.2.1.1. Phát biểu
Dòng cảm ứng bao giờ cũng có chiều sao cho từ trường do nó sinh ra chống
lại nguyên nhân sinh ra nó.
8.2.1.2. Thí dụ
Trong thí nghiệm đưa cực bắc của nam châm lại gần
đầu của ống dây A. Ta thấy từ thông qua ống dây A tăng
lên, theo định luật Lenxơ dòng cảm ứng phải có chiều sao
cho từ trường do nó sinh ra chống lại sự tăng từ thông đó.
Muốn vậy đường sức từ trường do dòng điện trong ống dây
gây ra phải ngược chiều với đường sức từ do nam châm
gây ra (Hình 8.3). Hình 8.3

Áp dụng quy tắc kim đồng hồ ta thấy đầu ống dây A ở gần nam châm phải là
cực bắc.Tương tự nếu đưa cực bắc nam châm ra xa ống dây thì đầu ống dây A ở gần
nam châm sẽ phải là cực nam. Dòng điện trong ống dây lúc đó sẽ chạy theo chiều
ngược lại. Chú ý: muốn dịch chuyển nam châm ta phải tốn năng lượng cơ học, năng
lượng này đã biến thành năng lượng dòng cảm ứng, vậy định luật Lenxơ là biểu
hiện của định luật bảo toàn năng lượng.

63
8.2.2. Định lụât Faraday về suất điện động cảm ứng
Sự suất hiện dòng điện cảm ứng chứng tỏ trong mạch xuất hiện một suất điện
động. Suất điện động đó gọi là suất điện động cảm ứng.
Để tính suất điện động cảm ứng ta xét một thí nghiệm tổng quát như sau:
Dịch chuyển một vòng dây kín (C) trong từ trường từ vị trí (1) đến vị trí (2)
sao cho từ thông qua mạch kín đó biến đổi (Hình 8.4).
Giả sử sau thời gian dt, từ thông qua mạch kín biến đổi một lượng d φ m và

cường độ dòng cảm ứng là IC. Khi đó công từ lực tác dụng lên dòng cảm ứng sẽ là:
dA=IC. d Φ m (8.1)

Theo định luật Lenxơ, từ lực tác dụng lên dòng điện cảm ứng phải ngăn cản
sự dịch chuyển của vòng dây vì sự dịch chuyển này là nguyên nhân gây ra dòng
cảm ứng nên công của từ lực tác dụng lên dòng cảm ứng phải là công cản.
Vì thế để dịch chuyển vòng dây ta phải tốn một công dA' bằng công cản đó.
dA' = - dA = -IC. d Φ m (8.2)

Theo định luật bảo toàn năng lượng, công dA'


phải được chuyển thành năng lượng của dòng điện cảm
ứng. Nếu gọi ε C là suất điện động cảm ứng, ta phải có:

ε C .IC .dt = -IC .dΦ m

d.Φ m
εC = - (8.3) Hình 8.4
dt
(8.3) được gọi là định luật Faraday về suất điện động cảm ứng, phát biểu như sau:
Suất điện động cảm ứng luôn luôn bằng về trị số nhưng trái dấu với tốc độ
biến thiên từ thông gửi qua diện tích của mạch điện
Chú ý: Theo định luật Lenxơ công của từ lực tác dụng dòng cảm ứng bao giờ
cũng là công cản, do đó để dịch chuyển mạch điện trong từ trường ta phải tốn một
công bằng về trị số nhưng trái dấu với công cản đó. Vì vậy dấu (-) trong biểu thức
(1) chính là biểu hiện về mặt toán học của định luật Lenxơ.
Vậy định luật Faraday về suất điện động cảm ứng chính là định luật tổng
quát của hiện tượng cảm ứng điện từ.

64
8.3. Một số trường hợp đặc biệt của cảm ứng điện từ
8.3.1. Dòng điện xoay chiều
Một trong các ứng dụng quan trọng của cảm ứng điện
từ là tạo ra dòng điện xoay chiều. Dòng xoay chiều là trường
hợp dòng cảm ứng xuất hiện khi có biến thiên từ thông tuần
hoàn qua mạch kín.
Thật vậy ta hãy xét một khung dây đặt trong một từ
G G
trường đều cảm ứng từ B . ở thời điểm t = 0, B vuông góc với Hình 8.5
mặt phẳng của khung, từ thông qua mạch là:
φ 0 =B.S

Nếu ta quay khung với vận tốc góc đều ω . Xung quanh trục OO' (Hình 8.5)
thì tại thời điểm t từ thông qua khung sẽ là:
Φ m =Φ 0 .cos(ωt)

Theo định luật cảm ứng điện từ suất điện động trong khung sẽ là:
d.Φ m
εC = - = Φ m ω.sin(ω.t) (8.4)
dt
ε 0 =ε 0 .sin(ω.t) với ε 0 = Φ 0 .ω

Vậy suất điện động trong trường hợp này là một suất điện động xoay chiều
hình sin, nên mạch kín sẽ xuất hiện một dòng điện có cường độ dòng điện.
i = I0.sin( ω.t+ϕ ) (8.5)
Dòng điện đó đựơc gọi là dòng điện xoay chiều với chu kỳ:
2.π
T=
ω
Tần số:
1
f=
T
Chú ý:
- Trong kỹ thuật các máy phát điện tạo ra dòng điện xoay chiều được gọi là
máy dao điện.
- Các máy dao điện tạo ra dòng điện có tần số 50Hz hoặc 60Hz
- Nếu khung dây gồm nhiều vòng dây như nhau thì:
ε 0 = N.Φ 0 .ω = N.B.S.ω

65
8.3.2. Dòng điện Phucô
Khi có một khối vật dẫn chuyển động trong từ trường, hoặc từ trường biến
thiên trong khối vật dẫn thì trong khối vật dẫn đó cũng xuất hiện một dòng điện cảm
ứng, trường hợp này gọi là dòng Phucô.
Cường độ của dòng Phucô là:
εF
iF = (8.6)
R
Vì R rất nhỏ nên iF rất lớn, theo định luật Jun- Lenxơ thì tác dụng nhiệt của
dòng Phucô rất lớn. Với đặc điểm đó dòng Phucô có vai trò quan trọng trong kỹ thuật.
8.3.2.1. Tác hại của dòng Phucô
Trong các biến thế điện, máy phát điện, động cơ điện... lõi sắt của chúng sẽ xuất
hiện các dòng Phucô, một phần năng lượng sẽ mất đi dưới dạng toả nhiệt, đặc biệt nếu
các lõi sắt đó có điện trở rất nhỏ thì tác dụng nhiệt rất lớn, có thể bị nóng chảy.
Để làm giảm tác dụng nhiệt này, các lõi người ta không dùng cả khối kim
loại mà gồm nhiều lá kim loại mỏng ghép lại, các lá kim loại này được sơn cách
điện với nhau.
8.3.2.2. Dòng Phucô có lợi
Trong nhiều trường hợp tác dụng nhiệt của dòng Phucô lại có lợi. Thí dụ để
nung chảy kim loại người ta dùng các lò cảm ứng, trong lò để các kim loại, dùng từ
trường biến thiên thanh qua lò, dưới tác dụng nhiệt làm các kim loại nóng chảy. Ưu
điểm của phương pháp này so với các phương pháp khác là nó có thể thực hiện
trong chân không.

66
Phần thứ tư: QUANG HỌC
Quang học là môn học nghiên cứu về ánh sáng
Ta đã biết về bản chất ánh sáng là một sóng điện từ, đồng thời ánh sáng là
dòng các hạt photon. Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu các hiện tượng quang
học nhằm hiểu rõ hơn bản chất của ánh sáng, đồng thời sẽ cung cấp những kiến thức
cần thiết về việc ứng dụng những định luật quang học trong y học.

Chương 9
CƠ SỞ CỦA QUANG HÌNH HỌC. DỤNG CỤ QUANG HỌC

9.1. CÁC ĐỊNH LUẬT CƠ BẢN CỦA QUANG HÌNH HỌC


Quang hình học dựa trên bốn định luật cơ bản sau đây:
9.1.1. Định luật về sự truyền thẳng của ánh sáng
Định luật được phát biểu.
Trong một môi trường trong suốt đồng tính và đẳng hướng, ánh sáng
truyền theo đường thẳng.
Khi nghiên cứu hiện tượng nhiễu xạ ta sẽ thấy định luật này có giới hạn ứng
dụng của nó. Khi ánh sáng truyền qua những lỗ thật nhỏ hoặc gặp những chướng
ngại vật kích thước nhỏ vào cỡ bước sóng ánh sáng thì định luật trên không còn
đúng nữa.
9.1.2. Định luật về tác dụng độc lập của các tia sáng
Định luật được phát biểu:
Tác dụng của các chùm sáng khác nhau thì độc lập với nhau. Nghĩa là,
tác dụng của một chùm sáng này không phụ thuộc vào sự có mặt hay không của
các chùm sáng khác.
9.1.3. Hai định luật của Đêcac (Descartes)
Thực nghiệm xác nhận rằng, khi tia sáng OI tới mặt phân cách hai môi
trường trong suốt, đồng tính và đẳng hướng thì tia sáng bị tách thành hai tia: tia
phản xạ IR1 và tia khúc xạ IR2 (Hình 18.1).
Chúng tuân theo hai định luật sau đây:

67
9.1.3.1. Định luật Đêcac thứ nhất - định luật
phản xạ
Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng tới
(tức là mặt phẳng chứa tia tới và pháp tuyến IN)
và góc tới bằng góc phản xạ.
i1 = i1' (9.1)
9.1.3.2. Định luật Đêcac thứ hai - định luật khúc xạ Hình 9.1

Tia khúc xạ nằm trong mặt phẳng tới và tỷ số giữa sin góc tới và sin góc
khúc xạ là một số không đổi.
sini1
= n 2-1 (9.2)
sini 2

n 2-1 là một số không đổi, phụ thuộc vào bản chất của hai môi trường, được

gọi là chiết suất tỉ đối của môi trường 2 đối với môi trường 1.
Nếu n 2-1 >1 thì i2<i1, tia khúc xạ gầp pháp tuyến và môi trường 2 được gọi là
chiết quang hơn môi trường 1. Ngược lại, nếu n 2-1 <1 thì i2>i1, tia khúc xạ lệch xa
pháp tuyến hơn và môi trường 2 kém chiết quang hơn môi trường 1.
9.1.3.3. Chiết suất tỉ đối và chiết suất tuyệt đối
Nếu gọi v1 và v2 là vận tốc ánh sáng trong môi trường 1 và 2, từ thực
nghiệm chứng tỏ:
v1
n 2-1 = (9.3)
v2

Ngoài chiết suất tỉ đối, người ta còn định nghĩa chiết suất tuyệt đối của một
môi trường:
Chiết suất tuyệt đối của môi trường là chiết suất tỉ đối của môi trường đó
đối với chân không.
Nếu gọi v là vận tốc ánh sáng trong môi trường, c là vận tốc ánh sáng trong
chân không và n là chiết suất tuyệt đối của môi trường thì căn cứ vào (3) ta có:
c
n= (9.4)
v
Đối với không khí v ≈ c nên n ≈ 1

68
Ta tìm mối liên hệ giữa chiết suất tỉ đối của hai môi trường và chiết suất
tuyệt đối của chúng. Từ (3) có thể viết:
v1 c c n 2
n 2-1 = = : = (9.5)
v 2 v 2 v1 n1

Nếu môi trường thứ nhất là không khí thì n1 ≈ 1 và n 2-1 ≈ n2. Do đó có thể coi
chiết suất tuyệt đối của một môi trường là chiết suất tỉ đối của môi trường đó là đối
với không khí.
9.1.3.4 . Dạng đối xứng của định luật Đêcac
Từ (2) và (5) có thể viết:
sini1 n
= n 2-1 = 2
sini 2 n1

Hay:
n1.sini1 = n2.sini2 (9.6)
Biểu thức (6) là dạng đối xứng của định luật Đêcac
9.1.4. Hiện tượng phản xạ toàn phần
Hai điều kiện để hiện tượng
phản xạ toàn phần xảy ra:
- Thứ nhất là ánh sáng phải đi từ
môi trường chiết quang mạnh sang môi
trường chiết quang kém hơn, thí dụ đi
từ nước ra không khí. Khi đó ta có:
n1.sini1 = n2.sini2 Hình 9.2
Ở đây vì n1 > n2 nên i1 < i2 , tức là góc tới nhỏ hơn góc khúc xạ. Khi tăng góc
tới thì góc khúc xạ cũng tăng, nhưng luôn luôn có i1<i2. Khi góc khúc xạ i2 = 900
thì góc tới đến một giá trị gọi là góc tới tới hạn (ig)
- Thứ hai là góc tới phải lớn hơn (hay tối thiểu là bằng) góc tới tới hạn, tức là:
i ≥ ig
Khi đó thì toàn bộ tia sáng đi tới mặt phân cách hai môi trường sẽ phản xạ
trở lại môi trường thứ nhất. Hiện tượng này gọi là phản xạ toàn phần. Lúc đó ta có:
n 1 .sini g = n 2 .sin90 0
n2
=> sinig = (9.7)
n1

69
* Ứng dụng của hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng
- Dựa vào hiện tượng khúc xạ và phản xạ toàn phần có thể giải thích được
hiện tượng các ảo ảnh quan sát được ở các vùng sa mạc hay đồng cỏ (Hình 1.3).
Nhờ sự uốn cong của tia sáng nên một số vật ở khuất xa dưới đường chân trời sẽ
được nhìn thấy và hình như ở gần người quan sát hơn.
- Dựa vào tính chất khi gương
phẳng quay một góc α thì tia phản xạ
quay một góc 2 α , người ta gắn một
gương phẳng vào khung treo của một điện
kế. Khi có dòng điện một chiều chạy trong
Hình 9.3
khung dây, khung dây sẽ quay kéo theo cả gương cùng quay. Chiếu một chùm tia
sáng vào gương, khi gương quay thì tia sáng phản xạ sẽ quay một góc lớn gấp đôi,
tức là đã tăng độ nhậy của điện kế. Đó là nguyên tắc cấu tạo của điện kế gương.
- Hiện tượng phản xạ toàn phần được ứng dụng để đổi chiều tia sáng trong các
dụng cụ quang học. Chiết suất của thuỷ tinh vào cỡ 1,5. Vì vậy góc tới tới hạn trên biên
giới thuỷ tinh - không khí cỡ i g ≈ 420 , khi góc tới bằng 450 sẽ luôn luôn xảy ra hiện

tượng phản xạ toàn phần. Hình 1.4 biểu diễn các lăng kính phản xạ toàn phần.

A
A

B
B B'

A' B' A’

(a) (b)
Hình 9.4. Lăng kính phản xạ toàn phần

Lăng kính phản xạ toàn phần được ứng dụng


nhiều trong các dụng cụ quang học như kính tiềm
vọng, kính hiển vi, khúc xạ kế . Ngày nay hiện tượng Hình 9.5
phản xạ toàn phần còn được ứng dụng trong cáp sợi quang (O.F = Optical Fibers).

70
Sợi quang học cấu tạo gồm hai lớp (xem hình 9.5), lõi có chiết suất n1, vỏ có chiết
suất n2, với điện kiện n1>n2. Khi cho ánh sáng (tia laser) đi vào một đầu sợi quang
(phần lõi), ánh sáng sẽ phản xạ toàn phần nhiều lần trong lõi mà không bị lọt ra lớp
vỏ, như vậy không mất mát (hay không đáng kể) năng lương và sẽ đi đến tận đầu
kia của sợi quang.
- Dựa vào tính chất chiết suất của các chất phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng
chiếu vào nó, người ta có thể giải thích hiện tượng tán sắc ánh sáng (thí dụ cầu
vồng). Dựa trên nguyên lý này, đã chế tạo ra các dụng cụ phân tích ánh sáng đa sắc
(ánh sáng tự nhiên) thành các ánh sáng đơn sắc, thí dụ như các lăng kính (bằng thuỷ
tinh hay thạch anh) dùng trong các máy quang phổ.
Chiết suất chất phụ thuộc vào bản chất của chất đó, vào bước sóng ánh sáng
chiếu vào nó, vào nhiệt độ khi đo, và với một số dung dịch, còn phụ thuộc vào
nồng độ của chất tan. Vì vậy việc xác định chỉ số khúc xạ (chiết suất) của một chất
được dùng để phân tích định tính và có thể cả định lượng chất đó.

9.2. DỤNG CỤ QUANG HỌC


Trong phần này của giáo trình chỉ trình bày về phương pháp hiển vi. Như
vậy sinh viên cần phải đọc lại những nội dung có trong chương trình phổ thông
như: gương phẳng, gương cầu, thấu kính, kính lúp, kính hiển vi.
Khi nghiên cứu, quan sát, đo đạc với góc phân ly tối thiểu của mắt bình
thường là α min = 1 phút. Ứng với giá trị của góc này, ở khoảng cách nhìn thuận lợi l0
= 25cm,còn phân biệt được hai điểm A, B có khoảng cách d = 7,5.10-5m. Với khoảng
cách nhỏ hơn thì mắt không phân ly được nữa. Lúc đó A' và B' là ảnh của A, B sẽ
trùng nhau và sẽ cùng kích thích lên một tế bào thần kinh thị giác, mắt sẽ không phân
biệt được A và B. Muốn nhìn được vật có kích thước quá bé (cỡ μm ) phải dùng dụng
cụ bổ trợ cho mắt. Tác dụng của dụng cụ bổ trợ là làm tăng góc nhìn, mắt sẽ quan sát
ảnh của vật dưới góc nhìn lớn hơn, tức là
làm tăng năng suất phân ly của mắt.
Thí dụ, một vật AB có kích thước
khá bé, đặt cách mắt một khoảng l0=25cm
thì mắt không phân biệt được A, B. Nếu Hình 9.6

71
đặt trước mắt một thấu kính hội tụ L sao cho AB nằm trong khoảng tiêu cự của L,
lúc đó mắt sẽ quan sát ảnh A1B1C của AB dưới góc nhìn trong khoảng tiêu cự của L,
lúc đó sẽ quan sát ảnh A1B1 của AB dưới góc nhìn α > α min .L đặt ở vị trí thích hợp
để cho A1B1 nằm ở khoảng cách l0=25cm (Hình 9.6).
Các dụng cụ bổ trợ cho mắt trong nghiên cứu y sinh học là các loại kính hiển
vi quang học và kính hiển vi điện tử. Trước khi nghiên cứu về kính hiển vi, ta hãy
xét khái niệm về năng suất phân ly của dụng cụ quang học.
9.2.1. Năng suất phân ly của dụng cụ quang học
9.2.1.1. Định nghĩa
Năng suất phân ly của một dụng cụ quang học là một
đại lượng cho biết khả năng phân biệt những chi tiết nhỏ trên
vật quan sát.
Trường hợp vật quan sát ở gần, năng suất phân ly đo
được bằng nghịch đảo của khoảng cách bé nhất giữa hai
điểm mà ta có thể phân biệt được khi nhìn qua dụng cụ
quang học. Còn vật ở xa, năng suất phân ly đo được bằng Hình 9.7
nghịch đảo của góc nhìn bé nhất giữa hai phương đến hai điểm mà mắt có thể phân
bịêt được khi nhìn qua dụng cụ quang học.
Theo quang hình lý thuyết, thì ảnh của một điểm qua quang hệ lý tưởng cũng
phải là một điểm. Nhưng thực tế chùm tia sáng đi từ điểm đó đến kính vật đều bị
giới hạn bởi lá chắn (hay bởi khung hình tròn mang vật kính). Do hiện tượng nhiễu
xạ qua một lỗ tròn (sẽ xét kỹ trong chương nhiễu xạ ánh sáng) nên ảnh của một
điểm qua kính vật không phải là một điểm nữa, mà là một hệ vòng trong nhiễu
xạ(sáng, tối xen kẽ và đồng tâm). Đồ thị phân bố cường độ sáng của cực đại nhiễu
xạ theo bán kính cho bởi hình (9.7) (Ở đây bỏ qua các cực đại phụ).
Giả sử có hai điểm A và B, ảnh của nó qua quang cụ là hai hình nhiễu xạ có
tâm là A', B' (Hình 9.8). Gọi bán kính vòng tròn nhiễu xạ đầut iên là R, khoảng cách
giữa hai tâm A', B' của hai hình nhiễu xạ là r. Theo tiêu chuẩn Raylay(Rayleigh):
Hai nguồn điểm vật có cường độ sáng bằng nhau, có ảnh qua vật kính tròn phân
biệt được, nếu bán kính của vòng tròn nhiễu xạ thứ nhất của ảnh này đi qua tâm
chấm sáng của ảnh kia.

72
Tức là: r ≥ R (8)

Hình 9.8

Gọi d là khoảng cách giữa hai điểm sáng mà mắt còn phân biệt được (nếu quan
sát các vật ở xa thì là góc trông α ). Năng suất phân ly được định nghĩa như sau:
Năng suất phân ly S của một dụng cụ quang học là một đại lượng có trị số
bằng nghịch đảo của khoảng cách dmin giữa hai điểm sáng mà mắt còn phân biệt
đựơc qua quang cụ (đối với kính nhìn xa, kính thiên văn thì đo bằng nghịch đảo của
góc trông α min từ mắt tới hai điểm).
1 1
S= Hay S = (9.8)
d min α min
Ta thấy khi d = dmin là ứng với r = R.

Hình 9.9

Rõ ràng nếu d hay α càng nhỏ thì năng suất phân ly càng lớn và dụng cụ
quang học càng tốt.
9.2.1.2. Năng suất phân ly của một dụng cụ quang học
Đối với kính hiển vi, người ta chứng minh được năng suất phân ly bằng
n. sin u
S= (9.9)
0,61λ

Trong đó: n là chiết suất môi trường đặt vật quan sát.
u là góc nghiêng lớn nhất của chùm sáng chiếu vào vật kính.

73
λ là bước sóng của ánh sáng.

Hình 9.10. Năng suất phân ly của kính hiển vi


Đối với kính thiên văn người ta chứng minh được.
1 d
S= = (9.10)
α min 1,22

Trong đó: d là đường kính của vật kính


9.2.2. Kính hiển vi quang học
9.2.2.1. Nghiên cứu và cấu tạo
Nguyên lý chung của các dụng cụ hiển vi là sử dụng các loại thấu kính có
khả năng làm thay đổi phương truyền của tia sáng hoặc của chùm điện tử (với kính
hiển vi điện tử). Các thấu kính sử dụng với ánh sáng nhìn thấy thường làm bằng
thuỷ tinh Flin hoặc Crao, với ánh sáng tử ngoại làm bằng thạch anh, với chùm tia
điện tử bằng thấu kính tĩnh điện hay thấu kính từ.
Hiện nay có nhiều loại kính hiển vi quang học dùng trong nghiên cứu y sinh
học. Tuỳ theo yêu cầu nghiên cứu, tính chất và đặc điểm của từng đối tượng nghiên
cứu, người ta đã chế tạo các loại
kính hiển vi trường sáng, kính
hiển vi trường tối, kính hiển vi tử
ngoại, kính hiển vi phân cực, kính
hiển vi huỳnh quang…
Tất cả các loại kính hiển vi
Hình 9.11. Sơ đồ cấu tạo kính hiển vi
quang học này về nguyên lý, cấu
tạo cơ bản giống nhau là dùng các hệ thấu kính hiển vi quang học đã khử hết quang
sai và các hệ được đặt trên cùng một trục chính.
Hệ quang học gồm: kính tụ quang L1, vật kính L2 (đặt gần vật quang sát), thị
kính L3 (đặt gần mắt) như hình (9.11). Ngoài ra còn có các bộ phận khác như gương

74
phản chiếu ánh sáng (thường một mặt phẳng và một mặt lõm), các lăng kính phản
xạ toàn phần để thay đổi phương truyền của tia sáng…
9.2.2.2. Kính hiển vi quang học trường sáng
- Cấu tạo
S là nguồn phát ra ánh sáng trắng (ánh sáng tự nhiên, bóng đền điện…) các
thấu kính làm bằng thuỷ tinh trong suốt.
- Nguyên tắc tạo ảnh

Hình 9.12. Dựng ảnh qua kính hiển vi

Nguyên tắc chung về dựng ảnh là sử dụng các định lụât quang hình như định
luật truyền thẳng của ánh sáng, định luật khúc xạ ánh sáng khi đi vào thấu kính.
A1B1 là ảnh thật của vật AB qua vật kính, A2B2 là ảnh ảo của A1B1 qua thị kính. Để
cho A2B2 làm ảnh ảo thì A1B1phải nằm trong khoảng tiêu cự của thị kính. A3B3 là
ảnh hiện lên võng mạc của mắt khi quan sát ảnh A2B2 của vật AB qua quang hệ. Để
cho đỡ mỏi mắt khi quan sát, người ta thường phải di chuyển ống kính (chứa vật
kính và thị kính) sao cho vật AB cách vật kính một khoảng cách thích hợp để A1B1
nằm đúng tiêu điểm F2 của thị kính, lúc đó mắt như quan sát ở vô cực
- Độ phóng đại.
Gọi khoảng cách giữa tiêu điểm chính thứ hai của vật kính và tiêu điểm
chính thứ nhất của thị kính là Δ , Δ là độ dài quang học của kính hiển vi.
f1 là tiêu cự của vật kính.
f2 là tiêu cự của thị kính.
Người ta đã chứng minh được độ phóng đại dài của kính hiển vi xác định
theo công thức sau:

75
Δ.l 0
K = KV.KT = (9.11)
f1 . f 2

Thường l0 = 25cm là khoảng nhìn rõ của mắt bình thường.


Công thức (9.11) cho thấy với Δ , l0 cố định thì kính hiển vi có tiêu cự càng
ngắn, độ phóng đại càng lớn. Tuy nhiên việc giảm tiêu cự của vật kính và thị kính
cũng bị giới hạn hiện tượng nhiễm xạ ánh sáng trong kính hiển vi, bởi vì với f1, f2
quá bé sẽ không còn khả năng phân biệt được hai điểm sáng nằm gần nhau. Nhưng
dựa vào công thức (9.11), chúng ta có thể làm tăng năng suất phân ly của kính hiển
vi bằng cách tăng chiết suất (n) của môi trường chứa vật quan sát hoặc tăng góc
trông (u). Việc tăng góc u cũng chỉ có một giới hạn nhất định vì góc u quá lớn sẽ
làm suất hiện hiện tượng quang sai. Biện pháp tốt nhất là tăng n.
Thường vật đem soi (tiêu bản) được đặt trên một tấm kính, phía trên đậy
bằng một phiến kính mỏng (lamen) để bảo vệ tiêu bản. Do vậy ánh sáng từ vật phải
qua lamen vào không khí rồi tới vật kính, cho nên nó bị khúc xạ ở mặt ranh giới
giữa lamen và không khí (Hình 9.13)
Ta biết rằng chiết
suất thuỷ tinh lớn hơn chiết
suất không khí (ntt>nkk), nên
khi ánh sáng đi từ thuỷ tinh
ra không khí thì góc tới
Hình 9.13
luôn nhỏ hơn góc khúc xạ,
khi góc tới lớn hơn góc tới giới hạn(i>ig) sẽ xảy ra hiện tượng phản xạ toàn phần.
Vậy nếu góc trông (cũng chính bằng góc tới) mà lớn hơn góc tới giới hạn (u ≥ ig).
Thì sẽ không có ánh sáng tới vật kính, nghĩa là không nhìn thấy vật. Mặt khác, khi u
nhỏ thì năng suất phân ly của kính hiển vi nhỏ và độ dọi của ảnh nhỏ, ảnh sẽ mờ khi
quan sát.
Muốn tăng góc trông u (tức là tăng góc tới i), người ta thường để vật kính chìm
trong môi trường có chiết suất gần bằng chiết suất của thuỷ tinh, thí dụ như dầu xét có
n ≈ 1,50=ntt hay dầu bá hương có n=1,4. Phương pháp này gọi là dùng vật kính chìm
(hay vật kính dầu). Như vậy, việc dùng vật kính chìm sẽ tránh được hiện tượng phản
xạ toàn phần, đồng thời độ dọi của ảnh cũng tăng và tăng năng suất phân ly của kính

76
hiển vi. Kết quả là sẽ quan sát được những chi tiết nhỏ của vật và thấy rõ vật hơn. Biện
pháp này có thể tăng năng suất phân ly của kính hiển vi lên 4,5 lần.
Mặt khác, từ công thức dmin = 0,61 λ /(n.sinu), chúng ta thấy khi chiếu sáng
kính hiển vi bằng ánh sáng có bước sóng λ thì chỉ có thể phân giải được các điểm
cách nhau một khoảng cỡ λ . Do đó, nếu vật có kích thước nhỏ hơn λ thì dù kính
hiển vi có tinh xảo đến đâu cũng không phân giải được.
- Độ tương phản
Độ tương phản là sự khác nhau giữa cường độ sáng trên ảnh của vật và môi
trường xung quanh hoặc giữa các phần khác nhau trên ảnh. Độ tương phản càng
lớn thì ảnh càng rõ nét. Khi chiếu ánh sáng vào vật thì độ tương phản thể hiệ ở sự
hấp thụ khác nhau giữa phần cần quan sát với môi trường xung quanh. Thí dụ,
muốn quan sát nhân và bào tương của tế bào thì cường độ sáng đi qua nhân và bào
tương phải khác nhau. Do đặc điểm riêng của cấu trúc, khả năng hấp thụ năng lượng
của chúng sẽ khác nhau. Tuy nhiên trong thực tế có những đối tượng sống có mức
độ hấp thụ năng lượng ánh sáng giống nhau với môi trường xung quanh, do vậy độ
tương phản của ảnh kém. Để khắc phục nhược điểm này, người ta nhuộm vật
nghiên cứu bằng thuốc thử thích hợp. Kết quả là độ tương phản của ảnh tăng rõ rệt.
Nhưng chú ý rằng, việc nhuộm tiêu bản sẽ làm chết tế bào nên không thể quan sát
trực tiếp các hoạt động sống của tế bào.
9.2.3. Các loại kính hiển vi khác
9.2.3.1. Kính hiển vi tử ngoại
Nguyên lý và cấu tạo cơ bản giống
kính hiển vi trường sáng, chỉ khác.
- Soi tiêu bản bằng ánh sáng tử
ngoại (đèn thuỷ ngân).
- Các hệ thống quang học đều
làm bằng thạch anh và thuỷ tinh
thường hấp thụ mạnh tia tử ngoại.
- Có bộ lọc tia tử ngoại để tạo ra Hình 9.14

chùm tia đơn sắc. Hệ thống lọc này gồm lăng kính phân tích, các khe lọc, lăng kính
phản xạ toàn phần (Hình 9.14). Cần chú ý không quan sát trực tiếp trên kính hiển vi

77
tử ngoại bằng mắt thường vì tia từ ngoại có tác hại lớn tới mắt. Vì vậy khi nghiên
cứu bằng kính hiển vi tử ngoại phải chụp bằng phim ảnh hay kính ảnh.
Ưu điểm chính của kính hiển vi tử ngoại là tia tử ngoại có bước sóng ngắn,
do đó làm tăng năng suất phân ly của kính (có thể tăng gấp đôi so với kính hiển vi
trường sáng), đồng thời cũng làm tăng độ tương phản của ảnh, vì các thành phần
cấu trúc tế bào như protein, acid nucleic hấp thụ mạnh tia tử ngoại.
9.2.3.2. Kính hiển vi hùynh quang
Nguyên lý của kính hiển vi huỳnh quang là dựa vào hiện tượng một số chất khi
bị chiếu bởi tia tử ngoại sẽ kích thích bức xạ ra ánh sáng có bước sóng đặc trưng cho
chính nó. Thí dụ, diệp lục sẽ phát quang màu đỏ tươi. Sự phát quang của chính vật cần
nghiên cứu do tác dụng của tia tử ngoại tạo nên ánh sáng huỳnh quang, ánh sáng huỳnh
quang sẽ tạo ảnh của vật qua kính hiển vi. Từ nguyên lý này ta thấy kính hiển vi huỳnh
quang có những phần giống kính hiển vi tử ngoại, chỉ thêm một bộ phận ngăn tia tử
ngoại để nó không có trong thành phần tạo ảnh của vật. Có một số thành phần trong
cấu trúc tế bào như protein, acid nucleic...không có khả năng phát quang, do đó phải
nhuộm các khối đối tượng đó bằng các chất có khả năng phát quang.
9.2.3.3. Kính hiển vi trường tối
Hiện tượng tán xạ là
hiện tượng các tia sáng sau khi
đi qua môi trường không đồng
nhất về mặt quang học sẽ bị đổi
phương so với phương truyền
Hình 9.15. Hiện tượng tán xạ ánh sáng
ban đầu (Hình 9.15).
Dựa vào hiện tượng tán
xạ, người ta đã chế tạo ra kính
hiển vi trường tối.
Về cấu tạo cơ bản
giống kính hiển vi trường
sáng, chỉ thêm màn chắn AB
đặt dưới kính tụ quang để
Hình 9.16. Kính hiển vi trường tối

78
ngăn các tia sáng gâng trục và cho các tia xa trục chính đi qua thấu kính (Hình 9.16).
Các tia sáng đi qua méo kính tụ quang bị khúc xạ với góc lớn, do đó sau khi đi qua
tiêu bản sẽ không tác dụng vào vật kính. Các hạt nhỏ có trong tiêu bản khi bị chiếu
sáng sẽ trở thành nguồn thứ cấp phát ánh sáng truyền đi theo mọi hướng và đi vào
vật kính, nhờ đó mà ta quan sát được tiêu bản.
Kính hiển vi trường tối làm tăng độ tương phản nhưng lại làm giảm khả năng
phân ly so với các kính hiển vi khác. Vì thế nó thường được dùng để quan sát sự di
chuyển (hoạt động) của đối tượng sống, không sử dụng trong nghiên cứu cấu trúc được.
9.2.4. Phương pháp chiếu và chụp bằng hiển vi
Nguyên lý chung của phương pháp này là quang hệ của kính hiển vi phải tạo ra
được ảnh thật của vật quan sát. Muốn vậy phải bố trí thị kính hoặc vật kính sao cho ảnh
của vật tạo bởi vật kính phải nằm ngoài tiêu điểm chính thứ nhất của thị kính.
- Muốn chiếu ảnh ta chỉ cần đặt màn ảnh tại vị trí của ảnh thật, vị trí của
màn ảnh phải được đặt thích hợp để cho ảnh rõ nét.
- Muốn chụp hoặc quay phim chỉ việc đặt máy ảnh (hay máy quay) vào vị trí
của mắt quan sát và điều chỉnh được ảnh thật của vật hiện lên phim ảnh giống như
ảnh hiện lên võng mạc của mắt khi quan sát (Hình 9.17).

Hình 9.17. Chiếu và chụp bằng kính hiển vi

9.2.5. Kính hiển vi điện tử


Theo lý thuyết lượng tử, các chùm hạt vi mô chuyển động với vận tốc cao
(xấp xỉ vận tốc ánh sáng) được gắn với một sóng liên kết- sóng Dơbrơi (Louis de
Broglie) được xác định theo công thức.
h
λ= (9.12)
m.v
Trong đó: h là hằng số Plăng (Planck)

79
m là khối lượng của vi hạt.
v là vận tốc của vi hạt.
Trong kính hiển vi điện tử vật nghiên cứu được chiếu bằng chùm tia điện tử
chuyển động nhanh. Điện tử từ nguồn phát điện tử trước khi chiếu vào mẫu được
gia tốc trong một điện trường rất mạnh tạo bởi một điện áp từ vài chục đến hàng trăm KV.
1
e.U= m.v 2 (9.13)
2
h
Từ (9.12) và (9.13) suy ra: λ= (9.14)
2.m.e.U
Trong đó: e là điện tích của điện trường; U là điện áp tăng tốc điện tử
Từ (9.14) ta thấy muốn làm giảm λ thì phải tăng U. Thí dụ, với U = 60KV
thì λ = 5.p.m; U = 100KV thì λ = 3p.m (1p.m=10-12m).
Như vậy chùm điện tử có bước sóng nhỏ hơn bước sóng của tia tử ngoại
hàng trăm nghìn lần. Nghĩa là năng suất phân ly của kính hiển vi điện tử lớn hơn
năng suất phân ly của kính hiển vi điện tử có thể phân giải được hai điểm có
khoảng cách nhỏ tới 2-3 p.m. Kính hiển vi điện tử có độ phóng đại từ vài trăm đến
hàng triệu lần). Vì thế dùng kính hiển vi điện tử loại tốt có thể nhìn thấy kích thước
vật cỡ phân tử.
9.2.5.1. Cấu tạo kính và sự tạo ảnh
Về nguyên tắc chung giống kính hiển vi quang học, song khác ở chỗ nguồn
phát bức xạ chiếu vào mẫu vật là nguồn phát điện tử và các thấu kính là các "thấu
kính điện tử" (sẽ trình bày ở phần
dưới đây). Để quan sát ảnh của vật,
người ta dùng màn huỳnh quang hay
phim ảnh.
Mẫu vật được đặt trong chân
không để tránh hiện tượng tán xạ của
electron trong không khí và làm tăng
độ tương phản (Hình 9.18) là sơ đồ
cấu tạo và nguyên tắc tạo ảnh của
kính hiển vi điện tử.

Hình 9.18. Sơ đồ cấu tạo của kính hiển vi


80 quang học và kính hiển vi điện tử
Chùm electron được phát ra từ sợi đốt (1) bằng kim loại trước khi đi vào thấu
kính từ hội tụ (2) đã được gia tốc ở vùng A có điện áp U = 60KV. Sau khi đi qua
thấu kính mẫu vật, chùm điện tử đi vào thấu kính từ (3) (có vai t rò như thị kính) sẽ
tạo ảnh A2B2 của A1B1. Màn huỳnh quang E sẽ ghi ảnh A2B2.
9.2.5.2. Thấu kính điện tử
- Thấu kính tĩnh điện: Đó là một tụ điện mà hai bản cực là hai lưới kim loại
tạo thành hai mặt cong đồng tâm(Hình 9.19). Điện tử sau khi xuyên qua các lỗ của
lưới sẽ đi vào vùng có tác dụng của điện trường, điện trường sẽ làm thay đổi hướng
truyền của điện tử làm cho tia điện tử song song trục chính sẽ hội tụ tại tiêu điểm.
- Thấu kính từ: Đó là cuộn dây hình Solenoid được bọc trong một vỏ thép
(Hình 9.20). Cuộn dây có cấu tạo để từ trường chỉ xuất hiện trong vùng E. Khi có
dòng điện chạy qua cuộn dây thì ở vùng E xuất hiện từ trường có cường độ H.
Chùm điện tử phát ra từ nguồn phát xạ điện tử A sau khi đi qua thấu kính sẽ hội tụ
tại A' do tác dụng của từ trường H.
9.2.5.3. Vai trò của kính hiển vi điện tử trong nghiên cứu y sinh học
Do khả năng phân ly lớn hơn rất nhiều lần so với kính hiển vi quang học nên
kính hiển vi điện tử được dùng để nghiên cứu các đối tượng vi mô, không những ở
mức độ tế bào mà còn ở mức phân tử như các acid, acid amin, protein…Nhờ kính
hiển vi điện tử chúng ta quan sát được một số đại phân tử cấu tạo nên các tế bào
như collagen trong tổ chức liên kết, một số vi rút. Kết hợp với phương pháp tự
chụp hình phóng xạ, có thể nghiên cứu mối liên quan giữa cấu trúc và chức năng
một số tế bào sống.

81
Hình 9.19. Thấu kính tĩnh điện Hình 9.20. Thấu kính từ

Chương 10
BẢN CHẤT CỦA ÁNH SÁNG
10.1. THUYẾT SÓNG ĐIỆN TỪ VỀ BẢN CHẤT CỦA ÁNH SÁNG
Từ năm 1865, Maxwell đã kết luận rằng ánh sáng là sóng điện từ. Kết luận
này được thực nghiệm chứng minh là đúng.
Theo thuyết sóng điện từ, ánh sáng truyền đến một điểm được đặc trưng bằng
JG JJG
2 vectơ tại điểm đó: vectơ cường độ điện trường E và vectơ cường độ từ trường H .
Hai vectơ này vuông góc với nhau và vuông góc với phương truyền ánh sáng, chúng
có giá trị thay đổi theo thời gian. Trường hợp đơn giản nhất có thể biểu diễn:
JG JJG
E = E0 cos(ω t + α )
JJG JJJG
H = H0 cos(ω t + α ) (10.1)

0 x
v
H
z

Hình 10.1
JG
Giả sử trên trục toạ độ Oxyz tại O có ánh sáng truyền tới và ở đó vectơ E ,
JJG
H thay đổi theo quy luật trên, ánh sáng truyền đi tiếp theo phương Ox, biều diễn sự
JG JJG
biến thiên của E trong mặt phẳng xOy, H trong mặt phẳng xOz (hình 10.1). E0 và
H0 là biên độ dao động của các vectơ cường độ điện trường và từ trường, ω là tần số,
góc α là pha ban đầu. Khi ánh sáng truyền đến điểm M nào đó cách O một khoảng x
JG JJG
thì tại đó cường độ điện trường E và cường độ từ trường H thay đổi theo quy luật:

82
JG JJG ⎛ x ⎞
E = E0 cos ⎜ ω (t − ) + α ⎟
⎝ v ⎠
JJG JJJG ⎛ x ⎞
H = H0 cos ⎜ ω (t − ) + α ⎟ (10.2)
⎝ v ⎠
v là tốc độ lan truyền ánh sáng của môi trường chứa hai điểm O và M.
Khi ánh sáng truyền đến mắt ta chỉ có thành phần điện trường gây cảm giác
sáng, còn thành phần từ trường không gây cảm giác sáng nên khi ta xét tương tác
của ánh sáng với nguyên tử, phân tử vật chất ta chỉ cần quan tâm đến thành phần
điện trường. Biểu thức:
JG JJG ⎛ x ⎞
E = E0 cos ⎜ ω (t − ) + α ⎟
⎝ v ⎠
Trong đó:
f - tần số ánh sáng
ω = 2 πf
λ - bước sóng
λ.f = v (10.3)
JG
E khi ấy gọi là véc tơ sáng.
Khi ánh sáng truyền trong chân không, nó có tốc độ cực đại, ký hiệu là c
(c=300.000 km/s). Gọi bước sóng ánh sáng trong chân không là λ0 ta có:
λ0.f = c (10.4)
Biểu thức (10.3) và (10.4) cho ta thấy là ánh sáng có tần số càng lớn thì bước
sóng càng nhỏ và ngược lại. Từ (10.4) và (10.3) ta có:
λ0 f c λ0
= = =n (10.5)
λf v λ
n gọi là chiết suất của môi trường. Biểu thức này cho ta thấy bản chất của
chiết suất môi trường. Để đơn giản, sau này khi nói đến bước sóng ta hiểu đó là
bước sóng trong chân không.
1
Người ta cũng có: c=
ε 0 μ0
Với ε0 là hằng số điện môi còn μ0 là độ từ thẩm của chân không.

83
ε 0 = 8, 84.10−12.SI ; μ0 = 1, 26.10 −6.SI
Cường độ trung bình tại một điểm của sóng điện từ (hoặc ánh sáng) truyền
tới được tính theo công thức:
1
I = ε 0 .c.Eo2
2
Trong quang phổ học, đặc biệt là quang phổ miền hồng ngoại người ta dùng
một đại lượng khác đó là số sóng, ký hiệu là f
1 1
f = =
c λ
Dựa vào số đo của λ người ta quy ước sóng điện từ chia thành thang sóng
như sau:
Bảng 7.1
Loại sóng λ (tính trong chân không)
Sóng vô tuyến điện 3.106 cm ÷ 10-1 cm
Tia hồng ngoại 10-1 cm ÷ 0,76 μm
Ánh sáng nhìn thấy 0,76 μm ÷ 0,39 μm
Tia tử ngoại 0,39 μm ÷ 10-2 μm
Tia Rơnghen 10-2 μm ÷ 10-5 μm
Tia gama 10-5 μm ÷ trở xuống

Đối với miền ánh sáng nhìn thấy, mỗi chùm ánh sáng có bước sóng xác định
gây nên một cảm giác màu sắc nhất định, ngược lại với mỗi màu đơn sắc tương ứng
với một vùng bước sóng hẹp. Bảng 7.2 cho ta quan hệ tương đối giữa các màu đơn
sắc và bước sóng.
Bảng 7.2
Màu sắc Bước sóng (μm)
Đỏ 0,76 ÷ 0,63
Da cam 0,63 ÷ 0,60
Vàng 0,60 ÷ 0,57
Lục (xanh lá cây) 0,57 ÷ 0,50

84
Lam (xanh da trời) 0,50 ÷ 0,45
Chàm (xanh biển đậm) 0,45 ÷ 0,43
Tím 0,43 ÷0,39

Tính chất sóng của ánh sáng thể hiện rõ ràng qua hiện tượng giao thoa, nhiễu
xạ và phân cực ánh sáng.
10.2. HIỆN TƯỢNG GIAO THOA ÁNH SÁNG
10.2.1. Thí nghiệm của Young về giao thoa ánh sáng
Năm 1802 Young đã làm thí nghiệm sau:
Đặt một nguồn sáng điểm S trước màn chắn sáng P trên đó có đục hai lỗ tròn
S1 và S2 gần nhau, sau màn chắn P đặt màn ảnh Q (Hình 10.2)
Thí nghiệm cho biết:
- Khi S1 và S2 có kích thước lớn thì trên màn Q chỉ có hai vệt sáng a và b
nằm ở trên đường thẳng kéo dài SS1, SS2. ánh sáng đi qua S1 và S2 tuân theo định
luật truyền thẳng của ánh sáng.
- Khi S1 và S2 có kích thước khá bé chỉ khoảng vài phần nghìn khoảng cách
từ S1, S2 đến màn Q thì có hiện tượng trên màn Q xuất hiện những vân sáng, tối
nằm xen kẽ nhau và đối xứng vân sáng ở giữa tại O (xem hình 10.2). Hiện tượng
này gọi là sự giao thoa của ánh sáng. Khi các sóng truyền tới và giao nhau tại một
điểm trong môi trường truyền sóng, tại vùng không gian có các sóng sáng giao nhau
xuất hiện các miền sáng tối xen kẽ nhau.
Vận dụng các định luật
Q
của quang hình không giải P
thích được hiện tượng này. a
Tuy nhiên với quan điểm S1 V©n s¸ng
quang học sóng cho rằng ánh
S
sáng là sóng điện từ thì lại S2
Nguån V©n tèi
giải thích được hiện tượng s¸ng
b
trên. Thật vậy, theo nguyên lý
Huyghens - Fresnel hai lỗ nhỏ
S1 và S2 nhận ánh sáng từ
Hình 10.2

85
nguồn sáng S truyền tới được xem như là hai nguồn sáng điểm thứ cấp phát ra sóng
ánh sáng về phía trước nó. Theo nguyên lý về sự chồng chất của sóng thì dao động
sáng tại một điểm bất kỳ trên màn Q sẽ là dao động tổng hợp của các dao động sáng
từ nguồn sáng thứ cấp S1 và S2 gửi tới điểm đó. Tùy theo hiệu số pha của các dao
động sáng này mà tại điểm ta đang xét sẽ sáng hoặc tối.
10.2.2. Điều kiện để có giao thoa ánh sáng
Thí nghiệm về hiện tượng giao thoa cho thấy không phải tất cả các trường
hợp hai sóng giao nhau đều gây nên hiện tượng giao thoa. Muốn có giao thoa thì hai
sóng sáng giao nhau tại một điểm nào đó trong không gian phải có cùng chu kỳ T0
và cùng phương dao động. Phương trình dao động của hai sóng sáng tại điểm giao
nhau sẽ là:

E1 = E01 cos( t + α1 ) (10.6)
T0

E2 = E02 cos( t + α2 ) (10.6’)
T0
E1 và E2 là giá trị của hai véc tơ sóng sáng tại điểm giao nhau ở thời điểm t.
Theo nguyên lý chồng chất các sóng thì điểm giao nhau có sóng sáng tổng
hợp bằng tổng hợp các sóng sáng tới. Vì các sóng sáng có cùng chu kỳ và cùng
phương dao động nên có thể áp dụng kết quả tính toán của tổng hợp các dao động
cơ học. Ta có phương trình dao động của sóng sáng tổng hợp như sau:

E = E1 + E2 = E0 cos( t +α) (10.7)
T0
trong đó biên độ dao động E0 được xác định theo công thức:
E02 = E01
2
+ E02
2
+ 2 E01 .E02 cos(α1 − α 2 ) (10.8)

(α1 - α2) là hiệu số pha ban đầu của hai dao động sáng thành phần.
Pha ban đầu (α) của dao động sáng tổng hợp được xác định theo công thức:
E01 sin α1 + E02 sin α 2
tgα = (10.9)
E01 cos α1 + E02 cos α 2

vì I = E02 nên kết hợp với (7.9) ta có:

I = E02 = E01
2
+ E02
2
+ 2 E01 .E02 cos(α1 − α 2 ) (10.10)

86
Từ công thức (10.9) ta thấy cường độ ánh sáng tại điểm mà hai sóng sáng
giao nhau phụ thuộc vào hiệu số pha ban đầu:
- Hiệu số pha ban đầu (α1 - α2 ) không thay đổi theo thời gian.
Khi đó cường độ sáng I tại điểm hai sóng sáng giao nhau có giá trị hoàn toàn
xác định, giá trị của cường độ sáng lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào giá trị của hiệu số pha
ban đầu (α1 - α2). Vì vậy trong vùng không gian có giao thoa ánh sáng sẽ có điểm
sáng hơn hay tối hơn.
- Hiệu số pha (α1 - α2) phụ thuộc vào thời gian và luôn thay đổi hỗn loạn.
Khi đó cos(α1 - α2) có thể có giá trị từ -1 đến +1, giá trị trung bình của
cos(α1 - α2) tính theo thời gian bằng không nên I = E01
2
+ E02
2
, như vậy cường độ
sáng tại mọi điểm khác nhau sẽ có cường độ như nhau do đó sẽ không có hiện
tượng giao thoa ánh sáng.
Tóm lại điều kiện để có giao thoa là hai sóng sáng giao nhau phải là hai sóng
sáng kết hợp (có cùng chu kỳ, có hiệu số pha ban đầu không đổi theo thời gian) và
có cùng phương dao động. Những nguồn phát ra các sóng kết hợp gọi là những
nguồn kết hợp.
10.2.3. Điều kiện để có cực đại và cực tiểu giao thoa
Giả sử có nguồn sáng S phát ra ánh sáng truyền qua nhiều môi trường khác
nhau về chiết suất. B1 và B2 là các nguồn phát sáng thứ cấp phát ra các sóng sáng
kết hợp, hai sóng sáng kết hợp phát ra từ B1 và B2 truyền đến M và giao nhau tại đó.
Ta tìm điều kiện để cường độ sáng tại M là lớn nhất hay nhỏ nhất.
Như vậy ta đã biết tại M có sự giao thoa của hai sóng sáng. Phương trình dao
động sáng tại điểm S có dạng:

E = E0 cos( t +α) (10.11)
T0

B1
A1

M
S

(1) (2) (3)


A2
B2
Hình 10.3
H×nh 7.3
87
Gọi L1 là quang lộ của tia sáng thứ nhất trên đoạn đường SA1B1M và L2 là
quang lộ của tia thứ hai trên đoạn SA2B2M.
Ta đã biết quang lộ L của tia sáng trên một đoạn đường được xác định theo
công thức L = c.t với c là vận tốc của sóng truyền trong chân không, t là thời gian
ánh sáng đi qua hết đoạn đường đó. Như vậy khoảng thời gian để tia sáng thứ nhất
đi hết đoạn đường SA1B1M là τ1 = L1/c và tia thứ hai đi hết đoạn đường SA2B2M
mất khoảng thời gian là τ2 = L2/c. Phương trình dao động sáng tại M ở thời điểm t
do tia sáng thứ nhất và thứ hai gửi tới sẽ là:
G G ⎡ 2π ⎤ G ⎡ ⎛ t L ⎞ ⎤
E1 = E 01 cos ⎢ (t − τ 1 ) + α 1 ⎥ = E 01 cos ⎢2π ⎜⎜ − 1 ⎟⎟ + α 1 ⎥ (10.12)
⎣ T0 ⎦ ⎣ ⎝ T0 λ0 ⎠ ⎦
G G ⎡ 2π ⎤ G ⎡ ⎛ t L ⎞ ⎤
E 2 = E02 cos ⎢ (t − τ 2 ) + α 2 ⎥ = E02 cos ⎢2π ⎜⎜ − 2 ⎟⎟ + α 2 ⎥ (10.13)
⎣ T0 ⎦ ⎣ ⎝ T0 λ0 ⎠ ⎦
Ở đây λ0 = c.T0 là bước sóng của ánh sáng truyền đi trong chân không. Tại
M sẽ có sự tổng hợp của hai dao động sáng này. Để cho đơn giản ta giả thiết hai
sóng sáng sẽ có cùng biên độ (E01 = E02 = E0) và cùng phương trình dao động, do đó
ta có:
E = E1 + E 2
L2 − L1 α1 − α 2 ⎡ t L + L1 α1 + α 2 ⎤
E = 2.E0 cos(π + ).cos ⎢2π ( − 2 )+ ⎥
λ0 2 ⎣ T0 2λ0 2 ⎦

Từ công thức trên ta thấy dao động sáng tổng hợp có biên độ là:
L2 − L1 α1 − α 2
2 E0 cos(π + )
λ0 2
Ta đã biết cường độ sáng I tỷ lệ với bình phương biên độ, do đó ta có:
L2 − L1 α1 − α 2
I = 4 E02 cos 2 (π + )
λ0 2

Với các sóng sáng kết hợp khi giao thoa sẽ có α1 - α2 không thay đổi theo
thời gian do đó cường độ sáng tại M chỉ phụ thuộc vào hiệu quang lộ L2 - L1

88
Nếu α1 = α2 = 0 thì cường độ ánh sáng tại M được xác định theo công
thức sau:
L 2 − L1
I = 4 E 02 cos 2 (π ) (10.14)
λ0
Ta ký hiệu L2 - L1 = Δ , biểu thức (7.14) sẽ được viết lại như sau:
πΔ 2π Δ
I = 4 E 02 cos 2 ( ) = 2 E 02 (1 + cos ) (10.15)
λ0 λ0
2.π .Δ
Đại lượng δ = là hiệu số pha của hai sóng tại M. Từ biểu thức (10.15)
λ0
ta có:
- Nếu δ = 2kπ hay Δ = k λ0 (10.16)
Thì cường độ sáng sẽ có giá trị cực đại và bằng Imax = 4 E02
Vậy: cường độ sáng sẽ có giá trị cực đại tại những điểm mà hiệu số pha của
hai sóng tại đó bằng một số chẵn lần của π hay hiệu quang lộ của chúng là một số
nguyên lần bước sóng.
λ0
- Nếu δ = (2k+1)π hay Δ = (2k +1) (10.17)
2
Thì cường độ sáng sẽ có giá trị cực tiểu và bằng không: Imin = 0
Vậy: cường độ sáng sẽ có giá trị cực tiểu tại những điểm mà hiệu số pha của
hai sóng tại đó bằng một số lẻ lần của π hay hiệu quang lộ của chúng là một số lẻ
lần của nửa bước sóng.
Các biểu thức (7.16) và (7.17) là điều kiện để có cực đại và cực tiểu giao
thoa, k là số nguyên có thể lấy giá trị 0, ±1, ± 2... và được gọi là bậc giao thoa. Rõ
ràng rằng nếu hai sóng giao thoa cùng pha thì cường độ sáng tại M được tăng cường
còn trường hợp hai sóng giao thoa ngược pha thì cường độ sáng tại M sẽ giảm đi.
Trường hợp E01 ≠ E02 thì cường độ ánh sáng tại M được biểu diễn bởi công
thức sau:
2πΔ
I = E 02 = E 012 + E 022 + 2 E 01 E 02 cos
λ0

89
⎛ πΔ ⎞
I = (E 01 − E 02 ) + 4 E 01 E 02 cos 2 ⎜⎜ ⎟⎟
2

⎝ λ0 ⎠
Nếu: Δ = k λ thì I max = (E01 + E02 )2

Δ = (2k+1) λ0/2 thì I max = (E01 − E02 )2


10.2.4. Hình dạng và vị trí các vân giao thoa
- Hình dạng các vân giao thoa:
Giả sử có hai sóng phát ra từ hai nguồn kết hợp S1 và S2 tới giao nhau tại M
trên màn ảnh Q, đặt L1 = S1M và L2 = S2M (Hình 10.4)
Như ta đã biết, điều kiện để có cực đại và cực tiểu giao thoa là:
L2 - L1 = k λ0
L2 - L1 = (2k +1)λ0/2 (10.18)
Với k = 0, ±1, ± 2... là bước sóng truyền trong chân không.

M
S1 Q
L1 x
S1 L2 H

O1 O2

S2 D
(R)

S2

Hình 10.4 Hình 10.5

Theo hình học giải tích thì quỹ tích của những điểm trong không gian có hiệu
số khoảng cách tính từ chúng tới hai điểm cố định cho trước bằng một số không đổi
là một mặt Hybecbôn tròn xoay hay còn gọi là mặt Hypecbôloit, có hai tiêu điểm là
hai điểm cố định đó. Khi xác định các cực đại và các cực tiểu giao thoa theo công
thức (10.18) là thấy tập hợp các cực tiểu giao thoa nằm trên họ mặt hypecbôn tương
ứng các giá trị khác nhau của k và nhận S1, S2 làm tiêu điểm (hình 10.5). Các họ
mặt Hypecbôn xác định các điểm sáng cực đại và cực tiểu nằm xen kẽ nhau và đối

90
xứng qua mặt phẳng R là mặt phẳng trung trực của S1 và S2. Nếu cắt các mặt
hypecbôn bằng một mặt phẳng trùng với màn ảnh Q thì mặt phẳng này sẽ cắt mặt
phẳng R theo đường vuông góc với S1, S2 và cắt các mặt hypecbôn theo những
đường hypecbôn. Những đường hypecbôn này có cường độ sáng tối nằm xen kẽ
nhau và đối xứng nhau qua giao tuyến của hai mặt phẳng R và Q.
Các đường hypecbôn sáng tối này là các vân giao thoa. Vì khoảng cách S1,
S2 ≈ 1mm nên các mặt hypecbôn rất hẹp, do đó các vân giao thoa có độ cong rất bé.
Thực tế khi quan sát ảnh giao thoa ở khoảng hẹp nên các vân giao thoa có dạng các
đường thẳng song song và cùng vuông góc với mặt phẳng S1S2O.
- Vị trí của các vân giao thoa: Để xác
M
định vị trí của các vân giao thoa, ta tính
khoảng cách x = O2M. Gọi khoảng cách L1
S1 S2 = d và PQ = D
S1
Xét các tam giác S1H1M và H1
L2
d O2
d O1
S2H2M ta có: L = D + (x − )2
2
1
2

2
S2 H2
D
d
L22 = D 2 + (x + )2 (10.19) P
2
Q
Từ công thức 7.19 ta có:
Hình 10.6
L22 − L21 = 2 xd
(L2 − L1 )(L2 + L1 ) = 2 xd

2 xd
(L2 − L1 ) = (10.20)
(L2 + L1 )
Vì thí nghiệm bố trí để D >> d và điểm M xét gần O2 các tia S1M và S2M có
độ nghiêng rất bé so với phương O1O2. Vì thế có thể coi L2 + L1 ≈ 2 D và do vậy
công thức (7.20) được viết :
d
L2 − L1 ≈ x (10.21)
D
Kết hợp với điều kiện để có cực đại giao thoa (7.7) và các cực tiểu giao thoa
(7.8) ta có:

91
d λ0 D
X max = k λ0 X max = k (10.22)
D d
d λ (2k + 1) ⋅ λ0 D
X min = (2 k + 1) 0 X mim = (10.23)
D 2 2 d
Khi k = 0 thì xmax = 0 nên tại điểm O2 ta có vân sáng gọi là vân sáng giữa,
những vân sáng và tối khác xen kẽ nhau và đối xứng qua vân sáng giữa. Từ (10.22)
và (10.23) cho thấy khoảng cách giữa hai vân sáng hoặc hai vân tối liên tiếp bằng
λ0 D
i= ; i rõ ràng là không phụ thuộc vào k mà tỉ lệ với bước sóng λ0 trong chân
d
không (ánh sáng đơn sắc). Trong trường hợp ánh sáng đơn sắc có λ0 khác nhau thì i
sẽ thay đổi do vậy nếu S1 và S2 phát ra ánh sáng trắng thì mỗi ánh sáng đơn sắc cho
một hệ thống giao thoa với màu sắc khác nhau. Những vân màu có cùng giá trị của
k sẽ hợp thành vân sáng nhiều màu, tuy nhiên vân ở giữa vẫn là vân sáng trắng vì
tại đó có sự chồng chất của tất cả các vân sáng có màu khác nhau.
10.3. HIỆN TƯỢNG NHIỄU XẠ ÁNH SÁNG
10.3.1. Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng
10.3.1.1. Thí nghiệm của Fresnel về hiện tượng nhiễu xạ.
Ánh sáng từ nguồn điểm S truyền qua
a'
lỗ tròn trên màn chắn P (hình 10.7)
a
- Nếu lỗ tròn trên màn P có khích
S
thước tương đối lớn thì trên màn ảnh Q sau P
ta thu được một vệt sáng tròn có kích thước
P b
ab, như vậy ánh sáng từ S đã truyền qua lỗ
b'
trên P tuân theo đúng định luật truyền thẳng
Q
của ánh sáng.
Hình 10.7
- Khi thu nhỏ lỗ tròn trên P thì kích
thước lỗ tròn ab cũng thu nhỏ lại. Trong trường hợp kích thước của lỗ tròn khá bé
(vào khoảng vài phần nghìn của khoảng cách từ nó tới nguồn sáng S) thì ta thấy
trên màn ảnh Q xuất hiện nhiều vòng tròn sáng tối đồng tâm và xen kẽ nhau, kể cả
trong cùng bóng tối hình học a’, b’. Tâm điểm của các vòng tròn sáng tối có thể
sáng hoặc tối tuỳ thuộc vào kích thước lỗ tròn và vị trí của màn ảnh Q.

92
Hiện tượng các vân sáng, tối xuất hiện cả ở vùng bóng tối hình học chứng tỏ
ánh sáng đã lệch khỏi phương ban đầu.
10.3.1.2. Định nghĩa nhiễu xạ ánh sáng
Hiện tượng các tia sáng bị lệch khỏi phương truyền thẳng trong môi trường
đồng tính khi chúng đi gần các vật chướng ngại, tạo nên các vân sáng tối trong cả
vùng bóng tối hình học được gọi là hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng. Các vân sáng, tối
xen kẽ nhau được gọi là vân nhiễu xạ.
Các vật cản để gây nên hiện tượng nhiễu xạ có thể là các khe hở hình chữ
nhật, lỗ tròn có kích thước khá bé hoặc các đoạn dây kim loại mảnh. Dựa vào
nguyên lý Huyghen - Fresnel ta có thể giải thích được hiện tượng nhiễu xạ như sau:
Mỗi điểm của lỗ tròn nhận được ánh sáng từ nguồn sáng điểm S gửi tới được coi là
nguồn sáng thứ cấp, phát ra các sóng ánh sáng truyền đến điểm M bất kỳ trên màn
Q, dao động sáng tại M sẽ là một dao động tổng hợp của các dao động sáng thành
phần do các nguồn sáng thứ cấp gửi tới. Tuỳ theo hiệu số pha giữa các dao động sáng
này mà điểm M có thể sáng hoặc tối.
10.3.1.3. Nhiễu xạ của sóng phẳng
Ở trên ta xét hiện tượng nhiễu xạ của các sóng cầu do nguồn sáng điểm nằm
gần các vật chướng ngại gây ra. Bây giờ ta xét trường hợp các nguồn sáng ở rất xa
vật cản, thì sóng sáng phát ra từ các nguồn đó được coi là các sóng phẳng và hiện
tượng nhiễu xạ xảy ra ở khá xa vật cản khi ánh sáng truyền qua gọi là nhiễu xạ ở vô
cực hay còn gọi là nhiễu xạ Fraunhopher. Hiện tượng nhiễu xạ ở vô cực có thể xảy
ra khi cho các chùm tia sáng song song (các sóng phẳng) đi qua một khe hẹp hình
chữ nhật có chiều dài vô hạn hoặc hai khe hẹp song song, nhiều khe hẹp song song
và qua một khe hở là một lỗ tròn có đường kính khá bé. Trong phần này chủ yếu ta
xét đến hiện tượng nhiễu xạ qua một khe hẹp, qua một lỗ tròn và các ứng dụng.
- Nhiễu xạ qua một khe hẹp
Một nguồn sáng điểm S đặt ở tiêu
Q
điểm của thấu kính hội tụ L1 ánh sáng L2
M
P
phát ra từ S sau khi đi qua L1 sẽ là chùm L1
Bo ϕ

tia sáng song song rọi vuông góc vào B1


H1
S

Σο
Σ1
Σ2 x
93

Hình 10.8
mặt phẳng của một khe hẹp có bề rộng là b của màn chắn sáng P (hình 10.8).
Sau P đặt một thấu kính hội tụ L2 và màn ảnh Q trùng với mặt phẳng tiêu
của L2. Cả L1, L2 và Q đều song song với P. Khi b rất nhỏ so với chiều dài khe thì
chùm sáng song song khi truyền tới khe bị nhiễu xạ theo mọi phương. Các tia nhiễu
xạ lệch một góc ϕ so với phương ban đầu sẽ hội tụ tại điểm M trên mặt phẳng tiêu
Q của thấu kính hội tụ L2, các chùm tia nhiễu xạ khác nhau cũng sẽ hội tụ ở các
điểm khác nhau trên màn Q kết quả tạo nên ảnh nhiễu xạ của nguồn sáng S. Vì S là
nguồn điểm nên ảnh nhiễu xạ là một dãy đoạn sáng ngăn cách nhau bằng các điểm
tối đen nằm trên đường thẳng x vuông góc với chiều dài khe.
Theo nguyên lý Huyghen - Fresnel các điểm sáng B0, B1, B2 ... của khe là các
nguồn phát sáng thứ cấp thuộc các mặt kín ∑0, ∑1 ... Vì chiều rộng khe là khá bé
nên chùm tia nhiễu xạ song song gặp nhau ở M xa vô cùng nên ∑0, ∑1 ... được coi
như các mặt phẳng song song và vuông góc với chùm tia nhiễu xạ tại B0, B1, .... Các
mặt sóng phẳng có tâm là M có bán kính lớn hơn nhau một lượng:
λ0
= B1 H1 (10.24)
2
Các mặt ∑0, ∑1 ... chia bề rộng khe hẹp thành dải khe hẹp (đới phẳng
Fresnel) có bề rộng là B0B1, B1B2 ... bằng nhau. Từ hình 7.8 ta thấy:
B1 H1 λ0
B0 B1 = = (10.25)
sin ϕ 2 sin ϕ
Như vậy số dải Fresnel thuộc mặt khe sẽ là:
b 2 b sin ϕ
n= = (10.26)
λ0 λ0
2 sin ϕ
+ Nếu khe chứa một số chẵn dải Fresnel nghĩa là :
2 b sin ϕ
n= = 2 k với k = 0, ±1, ±2, ... (10.27)
λ0
thì điểm M sẽ là một điểm tối, gọi là cực tiểu nhiễu xạ. Từ (10.27) ta có:
λ0
sin ϕ = k (10.28)
b

94
Với k = 0 thì từ công thức (10.28) suy ra ϕ = 0 nghĩa là chùm sáng phát ra từ
các nguồn sáng thứ cấp sẽ cùng phương với chùm tia tới và hội tụ tại điểm giữa M0
trên màn Q đồng thời hiệu quang lộ giữa các cặp tia đều bằng không, do đó sẽ cho
một cực đại sáng tại M0 có cường độ sáng lớn nhất gọi là cực đại nhiễu xạ giữa.
+ Nếu khe chứa một số lẻ dải Fresnel nghĩa là:
2 b sin ϕ
n= = 2 k + 1 với k = 0, ±1, ±2,...
λ0

thì điểm M sẽ là một điểm sáng, gọi là cực đại nhiễu xạ và góc nghiêng ϕ
ứng với các cực đại nhiễu xạ được xác định theo công thức sau:
λ0
sin ϕ = (2 k + 1) Với k = ±1, ±2, ... (10.29)
2b
Những vấn đề trình bày trên là mô tả và giải thích đối với trường hợp nhiễu
xạ qua một khe hẹp của chùm sáng song I
song phát ra từ nguồn sáng điểm S. Io
Trong trường hợp S là một khe sáng
song song với khe hẹp của màn chắn
sáng P thì ảnh nhiễu xạ trên Q sẽ là một
dãy vân sáng song song với khe sáng S -2λο -λο O λο 2λο sinϕ
b b b b
và đi qua các cực đại nhiễu xạ nói trên,
Hình 10.9
những vân sáng ngăn cách nhau bằng
những vạch tối đen.
Sự phân phối cường độ sáng của các cực đại và cực tiểu nhiễu xạ được mô tả
trên hình (hình 10.9).
∗ Vân sáng giữa M0 có cường độ sáng lớn nhất và gấp nhiều lần so với cực
đại nhiễu xạ tiếp theo, các cực đại tiếp theo có cường độ sáng giảm dần, nếu cực đại
giữa có cường độ sáng là I0 thì cường độ sáng của cực đại thứ nhất là I1= 0,047 I0 và
cực đại thứ hai là I2= 0,016 I0, …
∗ Bề rộng của cực đại giữa gấp đôi bề rộng các cực đại nhiễu xạ khác kể cả
hai phía của cực đại giữa.
Do hai đặc điểm trên của cường độ sáng của các vân nhiễu xạ mà trong nhiều
trường hợp khi nghiên cứu ta chỉ quan tâm đến cực đại giữa ứng với k = 0.

95
Từ sự phân tích ở trên ta thấy sự phân bố cường độ sáng của vân nhiễu xạ
phụ thuộc vào phương của chùm tia nhiễu xạ (ϕ). Do đó, khi dịch chuyển vị trí của
khe sao cho vân song song với chính nó thì ảnh nhiễu xạ thụ được trên màn Q
không thay đổi. Như vậy nếu chiếu một chùm tia sáng song song qua hai khe hẹp
song song hay nhiều khe hẹp song song với nhau và có bề rộng như nhau thì ảnh
nhiễu xạ của từng khe riêng biệt sẽ hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên ngoài sự nhiễu
xạ của từng khe còn có sự giao thoa của các chùm tia nhiễu xạ từ các khe khác
nhau, do vậy sẽ có sự phân bố lại cường độ sáng và ảnh nhiễu xạ trở nên phức tạp
hơn. Do có hiện tượng giao thoa của các chùm tia nhiễu xạ từ các khe khác nhau mà
có các cực đại chính khi các dao động sáng giao thoa cùng pha với nhau và có các
cực tiểu phụ khi các sóng sáng giao thoa ngược pha nhau, tại những điểm trên màn
ảnh Q không có sóng sáng gửi đến là các cực tiểu chính. Bề rộng các cực đại chính
giảm đi khi tổng số khe hẹp tăng lên. Khi tổng số khe hẹp rất lớn (vài nghìn khe trở
lên) thì các cực đại chính rất mảnh, các cực đại phụ hầu như biến mất do vậy ảnh
nhiễu xạ chỉ là các vạch sáng nổi bật trên nền tối.
- Nhiễu xạ qua một lỗ tròn
Hiện tượng nhiễu xạ qua lỗ tròn có nhiều ứng dụng trong thực tế.
Ở thí nghiệm về hiện tượng nhiễu xạ qua
một khe hẹp, nếu thay khe hẹp có bề rộng là b
bằng một lỗ tròn nhỏ có bán kính r thì trên màn
ảnh Q sẽ thu được ảnh nhiễu xạ là các vân sáng,
tối xen kẽ và đồng tâm (Hình 7.10). ở giữa là vân
sáng trung tâm, có cường độ sáng cực đại I0 =
Imax, tiếp theo là các vân tối, sáng xen kẽ nhau.
Vân sáng thứ nhất có cường độ sáng I1 =
0,0174Imax,… Như vậy càng ra xa vân trung tâm Hình 10.10
thì cường độ sáng càng giảm dần. Bề rộng của
các vân sáng cũng giảm dần, càng xa vân trung tâm càng hẹp. Vân tối đầu tiên ứng
với góc lệch ϕ1 được xác định theo công thức sau:
λ
sin ϕ = 0,61 (10.30)
1 R

96
trong đó λ là bước sóng ánh sáng tới, R bán kính lỗ. Bán kính vân tối đầu
tiên được gọi là bán kính ảnh nhiễu xạ (vân sáng trung tâm).
λ. f
ρ = 0,61 (7.31)
R
với f là tiêu cự của thấu kính L2

97
10.4. HIỆN TƯỢNG PHÂN CỰC ÁNH SÁNG
10.4.1. Ánh sáng tự nhiên
Theo thuyết điện từ ánh sáng, các nguyên tử
phát ra ánh sáng dưới dạng những đoàn sóng điện từ
nối tiếp nhau. Trong mỗi đoàn sóng này, vectơ cường
độ điện trường E luôn luôn dao động theo một phương
xác định vuông góc với phương truyền của tia sáng; Tia s¸ng
nhưng do sự chuyển động hỗn loạn bên trong nguyên
tử nên đoàn sóng do một nguyên tử phát ra có thể dao
động theo nhiều phương khác nhau xung quanh tia
sáng; mặt khác nguồn sáng điểm ta xét dù rất nhỏ
Hình 10.11
cũng bao gồm nhiều nguyên tử, do đó có thể nói rằng H×nh 7.11
ánh sáng tự nhiên là ánh sáng trong đó vectơ cường độ điện trường E dao động một
cách đều đặn theo tất cả mọi phương vuông góc với tia sáng.
Để biểu diễn ánh sáng tự nhiên, ta vẽ trong mặt phẳng vuông góc với tia sáng
các véctơ E bằng nhau phân bố đều đặn xung quanh một đường tròn có tâm trên tia
sáng (Hình 10.11).
10.4.2. Ánh sáng phân cực
Nếu cho ánh sáng tự nhiên đi qua một môi trường bất đẳng hướng (ví dụ tinh
thể tuốcmalin, thạch anh...) thì trong những điều kiện nhất định nào đó, tác dụng
của môi trường lên ánh sáng có thể làm cho các vectơ cường độ điện trường E chỉ
dao động theo một phương xác định.
Ánh sáng trong đó vectơ cường độ điện trường E chỉ dao động theo một phương
xác định được gọi là ánh sáng phân cực thẳng hay ánh sáng phân cực toàn phần.
Nhưng cũng có những trường hợp tác dụng của môi trường lên ánh sáng tự
nhiên đi qua và vẫn để cho vectơ cường độ điện trường dao động theo tất cả các
phương vuông góc với tia sáng nhưng có phương mạnh, phương yếu khác nhau.
Trường hợp này ánh sáng được gọi là ánh sáng phân cực một phần.

Tia s¸ng Tia s¸ng

E
(a) (b)
Hình 10.12

98
Hiện tượng biến ánh sáng tự nhiên thành ánh sáng phân cực toàn phần hay
phân cực một phần được gọi là hiện tượng phân cực ánh sáng. Trên hình 10.12 biểu
diễn ánh sáng phân cực toàn phần (a) và ánh sáng phân cực một phần (b).

10.5. THUYẾT LƯỢNG TỬ VỀ BẢN


CHẤT CỦA ÁNH SÁNG
K
E
10.5.1. Hiệu ứng quang điện ngoài A

Hiệu ứng quang điện ngoài là hiện


tượng các electron được giải phóng khỏi
V
mặt ngoài của bản kim loại khi rọi một G

chùm ánh sáng thích hợp tới mặt bản kim R C

loại đó.
ε2 ε1
10.5.1.1. Thí nghiệm
Hình 10.13
Sơ đồ của thiết bị thí nghiệm dùng để
nghiên cứu hiệu ứng quang điện được vẽ trên hình (10.13). Thiết bị gồm một bóng
đèn có áp suất khoảng 10-6 mmHg. Trong bóng đèn có hai điện cực một cực là anốt
(A), cực kia là catốt (K). Catôt (K) được làm bằng kim loại cần nghiên cứu hiệu ứng
quang điện.
Hai nguồn điện có suất điện động là ε1 và ε2 có các cực mắc đối nhau.
Một biến trở R, một vôn kế, một điện kế G. Tất cả các dụng cụ này được mắc
thành mạch kín theo sơ đồ (Hình 10.13). Bóng đèn bằng thủy tinh có một cửa sổ
bằng thạch anh có tác dụng cho tia tử ngoại dễ dàng truyền qua. Nguồn ε1 và ε2 tạo
nên hiệu điện thế UAK giữa hai điện cực A và K tức là tạo nên một điện trường đều
giữa hai điện cực, biến trở R có tác dụng thay đổi UAK cả độ lớn lẫn dấu.
Đầu tiên khi chưa rọi ánh sáng vào điện cực catôt ta thấy kim điện kế không
quay; nếu rọi một chùm tia sáng tử ngoại qua cửa sổ bằng thạch anh vào điện cực K
thì thấy kim điện kế quay, điều đó chứng tỏ trong mạch đã có dòng điện. Dòng điện
xuất hiện trong mạch gọi là dòng quang điện. Ta đã biết trong bóng đèn áp suất rất
thấp (10-6mmHg), môi trường được xem như chân không (không chứa bất kỳ một
loại điện tích nào),như vậy chùm tia tử ngoại chiếu vào catôt K có tác dụng giải

99
phóng các điện tử khỏi bề mặt âm cực K. Các điện tử được giải phóng gọi là quang
điện tử. Dưới tác dụng của điện trường giữa hai cực điện A và K, các quang điện tử
chuyển động có hướng từ âm cực K sang dương cực A và tiếp tục đi vào mạch điện
tạo nên dòng quang điện không đổi Ia. Khi thay đổi cường độ chùm tia tử ngoại và
hiệu điện thế giữa hai cực UAK, tiến hành đo cường độ dòng quang điện Ia người ra
rút ra được các nhận xét cơ bản sau:
− Tia tử ngoại có hiệu quả nhất trong việc gây nên hiệu ứng quang điện.
− Cường độ dòng quang điện Ia tăng tỉ lệ với cường độ chùm tia sáng rọi vào
âm cực K.
− Chỉ có các vật tích điện âm mới mất điện tích khi bị rọi sáng, còn các vật
tích điện dương không bị ảnh hưởng của ánh sáng rọi tới. Như vậy điện tích bị bứt
ra khỏi mặt kim loại sẽ là điện tích âm.
− Hiệu ứng quang điện xảy ra tức thời, nghĩa là dòng quang điện xuất hiện
đồng thời với sự chiếu sáng.
10.5.1.2. Đường đặc trưng von - ampe
Khi nghiên cứu sự biến đổi của
cường độ dòng quang điện Ia theo UAK ta Ia
sẽ vẽ được đường cong biểu diễn Ia =
f(UAK), đường cong này gọi là đường
I bh
đặc trưng von - ampe của kim loại làm
âm cực K (Hình 10.14)
Từ đường đặc trưng von - ampe
ta thấy nếu UAK tăng thì Ia cũng tăng U AK
-U2 0
U1
theo, tuy nhiên UAK > U1 (một giá trị
Hình 10.14
nào đó của UAK) thì Ia không tăng nữa và
có giá trị không đổi, lúc đó cường độ dòng quang điện được gọi là bão hoà (Ibh). Từ
hình 10.14 cũng cho ta thấy rằng khi hiệu điện thế giữa A và K bằng không (UAK =
0), dòng quang điện vẫn có giá trị I0 và chỉ bị triệt tiêu khi UAK có giá trị âm xác
định (-U2), -U2 gọi là hiệu điện thế dừng, phụ thuộc vào bản chất của kim loại và
bước sóng ánh sáng rọi vào kim loại đó. Các giá trị hiệu điện thế UAK từ 0 đến U1

100
gọi là điện áp tăng tốc (tạo nên trường gia tốc). Dòng quang điện đạt giá trị bão hoà
khi tất cả các quang điện tử đều bị hút về cực dương do vậy mà việc tiếp tục tăng
UAK chỉ có thể làm tăng vận tốc của các quang điện tử chứ không làm tăng thêm
được lượng các quang điện tử, điều có nghĩa là cường độ dòng quang điện Ia không
tăng được nữa.
10.5.1.3. Các định luật quang điện
Khi tiến hành thí nghiệm với những chùm ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ
khác nhau rọi vào các cực âm (K) làm bằng các kim loại khác nhau người ta tìm
được các định luật quang điện sau:
- Định luật về giới hạn quang điện
Đối với mỗi kim loại xác định hiệu ứng quang điện chỉ xảy ra khi bước sóng
λ của chùm ánh sáng đơn sắc rọi tới nó nhỏ hơn giá trị xác định λ0; λ0 gọi là giới
hạn quang điện của kim loại đó (λ <λ0)
λ0 phụ thuộc vào bản chất của kim loại được rọi sáng và trạng thái mặt ngoài
của kim loại. Theo định luật trên thì hiển nhiên rằng với những chùm ánh sáng đơn
sắc có λ >λ0 và với cường độ ánh sáng rất mạnh cũng không gây nên được hiệu ứng
quang điện.
- Định luật về dòng quang điện bão hoà
Cường độ dòng quang điện bão hoà Ibh tăng tỉ lệ với cường độ của chùm ánh
sáng đơn sắc rọi tới kim loại.
- Định luật về động năng cực đại của các quang điện tử
Động năng cực đại của các quang điện tử tăng tỉ lệ với tần số của chùm ánh
sáng đơn sắc rọi tới kim loại và không phụ thộc vào cường độ của chùm ánh sáng đó.
Để giải thích được các định luật quang điện người ta phải dựa vào bản chất
của ánh sáng. Theo thuyết điện từ ánh sáng thì năng lượng ánh sáng được truyền đi
liên tục theo sóng và cường độ ánh sáng càng lớn thì năng lượng sóng ánh sáng
mang theo càng nhiều. Như vậy với quan điểm này sẽ không giải thích đựơc định
luật về giới hạn quang điện (λ < λ0) vì ánh sáng rọi vào kim loại chỉ cần có cường
độ lớn sẽ truyền được nhiều năng lượng cho điện tử ở lớp mặt ngoài kim loại để bứt
điện tử ra khỏi kim loại, do vậy không cần có điều kiện về giới hạn quang điện

101
trong mỗi kim loại, điều này không đúng với thí nghiệm. Thuyết điện từ ánh sáng
cũng không giải thích được tại sao động năng cực đại ban đầu của các quang điện tử
không phụ thuộc vào cường độ của trường sáng rọi tới kim loại đó. Về thời gian
xuất hiện hiệu ứng theo thuyết điện từ ánh sáng phải mất vài chục phút nhưng thực
tế thí nghiệm thì khoảng thời gian kể từ khi rọi sáng vào kim loại cho đến khi xuất
hiện quang điện tử đầu tiên chỉ vào khoảng 10-9 s. Nếu chúng ta chỉ quan niệm bản
chất của ánh sáng là sóng điện từ thì hoàn toàn bất lực khi vận dụng nó để giải thích
các định luật quang điện.

10.5.2. Thuyết lượng ánh sáng của Einstein và sự giải thích hiện tượng quang điện
10.5.2.1. Thuyết lượng tử ánh sáng của Einstein
Để khắc phục khó khăn của thuyết điện từ về bản chất ánh sáng khi vận dụng
để giải thích các định luật quang điện, vào năm 1905 Einstein đã dựa vào thuyết
lượng tử năng lượng của Planck để nêu lên một thuyết mới về bản chất ánh sáng
(Einstein vẫn thừa nhận thuyết điện từ ánh sáng) đó là thuyết lượng tử ánh sáng.
Nội dung thuyết như sau:
- Ánh sáng gồm những hạt rất nhỏ gọi là photon hay lượng tử ánh sáng. Mỗi
photon mang một năng lượng xác định là:
ε =h.f (7.32)
Trong đó h = 6,625.10-34 Js, gọi là hằng số Planck còn f là tần số của sóng
ánh sáng ứng với photon đó.
− Trong chân không photon truyền đi với một tốc độ xác định là c = 3.108
m/s. Mỗi photon truyền đi trong môi trường thì có lưỡng tính sóng hạt vì theo
Einstein mỗi photon có tốc độ c, năng lượng ε = hf, khối lượng m (khối lượng
động, photon không có khối lượng tĩnh) được xác định theo công thức ε = mc2 . Kết
hợp với (7.32) ta suy ra:
hf h h
p = mc = = = (10.33)
c cT λ
Với p = mc là động lượng của photon đặc trưng cho tính chất hạt, λ là bước
sóng đặc trưng cho tính chất sóng (sóng điện từ).

102
- Cường độ của một chùm tia sáng sẽ tỉ lệ với số photon phát ra từ nguồn
trong một đơn vị thời gian.

10.5.2.2. Giải thích các định luật quang điện


- Giải thích định luật về giới hạn quang điện
Ở trạng thái bình thường (khi chưa bị chiếu sáng) các điện tử bị giữ trong
kim loại. Khi bị rọi sáng, mỗi điện tử sẽ hấp thụ năng lượng ε =h.f của một photon
tới. Nếu phần năng lượng mà điện tử hấp thụ được lớn hơn công thoát điện tử A thì
điện tử bị bứt ra khỏi mặt ngoài kim loại. Như vậy điều kiện để có hiệu ứng quang
điện là:
ε = h.f ≥ A (10.34)
A
f≥ ≥ f0
h
c c c c hc
Vì f = ; f0 = nên ≥ hay λ < λ0 = (10.35)
λ λ0 λ λ0 A

Từ (10.35) ta thấy chùm sáng gây ra hiệu ứng quang điện phải có bước sóng
hc
λ nhỏ hơn một giá trị xác định, λ 0 = là giới hạn quang điện, chỉ phụ thuộc vào
A
công thoát điện tử A của kim loại, tức là phụ thuộc vào bản chất kim loại.
- Giải thích định luật về dòng quang điện bão hoà
Ta biết dòng quang điện trở nên bão hoà khi tất cả các quang điện tử được
giải phóng ra khỏi mặt ngoài kim loại (âm cực K) đều chuyển động hết về dương
cực A. Do số quang điện tử tỉ lệ với số photon bị hấp thụ, số photon này lại tỉ lệ với
số photon tới, vì vậy cường độ dòng quang điện bão hoà sẽ tỉ lệ với số photon tới
tức là tỉ lệ với cường độ của chùm sáng rọi tới âm cực K.
- Giải thích định luật về động năng cực đại của quang điện tử
Các điện tử của kim loại dùng làm âm cực K có thể ở sát ngay mặt ngoài hay
ở sâu bên trong kim loại. Các điện tử này đều có khả năng hấp thụ toàn bộ năng
lượng của một photon khi kim loại bị rọi sáng. Một phần năng lượng mà điện tử hấp
thụ chủ yếu sinh công thoát điện tử (vì năng lượng xác định bởi chuyển động nhiệt

103
không đủ sinh công) một phần tạo nên động năng ban đầu của các quang điện tử.
Đối với điện tử ở sâu bên trong do phải tiêu hao một phần năng lượng mà nó hấp
thụ để chuyển động từ trong ra lớp bề mặt kim loại do vậy mà động năng ban đầu
phải nhỏ hơn so với động năng ban đầu của điện tử ở ngay bề mặt kim loại. Vì vậy
với các điện tử ở sát bề mặt kim loại khi bứt ra khỏi kim loại sẽ trở thành các quang
điện tử có động năng ban đầu là cực đại. Ta có:
1 2
Eđ max = mv max = h. f − A (10.36)
2
Phương trình (10.36) được gọi là phương trình Einstein, nó cho biết Eđ max
ban đầu của quang điện tử chỉ phụ thuộc vào tần số của chùm ánh sáng rọi tới bề
mặt kim loại.

104
PHẦN
LÝ SINH Y HỌC

105
Chương 11

CÁC NGUYÊN LÝ NHIỆT ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC

11.1. NGUYÊN LÝ THỨ NHẤT NHIỆT ĐỘNG HỌC VÀ ỨNG DỤNG


TRONG Y HỌC
11.1.1. Hệ nhiệt động (Hệ thống nhiệt động)
Mọi tập hợp các vật được xác định hoàn toàn bởi một số các thông số vĩ mô
độc lập với nhau, được gọi là hệ vĩ mô hay hệ nhiệt động (gọi tắt là hệ). Tất cả các
vật ở bên ngoài hệ được gọi là môi trường.
Mọi hệ có thể được chia làm hai loại: Hệ cô lập và hệ không cô lập. Hệ cô
lập là hệ không trao đổi vật chất với môi trường bên ngoài. Hệ không cô lập gồm hệ
kín và hệ mở.
- Hệ kín là hệ không trao đổi vật chất, nhưng có trao đổi với môi trường
bên ngoài.
- Hệ mở là hệ trao đổi cả vật chất và năng lượng với môi trường bên ngoài.
Hệ sinh vật là một hệ mở vì nó luôn luôn trao đổi vật chất và năng lượng với
môi trường xung quanh. Tuy nhiên, hệ sinh vật khác với hệ mở khác ở ba điểm.
- Cơ thể sinh vật là dạng tồn tại đặc biệt của protit và các chất khác tạo thành
cơ thể.
- Cơ thể có khả năng tự tái tạo
- Cơ thể có khả năng tự phát triển
11.1.2. Nguyên lý thứ nhất nhiệt động học
Theo định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng ta có: “Năng lượng không
tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ biến đổi từ dạng này sang
dạng khác”.
Năng lượng của hệ bao gồm động năng, thế năng và nội năng của hệ.
W = W d + Wt + U (11.1)
Trong đó:
Động năng (Wd) là phần năng lượng ứng với chuyển động có hướng của cả hệ.
Thế năng (Wt) ứng với phần năng lượng tương tác của hệ trong trường lực.

106
Nội năng (U) là năng lượng bên trong của hệ bao gồm động năng và thế năng
của các phân tử, nguyên tử, điện tử trong nguyên tử và cả phần năng lượng trong
hạt nhân của nguyên tử. Nội năng là một hàm trạng thái tại các trạng thái khác nhau
thì có những giá trị khác nhau.
* Phát biểu nguyên lý 1
Độ biến thiên năng lượng toàn phần ΔW của hệ trong một quá trình biến đổi
có giá trị bằng tổng công A và nhiệt lượng Q mà hệ nhận được trong quá trình biến
đổi đó.
Biểu thức: ΔW = A + Q (11.2)
Theo định luật bảo toàn cơ năng của hệ Wd + Wt = const nên ΔW = ΔU do đó ΔU
= A + Q.
Phát biểu nguyên lý một cách khác ta có độ biến thiên nội năng của hệ có giá
trị bằng công và nhiệt mà hệ nhận được trong quá trình biến đổi đó.
Hệ quả: Nếu ký hiệu A, Q là công và nhiệt mà hệ nhận được, thì ký hiệu A’,
Q’ là công và nhiệt mà hệ sinh ra. A’ = -A; Q’ = -Q dẫn đến ΔU = A + Q suy ra Q =
ΔU + A’.
Vậy nhiệt truyền cho hệ trong một quá trình có giá trị bằng độ biến thiên nội năng
của hệ và công do hệ sinh ra trong quá trình đó.
Trong hệ cô lập: A = Q = 0 → ΔU = 0 → U = const. Ta nói nội năng của hệ cô
lập được bảo toàn.
Nếu Q = 0 → A = - ΔU. Nghĩa là nếu không cung cấp nhiệt cho hệ, mà hệ
muốn sinh công thì nội năng của hệ phải giảm.
11.1.3. Áp dụng nguyên lý thứ nhất cho hệ thống sống
Hoạt động sinh công của cơ thể khác với các máy nhiệt thông thường, nó được
sinh ra do sự thay đổi của hệ thống sống nhờ các quá trình sinh hóa trong cơ thể.
Tính chất sinh nhiệt là tính chất tổng quát của hệ thống sống, nó đặc trưng cho
các tế bào đang có chuyển hóa cơ bản. Những chức năng sinh lý bất kỳ cũng kéo
theo sự sinh nhiệt. Nguồn gốc nhiệt lượng cung cấp cho người là thức ăn. Thức ăn
do cơ thể sử dụng thông qua quá trình đồng hóa để cải tạo các tổ chức tạo thành
chất dự trữ vật chất, năng lượng trong cơ thể, phát sinh nhiệt để duy trì nhiệt độ của

107
cơ thể chống lại sự mất nhiệt và môi trường xung quanh và dùng để sinh công trong
các hoạt động sống.
Nguyên lý 1 áp dụng trong hệ thống sống có thể viết dưới dạng sau:
ΔQ = ΔE + ΔA + ΔM (11.3)
Trong đó: ΔQ là nhiệt lương sinh ra trong quá trình đồng hóa thức ăn
ΔE là năng lượng mất do môi trường xung quanh
ΔA là công mà cơ thể thực hiện
ΔM là năng lượng dự trữ
Đây là phương trình cơ bản của quá trình cân bằng nhiệt đối với cơ thể người.
Người ta thấy rằng năng lượng do thức ăn cung cấp bằng năng lượng tỏa ra.
Nhiệt lượng được sinh ra ở cơ thể được chia làm hai loại: năng lượng sơ cấp
và nhiệt lượng thứ cấp.
Nhiệt lượng sơ cấp xuất hiện do kết quả phân tán năng lượng nhiệt trong quá
trình trao đổi vật chất bởi những phản ứng hóa sinh (xảy ra không thuận nghịch).
Nhiệt lượng này tỏa ra sau khi cơ thể hấp thu thức ăn vào oxy.
Nhiệt lượng thứ cấp xuất hiện trong quá trình oxy hóa thức ăn được dự trữ
trong các liên kết giàu năng lượng (ATP). Khi các liên kết này đứt, chúng giải
phóng năng lượng để thực hiện một công nào đó và cuối cùng biến thành nhiệt.
Nhiệt lượng tỏa ra khi đứt các liên kết giàu năng lượng dự trữ trong cơ thể để điều
hòa các hoạt động chủ động của cơ thể được quy ước là nhiệt thứ cấp.
Đối với cơ thể sống bình thường: lượng năng lượng dự trữ vào cơ thể khoảng
50%. Khi bệnh lý thì lượng năng lượng này giảm xuống. Phần năng lượng do cơ thể
tỏa ra ở dạng nhiệt lượng sơ cấp sẽ chiếm phần lớn. Tỷ lệ trên phụ thuộc vào tỷ lệ
cường độ tỏa nhiệt và cường độ sinh nhiệt. Đối với động vật máu nóng khi nhiệt độ
môi trường thấp hơn thân nhiệt, thì nhiệt tỏa ra môi trường, để cân bằng nhiệt của
cơ thể thì phải sinh nhiệt. Nhiệt lượng này là nhiệt lượng loại hai sản ra do co cơ
hoặc do tiêu dần năng lượng dự trữ của cơ thể (tiêu mỡ như động vật ngủ đông).
11.2. NGUYÊN LÝ THỨ HAI NHIỆT ĐỘNG HỌC VÀ ỨNG DỤNG
TRONG Y HỌC
11.2.1. Nguyên lý thứ hai nhiệt động học và sự dịch chuyển Entropi trong hệ
thống sống

108
Nhược điểm của nguyên lý 1 là không cho biết chiều diễn biến của quá trình
biến đổi từ nhiệt và công, chỉ cho biết sự liên quan về lượng giữa chúng khi chúng
tham gia vào quá trình cho trước.
Nguyên lý 2 độc lập và khắc phục hạn chế của nguyên lý 1, nó xác định
chiều diễn biến của quá trình vĩ mô và cho phép đánh giá khả năng sinh công của
các hệ nhiệt động khác nhau.
11.2.1.1. Khái niệm về Entropi
Xét hệ là một bình kín chia làm hai phần bằng nhau A và B bằng một vách
ngăn, có 6 phần tử giống nhau. Ban đầu là 6 phần tử ở A thì chỉ có duy nhất một
cách sắp xếp.

2 3
4

5 6

- Nếu 5 phân tử ở A, 1 phân tử ở B thì có 6 cách phân phối.


Số phân tử ở phần Số cách phân phối (W)
Xác suất toán học p
A B (Xác suất nhiệt động)
6 0 1 1/64
5 1 6 6/64
4 2 15 15/64
3 3 20 20/64
2 4 15 15/64
1 5 6 6/64
0 6 1 1/64

- Xác suất nhiệt động cho ta số cách có thể thực hiện phân phối các phân tử,
đại lượng này luôn ≥ 1.
- Xác suất toán học p, cho biết khả năng xảy ra một phân phối nào đó.

109
Ta thấy hệ luôn luôn có xu hướng chuyển từ trạng thái có ít cách phân phối
sang trạng thái có nhiều cách phân phối (W lớn). Người ta dùng W hay lnW làm đại
lượng để xác định chiều diễn biến của quá trình tự nhiên.
Định nghĩa 1: Entropi S được định nghĩa như sau:
Đại lượng S = klnW là entropi của hệ trong đó k là hằng số Bonzman.
Qua ví dụ minh họa trên ta thấy chiều hướng diễn biến của quá trình theo
chiều tăng entropi.
Định nghĩa 2: Gọi T nhiệt độ của hệ, δQ là nhiệt lượng mà hệ trao đổi, S là
entropi của hệ. Hệ trạng thái của entropi (S) của hệ sao cho biến thiên của entropi từ
2
δQ
trạng thái (1) đến (2) có giá trị bằng tích phân ∫T
1

2
δQ δQ
→ ΔS = S 2 − S1 = ∫ hay dS =
1
T T (11.4)
Nhận xét:
- S là hàm trạng thái nghĩa là một hàm chỉ phụ thuộc vào trạng thái đầu và
trạng thái cuối mà không phụ thuộc vào quá trình thay đổi trạng thái.
- S là đại lượng có tính cộng được nghĩa là S = S1 + S2 +....bằng tổng các
phần riêng biệt.
δQ
- S = S0 + ∫
T
S được xác định sai kém nhau 1 hằng số
So là giá trị của S tại gốc tính toán, quy ước So = 0 khi T = 0K
Đơn vị của S là J/K
Ý nghĩa của entropi (S) cho ta biết khái niệm về mức độ hỗn loạn của 1 hệ
nào đó. Khi hệ nhận nhiệt chuyển động của các phân tử, nguyên tử tăng tương ứng
với S tăng và ngược lại khi hệ tỏa nhiệt S giảm.
11.2.1.2. Năng lượng tự do
δQ
Từ biểu thức: dS = suy ra: δQ = TdS
T
Công mà hệ thực hiện có thể viết: δA = δQ - dU = TdS - dU
δA = - [dU - TdS] = - [dU - dTS] = -d[U - TS]
Đặt U - TS = F (F là năng lượng tự do của hệ) → δA = -dF

110
U = F + TS (11.5)
Năng lượng tự do không phải là một dạng đặc biệt của năng lượng, đây là
quy ước gọi tên phần nội năng của hệ được dùng để thực hiện công nào đó, nói khác
đi nó đặc trưng cho khả năng sinh công của hệ. TS được gọi là năng lượng liên kết,
không có khả năng sinh công.
11.2.1.3. Nguyên lý 2 nhiệt động học
Nguyên lý 2 có một số cách phát biểu như sau:
- Tính trật tự của hệ cô lập chỉ có thể giữ nguyên hoặc giảm dần
- Không thể tồn tại trong tự nhiên một chu trình mà kết quả duy nhất là biến
nhiệt thành công, không để lại dấu vết gì ở môi trường xung quanh.
- Không thể chế tạo được động cơ vĩnh cửu loại 2 tức là động cơ chuyển
động tuần hoàn, cho ta công bằng cách nhận nhiệt lượng và làm lạnh từ cùng một
nguồn (TomXơn).
- Trong hệ cô lập chỉ những quá trình nào kéo theo việc tăng entropi mới có
thể tự diễn biến, giới hạn của sự tự diễn biến của chúng là trạng thái có trị số cực
đại của entropi (Nguyên lý tăng S).
11.2.2. Áp dụng nguyên lý 2 cho hệ thống sống
11.2.2.1. Trạng thái dừng của hệ thống sống
- Ta có thể áp dụng nguyên lý 2 vào hệ thống sống vì hệ thống sống là hệ mở
đặc biệt, luôn xảy ra trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường bên ngoài.
- Trong hệ cô lập: trạng thái cân bằng được thiết lập sau khi phản ứng hay
quá trình biến đổi kết thúc, hệ không thay đổi theo thời gian.
- Đối với hệ thống sống ta dùng khái niệm trạng thái dừng là trạng thái các
tính chất của hệ không thay đổi, các thông số hóa lý, các đại lượng động học được
bảo toàn (ví dụ như độ pH, To...) được bảo toàn.
11.2.2.2. Sự biến đổi entropi trong hệ thống sống
Tại trạng thái dừng S của hệ có giá trị không đổi, khi chuyển từ trạng thái
dừng này đến trạng thái dừng khác, S thay đổi một lượng: ΔS = S2 - S1.
Đối với hệ mở trao đổi vật chất, năng lượng với môi trường ngoài. Chia S
thành hai phần:
dS = dSi + dSe (11.6)

111
dSi là phần thay đổi S do tương tác bên trong hệ (dSi luôn dương).
dSe là phần thay đổi S do tương tác bên ngoài (dSe có thể có giá trị dương,
âm hoặc bằng 0).
- Khi dSe = 0, dS = dSi phần thay đổi S trong toàn hệ thống được xác định
bằng sự tăng S bên trong hệ.
- Khi dSe > 0, dS > 0 thì S luôn luôn tăng.
- Khi dSe < 0 có 3 trường hợp:
+ | dSe | < | dSi | → dS = dSi + dSe > 0
+| dSe | > | dSi | → dS < 0 ⇒ S giảm, tính trật tự tăng.
+ |dSe| = |dSi| → ds = 0 đây là trường hợp ứng với trạng thái dừng là trạng
thái có S = const.
Từ công thức dS = dSi + dSe, chia cả 2 vế cho dt, ta có:
dS dSi dSe
= + (11.7)
dt dt dt
Phương trình trên được gọi là phương trình Prigôgin.
dS
Ở trạng thái dừng =0 (11.8)
dt
dSi dS
suy ra =− e ≠0
dt dt (11.9)
Biểu thức này cho thấy: ở trạng thái dừng, tốc độ tăng entropi trong cơ thể
bằng tốc độ trao đổi entropi với môi trường xung quanh và khác 0.
Tóm lại: Để duy trì sự sống cần phải trao đổi vật chất và năng lượng với môi
trường ngoài. Nói khác đi môi trường ngoài là điều kiện tồn tại của hệ thống sống.

112
Chương 12
VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT TRONG CƠ THỂ SINH VẬT

12.1. CÁC HIỆN TƯỢNG VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT CƠ BẢN TRONG CƠ THỂ
SINH VẬT
Để đảm bảo cho một cơ thể sống hoạt động và phát triển thì trong nó phải
không ngừng diễn ra các quá trình vận chuyển của vật chất. Các quá trình này dù
đựơc diễn ra ở dạng vi mô (như vận chuyển của vật chất qua màng tế bào) hay dạng
vĩ mô (như vận chuyển của máu trong hệ tuần hoàn, vận chuyển của khí trong hệ hô
hấp...) thì nhiệm vụ của chúng cũng là mang các chất cần thiết tới các cơ quan, các
bộ phận, các mô và tế bào cũng như đào thải các chất thải, chất có hại cho sự sống.
Quá trình vận chuyển vật chất là một quá trình phức tạp xảy ra theo nhiều cơ
chế và phụ thuộc nhiều yếu tố:
- Bản chất của phần tử vận chuyển: Kích thước, điện tích, độ hoà tan...
- Hoạt động của cơ thể.
Tuy nhiên tất cả các quá trình vận chuyển này đều xảy ra theo những cơ chế
vật lí và có thể giải thích được bằng những quy luật vật lí.
Phần dưới đây, chúng ta sẽ đề cập đến những hiện tượng vận chuyển vật chất
cơ bản trong các cơ thể sống, giải thích sự vận chuyển của vật chất qua màng tế bào,
sự vận chuyển của máu và khí trên cơ thể sống ...
12.1.1. Các phân tử, ion và dung dịch trong cơ thể sinh vật
12.1.1.1. Các phân tử và ion trong cơ thể
- Mọi cơ thể sinh vật đều chứa trong nó một số vô cùng lớn các phân tử và
ion, được phân bố và sắp xếp một cách có trật tự cao .
- Mỗi phân tử hoặc ion trong cơ thể có thể đứng yên (một cách tương đối)
hoặc chuyển động (thành dòng hay hỗn loạn).
- Các ion này có thể ở dạng đơn giản như ion K+, Na+, Cl-... những ion này
thường vận động một cách linh động và chúng tạo ra xung quanh chúng một điện
trường dày đặc.
- Các ion này cũng có thể ở dạng phức tạp , chúng là các phân tử bị ion hoá.
Loại ion này thường đứng yên tương đối trong các tế bào. Ví dụ các phân tử H2O,
H2, C6 H6 , Hemoglobin...

113
- Các phân tử và ion trong cơ thể đảm trách 4 vai trò chính là:
1. Chúng là những yếu tố cấu trúc của cơ thể
2. Dự trữ, vận chuyển và giải phóng năng lượng
3. Một số phân tử chứa đựng toàn bộ thông tin cần thiết cho sự thực hiện
chương trình tổ chức cơ thể sống (thông tin di truyền).
4. Tạo nên các điện thế nghỉ, điện thế hoạt động trong các tế bào, mô
12.1.1.2. Dung dịch trong cơ thể sinh vật
- Cơ thể sinh vật cũng chứa đựng nhiều loại dung dịch khác nhau . Ví dụ
nước, lipít, protein, các dung dịch mi xen (hidrô xít kim loại)... trong đó nước và
lipít là hai dung môi cơ bản và có vai trò quan trọng nhất.
- Vai trò của các dung dịch trong cơ thể sinh vật:
+ Vận chuyển vật chất từ nơi này đến nơi khác của cơ thể.
+ Là môi trường để thực hiện các phản ứng hoá sinh.
+ Bao bọc và bảo vệ các tế bào, các tổ chức sống.
+ Là yếu tố không thể thiếu trong quá trình trao đổi vật chất qua màng, là
yếu tố dẫn điện trong các quá trình lan truyền xung điện sinh vật.
+ Điều hoà thân nhiệt.
12.1.2. Các hiện tượng vận chuyển cơ bản của vật chất trong cơ thể sinh vật
12.1.2.1. Hiện tượng khuếch tán
* Định nghĩa: Ta đã biết, các phân tử luôn luôn chuyển động hỗn loạn nên
khi để hai tập hợp phân tử đủ gần nhau thì dù chúng ở thể rắn, lỏng hay khí chúng
cũng chuyển động ngẫu nhiên, xuyên lẫn vào nhau thì đó là hiện tượng khuếch tán
phân tử.
Trong một dung dịch có nồng độ chất hoà tan chưa bằng nhau, ở mọi điểm
thì thì sự khuếch tán sẽ dẫn đến hiện tượng san bằng nồng độ trên toàn thể tích.
* Bản chất: Bản chất của hiện tượng khuếch tán là sự chuyển động nhiệt hỗn
loạn của các chất hoà tan theo mọi phương, dẫn đến trạng thái có nồng độ cân bằng
trên toàn thể tích, đó là trạng thái có xác suất nhiệt động lớn nhất.
- Có thể minh hoạ bằng thí nghiệm đơn giản sau: đổ một giọt mực vào một
cốc nước, sau một thời gian mặc dù ta không hề tác động, song các phân tử mực vẫn
sẽ loang rộng dần ra và đến một lúc nào đó toàn bộ cốc nước đều có một màu xanh
của mực.

114
* Cơ chế: Hiện tượng khuyếch tán chính là sự chuyển động có hướng của
các phân tử chất hoà tan trong dung dịch khi mà nồng độ của chúng còn có sự
chênh lệch. Cụ thể là các phân tử chất hoà tan sẽ chuyển động thành dòng từ phía
dung dịch có nồng độ cao sang phía dung dịch có nồng độ thấp tức là cùng chiều
với gradien nồng độ.
* Động lực: Trong hiện tượng khuyếch tán rõ ràng không cần có tác dụng
của ngoại lực, cơ thể cũng không cần tiêu tốn năng lượng mà chính sự không đồng
nhất về nồng độ hay nói cách khác chính sự tồn tại của Gradiên nồng độ là nguồn
động lực cho sự vận chuyển có hướng của các chất hoà tan.
Hiện tượng khuyếch tán diễn ra theo chiều sao cho Gradiên nồng độ giảm
dần và sẽ kết thúc khi Gradiên nồng độ bằng không, khi đó sự chênh lệch về nồng
độ bị triệt tiêu.
* Vai trò của khuyếch tán trong các quá trình sống:
- Trong cơ thể sinh vật, khuếch tán là một trong những hiện tượng vận
chuyển vật chất quan trọng nhất. Chẳng hạn trao đổi khí xảy ra ở phổi, ở các tế bào,
các tổ chức sống xảy ra theo cơ chế khuếch tán; các ion, Na+, Ca++, K+, Cl- khuếch
tán qua lại hai phía của màng chính là nguyên nhân tạo nên các hoạt động điện của
các tổ chức, các tế bào sống ...
12.1.2.2. Hiện tượng thẩm thấu
* Màng bán thấm: Trong tự nhiên có một số loại màng mà chúng chỉ cho
một số loại phân tử đi qua và ngăn lại một số loại phân tử khác được gọi là màng
bán thẩm thấu.
- Trong cơ thể sinh vật có rất nhiều màng bán thẩm thấu: màng tế bào, mao
mạch, thành ruột ...
- Ngày nay người ta cũng chế tạo được một số màng bán thẩm thấu nhân tạo
(màng xelêfan, feroxyanua đồng ...).
*Định nghĩa: Thẩm thấu là quá trình vận chuyển chất dung môi qua một
màng ngăn hai dung dịch có thành phần khác nhau. Quá trình vận chuyển đó không
có sự tham gia của các lực bên ngoài (như trọng lực, lực điện từ, lực đẩy _ ép của
thành mạch).

115
Ví dụ như sự vận chuyển của dung dịch các chất dinh dưỡng, nước từ gốc, rễ
lên thân, lá, ngọn... trong cây xanh.
* Bản chất: Đối với hiện tượng thẩm thấu, dòng vật chất chuyển động không
phải là các chất hoà tan mà cũng không phải là bản thân dung dịch mà là dòng dung
môi được vận chuyển từ phía dung dịch có nồng độ thấp hơn sang phía dung dịch có
nồng độ cao hơn qua màng ngăn cách (màng bán thấm).
* Cơ chế: Như vậy về cơ chế ở hiện tượng thẩm thấu, dòng vật chất chuyển
động từ phía dung dịch có nồng độ thấp hơn sang phía dung dịch có nồng độ cao
hơn qua màng ngăn cách , nghĩa là ngược chiều Gradien nồng độ.
* Động lực của hiện tượng thẩm thấu - áp suất thẩm thấu:
Như ta thấy ở hiện tượng thẩm thấu dòng vật chất (dung môi) chuyển động
ngược chiều Gradiên nồng độ, nhưng bản thân cơ thể lại không cần chi phí năng
lượng cho quá trình vận chuyển này.
Vậy động lực nào là nguyên nhân gây nên dòng vật chất chuyển động, đó
chính là một đại lượng có tên gọi: áp suất thẩm thấu nói cách khác sự chênh lệch
áp suất thẩm thấu giữa hai phía của màng bán thấm là nguyên nhân, động lực gây ra
hiện tượng vận chuyển vật chất này.
Để hiểu rõ khái niệm áp suất thẩm thấu và vai trò của nó đối với quá trình
vận chuyển vật chất, ta xét thí nghiệm đơn giản sau:
- Lấy một phễu thuỷ tinh đã bịt miệng bằng một màng bán thấm (màng có
tính chất chỉ cho các phân tử nước đi qua, không cho các phân tử đường qua).
- Nhúng ngược phễu vào chậu đựng nước cất sao cho mặt nước cất trong
chậu ngang bằng mặt dung dịch nước đường trong phễu.
- Sau một thời gian ta thấy: mặt dung dịch nước đường trong phễu sẽ cao hơn
mặt nước trong chậu một khoảng bằng h.
- Phân tích nước trong chậu, người ta không thấy có
phân tử đường, nghĩa là: phân tử nước đã thấm qua màng

Hình 12.1

116
vào phễu, trong khi phân tử đường không thấm qua màng để từ trong phễu ra chậu.

117
* Giải thích thí nghiệm:
Ở trong chậu toàn phân tử nước, nên số phân tử nước trong chậu do chuyển
động hỗn loạn đập vào mặt ngoài của màng bán thấm nhiều hơn so với số các phân
tử nước trong dung dịch nước đường đập vào mặt trong của màng cho nên số phân
tử nước thâm nhập từ chậu vào phễu lớn hơn từ phễu vào chậu, ta thấy mức dung
dịch trong phễu tăng lên - nhưng khi đó áp suất thuỷ tĩnh trong phễu cũng tăng do
đó số phân tử nước trong phễu bị ép quay trở lại chậu tăng, đến một độ cao nào đó
của cột nước thì số phân tử nước vào và ra bằng nhau, trạng thái cân bằng được
thiết lập được gọi là trạng thái cân bằng thẩm thấu.
Nhận xét 1:
Ta thấy: Hình như nước bị ép từ chậu vào phễu bởi một áp lực, áp lực đó
được gọi là áp suất thẩm thấu của dung dịch đường trong phễu.
- Nói cách khác: áp suất thẩm thấu của dung dịch nước đường chính là động
lực của sự vận chuyển của các phân tử nước từ chậu vào phễu.
- Độ lớn của áp suất thẩm thấu chính bằng áp suất thủy tĩnh gây bởi cột nước
đường có chiều cao h so với mặt nước trong chậu.
Lặp lại thí nghiệm nhưng với điều kiện thay nước cất trong chậu bằng dung
dịch nước đường kết quả cho thấy:
- Khi nồng độ nước đường trong chậu nhỏ hơn trong phễu: mực dung dịch
trong phễu vẫn dâng lên nhưng đến độ cao h” nhỏ hơn h thì dừng lại.
- Khi nồng độ nước đường trong chậu lớn hơn trong phễu: mực nước đường
trong phễu tụt xuống thấp hơn mực dung dịch trong chậu, phân tử nước trong phễu
bị "hút" bớt ra chậu qua màng.
Nhận xét 2: Qua thí nghiệm ta thấy: Mỗi dung dịch đều có một áp suất thẩm
thấu nhất định, nước sẽ bị hút về phía dung dịch có nồng độ lớn hơn.
Người ta cũng đã đưa ra công thức xác định áp suất thẩm thấu của một dung
dịch như sau:
m
P= RT (12.1)
μVm
Trong đó: m là khối lượng chất hoà tan.
μ là trọng lượng phân tử chất hoà tan.
Vm là thể tích dung dịch.
T là nhiệt độ dung dịch.
R là hằng số Clapayrông Mendeleep.

118
Từ công thức trên ta thấy:
m
= C là nồng độ của dung dịch
μVm
Khi đó: P = C.RT (phương trình Vanhop). (12.2)
Ta thấy: Áp suất tỉ lệ thuận với nồng độ chất hoà tan.
* Vai trò của áp suất thẩm thấu đối với cơ thể sinh vật và ứng dụng của hiện
tượng thẩm thấu trong y học.
Căn cứ vào áp suất thẩm thấu giữa hai dung dịch, người ta đưa ra các khái
niệm: đẳng trương, nhược trương, ưu trương như sau:
Xét hai dung dịch A và B có tương ứng Pa và Pb
- Nếu Pa = Pb thì A là đẳng trương đối với B.
- Nếu Pa > Pb thì A ưu trương so với B.
- Nếu Pa < Pb thì A nhược trương so với B.
Trong y học, người ta đo được huyết thanh có P = 7,7at ở 370C và lấy làm
chuẩn để so sánh các dung dịch khác. Chẳng hạn dung dịch NaCl O,9 0/0 cũng có P
= 7,7at được gọi là dung dịch đẳng trương (so với máu) và gọi là nước muối sinh lý
hay muối ranhje còn dung dịch muối + glucoza có áp suất lớn hơn áp suất của máu
được gọi là dung dịch ưu trương...
- Ở trong cơ thể, nếu áp suất của một tổ chức hay cơ quan nào đó giảm (do ứ
đọng nước, mất muối...) thì cơ thể sẽ bị co giật, nôn mửa.
Ví dụ: Khi người bị thương mất máu nhiều thì không được cho bệnh nhân
uống nhiều nước làm áp suất của máu giảm dễ gây sốc.
- Nếu áp suất của máu có chiều hướng tăng (do rối loạn hấp thu, do lượng
muối tích luỹ tăng...) thì các tổ chức, tế bào sẽ có sự phân bố lại nước gây phù nề
(khi đó sự mất nước ở các niêm mạc gây cảm giác khát nước) làm mất thăng bằng
các hoạt động của hệ thần kinh và của các tổ chức khác cho nên người bị phù
thường phải ăn nhạt.
- Khi pha thuốc tiêm, dịch truyền người ta thường dùng dung dịch đẳng trương.
- Ở các ổ nhọt, mưng mủ, các phân tử protein bị đứt gẫy làm tăng nồng độ vật
chất dẫn đến áp suất tăng, nước từ xung quanh bị hút về đây gây cảm giác căng tức.

119
- Các loại động thực vật khác nhau cũng có áp suất thẩm thấu khác nhau: cá
nước mặn có áp suất thẩm thấu rất lớn, còn ở ếch lại nhỏ hơn người. Các loại thực
vật hút nước từ đất lên là nhờ có áp suất thẩm thấu lớn, đặc biệt là các loại cây ở sa
mạc (áp suất thẩm thấu của cơ thể lớn khoảng 170at).
12.1.2.3. Hiện tượng lọc - siêu lọc
Ta thường gặp hiện tượng lọc trong thực tế và trong đời sống hàng ngày. Thí
dụ: Lọc bột để loại bỏ các hạt to, lọc nước để loại bỏ các cặn đất...
* Định nghĩa: Lọc là hiện tượng dung dịch chuyển thành dòng qua các lỗ của
màng ngăn cách dưới tác dụng của lực đặt lên dung dịch như trọng lực, lực thủy
tĩnh, lực ép của thành mạch ... còn Siêu lọc là hiện tượng lọc qua màng ngăn với các
điều kiện sau:
- Màng lọc ngăn lại các đại phân tử (protein, polime cao phân tử...) và cho
các phân tử , các ion nhỏ đi qua tuân theo nguyên lý cân bằng Gift-Donnald.
- Có thêm tác dụng của áp suất thủy tĩnh. Tác dụng của áp suất thủy tĩnh làm
thay đổi lưu lượng của dòng dung dịch qua màng, cũng có thể làm đổi chiều của dòng.
* Bản chất: Trong hiện tượng lọc-siêu lọc dòng vật chất là dòng dung dịch
tức bao gồm cả dung môi và các chất hoà tan.
* Cơ chế: Dòng vật chất có thể vận chuyển ngược hoặc cùng chiều các
gradien. Chiều vận chuyển của dòng vật chất trong trường hợp này là chiều của
tổng hợp các lực tác dụng lên dung dịch.
* Động lực: Trong hiện tượng vận chuyển này cơ thể phải tiêu tốn năng
lượng (ví dụ năng lượng duy trì lực đẩy của tim, sự co giãn của thành mạch ...).
Năng lượng này sẽ do các phân tử dự trữ năng lượng ATP cung cấp.
* Vai trò: Sự vận chuyển của nước qua thành mao mạch xảy ra theo cơ
chế lọc: trong đó huyết áp có khuynh hướng dồn nước trong máu ra khoảng gian
bào, ngược lại áp suất thẩm thấu keo lại dồn nước từ gian bào qua thành mao
mạch vào máu.
Trong các động mạch huyết áp lớn hơn áp suất thẩm thấu thì nước từ máu
thoát ra mao mạch, còn trong các tĩnh mạch áp suất thẩm thấu lớn hơn huyết áp thì
nước từ gian bào qua thành mạch vào máu.

120
Sự trao đổi chất đó thường xảy ra ở thành mao mạch như một hiện tượng
siêu lọc mà động lực là sự chênh lệch áp suất giữa hai phía của thành mạch.
Ở cầu thận cũng xảy ra hiện tượng siêu lọc: Cầu thận nằm ở vùng vỏ thận,
nó có hai thành phần hợp thành là bọc Bowman và búi mao mạch cầu thận. Vật chất
trong huyết tương chảy qua búi mao mạch cầu thận sẽ lọt qua thành mao mạch để
vào trong lòng bọc Bownman. Bởi vậy thành mao mạch và thành bọc Bowman gắn
với nhau tạo tành màng lọc cầu thận. Màng lọc cầu thận cũng giống như các màng
mao mạch khác trong cơ thể, nhưng vì chức năng lọc lớn hơn nên có độ xốp lớn
hơn khoảng 25 lần.
Bình thường trong dịch lọc không có hồng cầu và lượng protein rất thấp vì
chúng không lọt qua được màng, còn nước và các phân tử, các ion nhỏ xuyên qua
đựơc màng lọc cầu thận ra đài bể thận.
Khi cầu thận bị bệnh lí, tức là khi màng lọc giảm hoặc mất chức năng lọc
hiện tượng siêu lọc bị phá vỡ và vì vậy trong dịch lọc ta thấy có các hồng cầu và
các phân tử protein (hiện tượng đái ra máu trong bệnh viêm thận).
Trong y học, hiện tượng lọc - siêu lọc được sử dụng phổ biến trong kỹ thuật
thẩm phân máu: Đó là phương pháp loại bỏ ra khỏi máu các chất có hại bệnh lý sinh
ra (do thiểu năng thận) hoặc do các chất từ ngoài thâm nhập vào (thí dụ: do nhiễm
chất độc).
12.2. SỰ VẬN CHUYỂN CỦA VẬT CHẤT QUA MÀNG TẾ BÀO
Mọi cơ thể sống đều gồm những đơn vị cơ bản là tế bào bởi vì nó tự chuyển
hóa, tự điều hoà, tự thích nghi, tự sinh sản, v.v... từ đó xây dựng lên các mô, các cơ
quan và cơ thể sống. Tế bào luôn luôn phải trao đổi chất với môi trường. Bất kỳ tế
bào nào cũng đều có khả năng hoạt động chỉ trong điều kiện mà sự thay đổi của các
chất cấu thành nội bào cũng như thành phần dịch bao quanh màng tế bào (dịch ngoài
bào) chưa vượt ra khỏi giới hạn xác định. Tế bào bị tách rời khỏi cơ thể còn có thể
sống trong một thời gian dài nếu như ta nuôi chúng trong dịch có tất cả các chất cần
thiết và giữ cho dịch có đủ điều kiện vật lý giống với dịch cơ thể mà trong đó tế bào
tồn tại. ở các cơ thể sống có hàng loạt các cơ chế khác nhau để duy trì tính ổn định
của môi trường bên trong và bên ngoài màng tế bào. ở đây cần lưu ý rằng tính ổn
định đó không phải là kết quả một trạng thái tĩnh mà là kết quả của trạng thái cân

121
bằng động. Cơ sở của trạng thái cân bằng động đó có liên quan mật thiết đến chức
năng của màng sinh học và liên quan đến các cơ chế vận chuyển vật chất qua màng tế
bào như khuếch tán thụ động, vận chuyển tích cực, thực bào và ẩm bào.
12.2.1. Màng tế bào
Tế bào về phương diện vật lý là một hệ nhiệt động mở, luôn luôn trao đổi
chất và năng lượng với môi trường xung quanh.
Ngày nay, bằng những phương pháp nghiên cứu hiện đại người ta đã khẳng
định rằng tế bào có cấu trúc rất phức tạp và cấu trúc của mỗi loại tế bào đều phù
hợp với chức năng và nhiệm vụ của nó. Nhưng tất cả các tế bào gồm ba phần chính:
Màng tế bào, nguyên sinh chất (bào tương) và nhân tế bào.
Mọi tế bào đều được bao bọc bởi màng tế bào. Màng tế bào đóng vai trò:
- Bao bọc tế bào, phân định ranh giới giữa tế bào và môi trường xung quanh,
làm cho tế bào thành một thể toàn vẹn khác môi trường. Bảo vệ các thành phần của
tế bào trước tác động của môi trường.
- Tiếp nhận, truyền đạt, xử lý thông tin từ môi trường tới như nhận diện tế
bào quen, lạ, kẻ thù; kích thích hoặc ức chế tiếp xúc giữa các tế bào, tế bào với cơ
chất; phản ứng với các thông tin tới như phấn điện, chuyển động...
- Thực hiện trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường góp phần thực
hiện các chức năng sống của tế bào trên cơ sở điều hoà các phản ứng men trong tế
bào, sử dụng hữu hiệu các dạng năng lượng (cơ, thẩm thấu, điện hoá,...) ở tế bào.
- Màng tế bào cũng có cấu trúc phù hợp để thực hiện các vai trò trên. Hiện
nay có nhiều giả thuyết về cấu trúc màng tế bào, nhưng hầu hết đều cho rằng màng
tế bào có chiều dày khoảng 50÷120μm. Trên màng có những lỗ thủng đường kính
khoảng 7÷8μm và mỗi cm2 có khoảng 1010 lỗ như thế, diện tích chung của lỗ chỉ
chiếm một phần nhỏ cỡ 0,06% bề mặt tế bào. Màng tế bào ở các mô khác nhau có
thuộc tính lý hoá khác nhau nhưng đều có tính chất chung:
- Lưỡng chiết quang.
- Sức căng mặt ngoài nhỏ.
- Điện trở lớn.
- Cấu trúc không đồng nhất.

122
Thành phần thường là: ở giữa màng là hai lớp phân tử phospholipid sắp đặt
phân cực định hướng vuông góc với bề mặt tế bào, có xu hướng ngăn cản các ion và
các chất hoà tan trong nước đi qua. Bao bọc hai phía tiếp theo là lớp protein dạng
sợi làm màng tế bào có tính đàn hồi và sức căng mặt ngoài nhỏ. Phía ngoài cùng và
trong cùng là lớp protein dạng cầu có lẫn protein nhầy và glycolipid. ở glycolipid có
chứa các acid amin trung tính và các nhóm COOH của chúng tạo nên lớp điện tích
âm ở mặt ngoài màng tế bào.
12.2.2. Vận chuyển của vật chất qua màng
Để nghiên cứu sự vận chuyển vật chất qua màng tế bào có thể dùng các
phương pháp sau:
- Phương pháp thẩm thấu dựa vào những khảo sát động học sự thay đổi thể
tích tế bào khi ta đặt chúng trong các dung dịch ưu trương nồng độ khác nhau sau
đó ly tâm để tách tế bào, đo thể tích tế bào, đo mật độ quang học của dung dịch, đo
chiết suất dung dịch...
- Phương pháp sử dụng các chất màu, cơ sở của phương pháp này là khảo sát
tốc độ thâm nhập của các chất màu. Với phương pháp này, nếu nồng độ thấp thì khó
xác định kết quả. Nếu nồng độ cao thì độc cho tế bào.
- Phương pháp phân tích vi lượng hoá học dựa trên sự nghiên cứu các chất có
trong tế bào bằng phương pháp phân tích kinh điển.
- Phương pháp đồng vị phóng xạ cho phép nghiên cứu sự vận chuyển vật
chất qua màng tế bào bằng cách thay thế đồng vị thường bằng đồng vị phóng xạ.
Phương pháp này cho ta kết quả chính xác cao nhất về định lượng, đồng thời không
gây những biến đổi bất thường cho các đối tượng cần duy trì ở trạng thái sống.
Những khả năng khác của phương pháp này rất lớn; phân tách được các dòng vật
chất vào tế bào, các dòng vật chất trong nội bộ cơ thể và dòng do tương tác với môi
trường ngoài, tách những chất độc và lạ, xác định trạng thái, cấu trúc...
Dựa vào các thành phần vật chất đi qua màng sinh vật người ta chia các loại
màng trên cơ thể sinh vật ra làm 4 loại sau:
1- Màng gần lý tưởng về bán thấm, chỉ cho các phân tử nước đi qua.
2- Màng cho phân tử nước và một số phân tử có tạo tinh thể đi qua.
3- Màng cho tất cả các chất hoà tan, trừ chất keo đi qua.
4- Màng sinh vật ở trạng thái “rây” cho tất cả các chất hoà tan kể cả keo đi qua.

123
Đa số các loại màng trong cơ thể sinh vật thuộc loại 2 và 3. Màng tế bào
thuộc loại 2, thành mao mạch thuộc loại 3. Màng loại 4 có rất ít trong cơ thể trừ
trường hợp khi bị tổn thương, chẳng hạn khi người bệnh thiếu oxy, thành mao mạch
xuất hiện khuynh hướng để cho các chất protein qua.
Về phương thức vận chuyển vật chất qua màng người ta nhận thấy có hai
phương thức chủ yếu:
1 - Hoạt tan vào các lipid có trong màng tế bào. Vận chuyển bằng phương
pháp này có các chất hữu cơ không hoà tan trong nước và các chất có chứa nhóm
phân cực như metyl (CH3), etyl (C2H5), phenyl (C6H5).
2 - Xâm nhập vào tế bào qua lỗ màng: Vận chuyển theo phương pháp này có
các ion và phân tử vật chất hoà tan trong nước và các chất có chứa nhóm phân cực
hydroxyl (OH), cacboxyl (COOH), amin (NH2). Phương pháp đồng vị phóng xạ đã
khẳng định rằng sự xâm nhập qua lỗ màng không phải luôn luôn là do sự thẩm thấu.
Người ta giả thiết là trong các lỗ màng có chứa đầy nước có các ion dương hoặc âm
do kết quả của hiện tượng hấp thụ các ion. Bởi vậy những hạt vật chất mang điện trái
dấu dễ dàng thâm nhập vào tế bào còn các hạt cùng dấu thì bị đẩy ra. Nếu có hai phần
tử tích điện cùng dấu lọt vào lỗ màng thì chúng cản nhau. Các ion hydro và hydroxyl
tuy có bán kính bé nhưng thực tế hoàn toàn không từ ngoài vào tế bào. Sở dĩ như vậy
là vì chúng có tính linh động cao, dễ xếp thành nhóm trên bề mặt của màng tế bào và
chúng sẽ đẩy các điện tích cùng dấu. Chính vì vậy mà tế bào trở thành không thấm
đối với các acid và bazơ mạnh, các acid và bazơ yếu lại thấm dễ dàng.
12.2.3. Động lực và cơ chế vận chuyển vật chất qua màng tế bào
Vận chuyển vật chất qua màng là một quá trình rất phức tạp. Dựa vào sự
khác nhau tương đối về động lực và cơ chế người ta chia vận chuyển vật chất qua
màng tế bào làm 3 loại chính như sau:
- Vận chuyển thụ động
- Vận chuyển tích cực
- Thực bào và ẩm bào
12.2.3.1. Vận chuyển thụ động
Vận chuyển thụ động là quá trình vận chuyển vật chất qua màng có động lực
là các loại gradien khác nhau tồn tại ở hai phía của màng. Năng lượng chi phí cho

124
các vận chuyển này được lấy ngay ở phần năng lượng dự trữ trong các gradien, tế
bào không phải cung cấp thêm năng lượng lấy từ phải ứng hóa sinh. Chiều vận
chuyển vật chất do tổng các vectơ gradien ở vùng màng quyết định.
Các loại gradien thông thường tồn tại ở vùng màng của tế bào sống là:
- Gradien nồng độ: Xuất hiện khi có sự chênh lệch nồng độ của một chất nào
đó giữa trong tế bào và dịch bao quanh tế bào. Vì ở tế bào có rất nhiều loại chất
khác nhau do đó có nhiều gradien nồng độ.
- Gradien thẩm thấu: Xuất hiện khi có sự chênh lệch về áp suất thẩm thấu
giữa bên trong và bên ngoài tế bào.
Ở tế bào sống thì sự chênh lệch về áp suất thẩm thấu keo rất quan trọng.
- Gradien màng xuất hiện khi có màng bán thấm: Các phân tử có kích thước
nhỏ qua màng dễ dàng, còn các đại phân tử thâm nhập qua màng vào tế bào hoặc
thoát ra ngoài khó. Kết quả là nồng độ ở hai phía của màng tế bào sẽ khác nhau.
- Gradien độ hòa tan: Xuất hiện ở ranh giới hai pha không trộn lẫn được
trong trường hợp chất đã cho có độ hòa tan trong hai pha không giống nhau. Sự
phân phối nồng độ của bất kỳ chất gì hoà tan được trong nước và mỡ đều phải tuân
theo định luật Nerst: “ở nhiệt độ xác định, tỉ số nồng độ một chất hoà tan trong hai
pha lỏng tiếp xúc không trộn lẫn vào nhau, là một đại lượng không đổi khi đạt tới
trạng thái cân bằng nhiệt động”.
C
k = 1 k gọi là hệ số phân phối. (12.3)
C2
C1 và C2 là nồng độ chất tan của một chất nào đó ở hai pha.
- Gradien điện hoá: Gây ra bởi sự chênh lệch thế điện hoá. Sự chuyển động
của các ion theo thế điện hoá có thể xảy ra cả trong trường hợp khi chúng dịch
chuyển chống lại gradien nồng độ hay chống lại gradien điện thế vì gradien điện
hoá là kết quả của các hiệu ứng hoá học và điện.
Do có nhiều loại gradien ở vùng màng nên sự vận chuyển vật chất qua màng
không chỉ phụ thuộc vào sự chênh lệch nồng độ giữa trong và ngoài màng. Thí dụ:

125
do có gradien màng mà nồng độ kali ở trong tế bào thường xuyên lớn gấp 30÷50 lần
nồng độ của nó trong huyết thanh hay dịch mô.
Chiều vận chuyển vật chất phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tương quan giữa các gradien ở vùng màng (về cả chiều và giá trị).
- Mức độ trao đổi chất.
- Tương quan giữa các quá trình tổng hợp và phân huỷ các đại phân tử quan
trọng nhất trong thành phần nguyên sinh chất.
Thí dụ: như ở tế bào già, các nucleotid bị phân huỷ, các gốc phosphat và K+
thải qua màng ra môi trường bên ngoài; ở các tế bào non gốc phosphat và K+ lại
chuyển theo chiều ngược lại, chúng được tích luỹ trong tế bào bằng cách gắn vào
các nucleotid.
Khi tế bào sắp chết thì sự vận chuyển vật chất qua màng tăng lên một cách
không thuận nghịch và tế bào mất khả năng vận chuyển chọn lọc.
Vận chuyển thụ động vận chuyển qua màng tế bào có thể thực hiện theo
nhiều cơ chế khác nhau, song khuếch tán là cơ chế chủ yếu. Ta quan tâm đến ba
dạng khuếch tán:
- Khuếch tán đơn giản.
- Khuếch tán liên hợp.
- Khuếch tán trao đổi.
* Dạng khuếch tán đơn giản: khuếch tán đơn giản là dạng khuếch tán mà vật
chất chuyển động thành dòng trong dung môi dưới tác dụng của gradien nồng độ.
Các phân tử nước và các anion thường khuếch tán theo cơ chế này.
Gọi Δn là số phân tử hoà tan khuếch tán qua diện tích S trong khoảng thời
gian Δt áp dụng định luật Fick ta có:
ΔC
Δn = − D.S . .Δt
Δx (12.4)
Mật độ dòng vật chất khuếch tán được xác định bằng công thức:
Δn ΔC
φ= = −D
S .Δt Δx (12.5)
Trường hợp khuếch tán qua màng có chiều dày A thì:

126
ΔC
Δn = − D.S. .Δt = − P.S.ΔC.Δt. (12.6)
A
D
Trong đó: p=
l
Là hệ số thấm của màng.
Vậy Δn = S.P.(C1 - C2).Δt.
Hay φ = - P.ΔC. (12.7)
Có thể xác định được giá trị của P bằng thực nghiệm. Hệ số thấm P của
màng phụ thuộc vào:
- Tác động qua lại của các phần tử và ion cùng đi qua màng.
- Sự tham gia của các phân tử và ion vận chuyển vào các quá trình trao đổi
vật chất trong tế bào.
- Tốc độ vận chuyển của dung môi qua màng.
- Nếu chất khuếch tán là chất điện li thì lượng chất khuếch tán qua màng còn
phụ thuộc vào độ linh động U+ của các ion dương và U - của các ion âm thể hiện
qua hệ số khuếch tán D được tính bằng công thức:

2.R.T U + .U
D= . (12.8)
F2 U + + U
Trong đó: R là hằng số Clapeyron - Mendeleev.
T và nhiệt độ tuyệt đối của dung dịch điện li.
F là hằng số Faraday.
Tốc độ của một chất nào đó qua màng bằng con đường khuếch tán đơn giản
được xác định bởi tính hoà tan của chúng trong lipid và bởi kích thước của các phân
tử khuếch tán. Những chất hoà tan trong nước mà có phân tử lớn hơn 8 μm (nghĩa là
lớn hơn đường kính của lỗ) thì thường là không thể đi qua màng. Nhiều phân tử tích
điện thường là Hydrat hoá nghĩa là có bao một lớp vỏ có tích nhiều phân tử nước và
cái vỏ nước ấy đã làm tăng cao “đường kính hiệu ứng” của các phân tử khuếch tán,
trong trường hợp đó tốc độ khuếch tán của chúng bé hơn tốc độ khuếch tán của các
ion tự do không bị Hydrat hoá. Các lỗ hoạt động như thể là thành của chúng mang
điện tích dương. Mỗi điện tích dương được bao bởi một vùng tích tĩnh điện như thế
hướng vào lòng của lỗ. Mỗi một ion tích điện dương cũng dược bao bởi một vành

127
tích tĩnh điện và hai điện tích cùng dấu đó đẩy nhau. Do đó mà các phân tử tích điện
dương rất khó khăn và chậm chạp xuyên qua màng, cả khi kích thước của chúng
nhỏ hơn 8 μm.
* Khuếch tán liên hợp: Khuếch tán liên hợp là quá trình vận chuyển vật chất
qua màng theo gradien nồng độ, song các phần tử vật chất chỉ lọt qua màng khi được
gắn vào phần tử khác gọi là chất mang. Các chất glucose, glycerin, cidamin và một số
chất hữu cơ khác vận chuyển theo cơ chế này. Quá trình này mang đặc tính “động
học bão hoà”: khi với nồng độ phân tử chất thâm nhập ít ở trong dung dịch ngoài
thì tốc độ vận chuyển của chúng vào trong tế bào là tỷ lệ thuận với nồng độ đó.
Tuy nhiên khi có nồng độ cao hơn thì tỉ lệ thuận không được quan sát thấy vì
chất mang đã “no” rồi. Các chất mang có tính đặc trưng, chúng chỉ có thể liên
kết với một loại phân tử hoặc là phân tử khác nhưng phải có cấu trúc rất giống
với loại trên. Chính vì vậy mà thực tế các phân tử đường có cấu tạo hoá học
giống nhau sẽ cạnh tranh với nhau về miền liên kết với chất mang.
Phân tử chất xâm nhập vào tế bào còn gọi là cơ chất, ký hiệu là C, phân tử chất
mang là M có thể kết hợp với nhau thành phức chất MC hoặc MC phân li thành M và C:
M+C MC
Ký hiệu nồng độ phức chất MC ở mặt trong và mặt ngoài là [ Mc]tr và
[MC]ng thì mật độ dòng vật chất MC qua màng là:
D
ϕ=− ([ MC]tr − [ MC]ng ) (12.9)
l
φ phụ thuộc vào các yếu tố:
- Tốc độ xuất hiện phức chất MC. Tốc độ này một phần phụ thuộc vào số
phân tử cơ chất C tiếp xúc với màng trong một đơn vị thời gian, một phần phụ thuộc
vào số phần tử chất mang M phân phối trong một đơn vị diện tích màng.
- Tốc độ di chuyển của phức chất MC.
- Tốc độ phân li của phức chất MC.
Nói chung tốc độ di chuyển của các phức chất nhỏ, do đó mật độ cơ chất đi
vào tế bào không lớn.
Ta xét khuếch tán liên hợp ở trạng thái cân bằng động là lúc số phân tử
phức chất được tổng hợp và phân li bằng nhau. Gọi k 1 là hệ số phân ly thì số
phân tử phức chất phân ly là N1:

128
N1 = k1[MC ]
Gọi k2 là hệ số phân ly thì số phân tử phức chất được tổng hợp là N2:
N 2 = k2 [C ][
. Mr]
Trong đó [M1] là nồng độ các chất mang chưa kết hợp với cơ chất. Nếu gọi
[M] là nồng độ của toàn bộ chất mang ở vùng xác định mà ta xét, [Mg] là nồng độ
chất mang đã kết hợp với cơ chất thì:
[M r ] = [M ] − [M g ]
Hiển nhiên là: [M ] = [MC ]
g

Do đó: [M r = [M ] − [MC ]]
N 2 = k 2 .[C ].([M ] − [MC ])

Cân bằng động ta có: N 1 = N2


Hay: k1 [MC ] = k2 .[C ].([M ] − [MC ])

k1
Đặt: =k
k2

Ta sẽ có: [MC ] = [M ][. C ]


k + [C ]

[C ]ng ⎫⎪
[M ]⎪⎨ [C ]tr −
D ⎧
Khi ấy ta có: φ= ⎬ (12.10)
l ⎪⎩ k + [C ]tr k + [C ]ng ⎪⎭

* Khuếch tán trao đổi: Cũng như khuếch tán liên hợp, khuếch tán trao đổi
xảy ra khi có sự tham gia của chất mang song chỉ khác là phân tử chất mang thực
hiện một quá trình vận chuyển vòng. Sau khi mang phân tử cơ chất ra phía ngoài
màng tế bào rồi, phân tử chất mang lại gắn ngay với một phân tử cơ chất khác cùng
loại ở ngoài màng tế bào rồi lại vận chuyển nó vào phía trong tế bào.
Dựa vào cơ chế khuếch tán này chúng ta có thể giải thích đươc sự vận
chuyển của các ion Na+ qua màng hồng cầu trong tự nhiên do trong sự kiện đánh
dấu phóng xạ mà thấy các Na+ của hồng cầu nhanh tróng đổi chỗ cho các Na+ trong
huyết thanh trong khi nồng độ Na+ ở huyết thanh và trong hồng cầu không thay đổi.
12.2.3.2. Vận chuyển tích cực

129
Vận chuyển tích cực chỉ có thể xảy ra khi có sự tham gia của các phân tử
chất mang. Các chất mang phải đặc hiệu đối với cơ chất hoặc cũng có thể không đặc
hiệu (nghĩa là không nhất thiết cần một chất nhât định mà có thể có nhiều chất hoá
học tương tự đảm nhiệm việc “mang cơ chất”).
Hai đặc trưng chính của vận chuyển tích cực là:
- Hiện tượng vận chuyển vật chất luôn xảy ra theo chiều hướng ngược với
chiều của Gradien nồng độ hoặc ngược chiều với Gradien điện hoá khi cơ chất là
các ion.
- Hiện tượng vận chuyển luôn cần được cung cấp năng lượng. Nguồn cung
cấp năng lượng là từ sự phân ly Glycogen, do sự hô hấp hoặc từ sự thuỷ phân
adenozin triphotphat (ATP).
Quá trình vận chuyển được gọi là tích cực nếu dòng vật chất từ môi trường
ngoài đi vào tế bào, gọi là xuất tiết nếu vật chất từ tế bào đi ra môi trường ngoài.
Có thể chia vận chuyển tích cực làm 3 cơ chế:
- Chuyển dịch nhóm: ở đây cơ chất được vận chuyển bị thay đổi qua sự tạo
thành những liên kết đồng hoá trị mới, năng lượng để vận chuyển bằng năng lượng
cần thiết để tạo ra cơ chất.
- Vận chuyển tích cực tiên phát: là tạo ra những liên kết đồng hoá trị mới
trong chất mang, năng lượng để vận chuyển diễn ra bằng năng lượng cần thiết để
làm ta đổi hình dạng chất mang.
- Vận chuyển tích cực thứ phát: ở đây cơ chất đầu được vận chuyển một cách
tích cực, ví dụ Na+ tạo ra thế năng Gradien điện hoá, mà thế năng này hướng sự vận
chuyển của cơ chất thứ hai, ví dụ như đường, axit amin theo Gradien này.
Dưới đây trình bày về dẫn truyền Na+ và K+ (thuộc loại cơ chế vận chuyển
tích cực tiên phát) là thí dụ điển hình của vận chuyển tích cực. Đây là sự vận
chuyển các ion Na+ và K+ theo chiều chống lại Gradien điện hoá, chuyển vận này
chỉ xảy ra khi có mặt ATP và các ion Mg++, đồng thời khi ấy ATP thuỷ phân giải
phóng năng lượng. Qua tính toán Hotkin thấy rằng năng lượng giải phóng ra do quá
trình phân huỷ 1 mol ATP có thể đủ để vận chuyển 1 mol ion dương chống lại

130
Gradien điện hoá. Sự hao tổn năng lượng lớn như vậy chỉ đúng với trường hợp vận
chuyển của các ion H+ qua màng tế bào dạ dày. Còn đối với vận chuyển Na+ thì cứ
1 mol ATP vận chuyển được 3 mol Na+ và trong hồng cầu gần 2 mol K+ đi vào thì
có 3 mol Na+ đi ra.
Cơ chế vận chuyển các ion Na+ và K+ có thể giải thích bằng sơ đồ sau:
1- M1 + Na+ + MgATP NaM1 ~ P + Mg++ + ADP
2- NaM1 ~ P NaM2 ~ P
3- NaM2 ~ P M2 ~ P + Na+
4- M2 ~ P + K+ KM2 ~ P
5- KM2 ~ P KM1 ~ P
6- KM1 ~ P M1 ~ P + K+

Ở giai đoạn (1) Na+ gắn vào chất mang M1, chất mang này xuất hiện cùng
với MgATP ở trong của màng tế bào. Quá trình photphorin hoá xảy ra, cung cấp
năng lượng cho phức hợp “Na-chất mang” là NaM1 ~ P lọt qua màng tế bào. Do tác
dụng của chất X ở ngoài màng tế bào, cấu trúc của phức hợp NaM1 ~ P bị biến đổi
thành phức hợp NaM2 ~ P trong giai đoạn (2) tức là M1 bị biến đổi thành M2. Do
chất mang M2 gắn rất yếu với Na+ nên phức hợp này bị phân ly trong giai đoạn (3)
và Na+ đi ra môi trường bên ngoài. ở giai đoạn (4) chất mang M2 gắn với K+ ở mặt
ngoài tế bào tạo thành phức hợp KM2 ~ P, phức hợp này đi vào phía trong tế bào.
Trong giai đoạn (5) ở mặt trong tế bào, do tác dụng của chất phân ly, phức hợp KM2
~ P biến thành KM1 ~ P, tức là M2 biến đổi trở thành M1. Do ái lực hoá học của M1
với K+ nhỏ (lớn đối với Na+) nên phức hợp phân ly trong giai đoạn (6) giải phóng
K+ và P vào trong tế bào. Quá trình sau đó được tiếp diễn từ đầu.
Như vậy quá trình vận chuyển tích cực Na+ và K+ luôn xảy ra đồng thời với
sự thuỷ phân ATP. Các kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng để xảy ra sự thuỷ
phân ATP cần có một loại men đặc hiệu là adenzin triphotphataza.
12.2.3.3. Thực bào và ẩm bào
Một quá trình vận chuyển vật chất khác bổ xung cho vận chuyển thụ động và
tích cực là hiện tượng thực bào và ẩm bào. ở hiện tượng này, các chất hoà tan trong

131
nước, các protein và các hạt gồm một số phân tử khá lớn có thể xâm nhập vào tế bào
nhờ chức năng tích cực của màng tế bào mà không cần khuếch tán qua lỗ màng.
Màng tế bào có đặc tính là có khả năng bắt giữ các vật liệu khác nhau nằm
bên ngoài tế bào, chúng hình thành nên các chỗ lồi, bao lấy vật liệu nào đấy trong
môi trường và cuối cùng khép kín lại và như vậy vật liệu đó đã đi sâu vào trong tế
bào. Các không bào được tạo thành bằng cách như vậy đi sâu vào trong tế bào chất,
ở đây chất chứa trong không bào sẽ bị xử lý. Trong kiểu vận chuyển vật chất từ môi
trường vào trong tế bào như thế thì tính toàn vẹn của màng tế bào không hề bị phá
huỷ. Quá trình đó được gọi là thực bào - Khi các không bào lớn được tạo thành có
chứa các phần tử có hình dạng nhất định và được gọi là ẩm bào (hay uống bào) nếu
như không bào rất bé chỉ chứa các chất hoà tan.
Khả năng thực bào không chỉ có ở các vi sinh vật mà còn thấy ở một số loại
tế bào của sinh vật đa bào. ở động vật có vú, các bạch cầu hạt hoặc các tế bào có
nguồn gốc trung bì (hệ võng mạc nội mô) có khả năng thực bào. Hiện tượng thực
bào bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố hoá lý như tương tác hoá học, diện tích bề
mặt của màng và của các hạt.
Hiện tượng ẩm bào thường xảy ra khi trong môi trường có các chất hoà tan
đặc trưng như protein, và các acid amin, kiềm hoà tan... Khi đó, ở các amip sẽ hình
thành các chân giả ngắn và trong mỗi chân giả sẽ xuất hiện các rãnh có hình sóng
chạy từ đỉnh đến phần gốc chân giả, ở phần cuối cùng của rãnh, không bào được hình
thành và về sau không bào này tách ra khỏi chân giả và đi sâu vào tế bào chất. Đối
với tế bào động vật bậc cao thì khi ẩm bào cũng xảy ra chuyển động hình sóng của
màng, nhưng không hình thành các rãnh, các không bào được tạo thành sẽ dính với
các phân tử protein tập trung ở trên màng (lớp protein này có nồng độ gấp đến 50 lần
nồng độ dung dịch protein ở môi trường). Sau đó màng lõm vào trong tế bào và hình
thành các bóng riêng biệt. Các phân tử protein (A, vòng đen) ở dung dịch bên ngoài
sẽ liên kết với những phần đặc trưng trên bề mặt của màng tế bào (B) sau đó màng
lõm vào (C) và tạo thành các bóng bào chất (D) có chứa các phân tử bị bắt giữ.
Quá trình thực bào và ẩm bào giống quá trình vận chuyển tích cực ở chỗ là chỉ
xảy ra khi được cung cấp năng lượng (nguồn năng lượng cũng là ATP) và là cơ chế

132
vận chuyển có chọn lọc qua màng tế bào. Cơ chế này đã cho phép giải thích các phân
tử lớn hoà tan trong nước qua màng, thí dụ các phân tử protein hoặc acid nucleic.
Ta cần chú ý thêm rằng ở quá trình thực bào và ẩm bào, tế bào hấp thụ cả chất
độc. Các chất đưa vào trong tế bào được tiêu hoá bằng các loại men có trong thành phần
của màng hoặc bằng các men có khả năng phân huỷ rất cao chứa trong các hạt lyzosom.
Nhờ có màng tế bào với các dạng vận chuyển vật chất thụ động, chủ động, thực
bào và ẩm bào mà tế bào trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường xung quanh.
Sự trao đổi vật chất dưới dạng nào cũng phải tiêu tốn năng lượng: đó là năng lượng dự
trữ dưới dạng gradien hoặc năng lượng của sự phân huỷ ATP một cách chủ động theo
yêu cầu của hoạt động sống. Hoạt động của màng tế bào như vậy có thể coi là một dấu
hiệu quan trọng trong các dấu hiệu biểu thị hoạt động sống.
Ngoài ra còn có quá trình ngược lại trong đó các không bào có màng bao bọc
sẽ bị dính vào màng và các chất chứa trong không bào sẽ bị bài tiết ra ngoài, đặc
biệt là ở các tế bào tiết thường được gọi là quá trình bài xuất.

133
Chương 13
LÝ SINH TUẦN HOÀN VÀ LÝ SINH HÔ HẤP

13.1. LÝ SINH TUẦN HOÀN


Sự vận chuyển máu có vai trò quan trọng trong cơ thể, nó đem dinh dưỡng,
O2 cung cấp cho các cơ quan, nhận từ các cơ quan các chất thải, khí CO2 ngoài ra
còn có tác dụng điều hòa thân nhiệt. Vì vậy nếu chỉ cần ngừng hoạt động tuần hoàn
trong thời gian ngắn cơ thể sẽ bị chết.
Trong hệ tuần hoàn máu tim và mạch máu đóng vai trò động lực.
13.1.1. Tính chất vật lý của hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn gồm 2 vòng kép kín:
- Vòng tiểu tuần hoàn: máu chuyển từ tim phải đến phổi, ở đó máu thải CO2
và hấp thụ O2 rồi lại chảy về tim trái.
- Vòng đại tuần hoàn đưa máu từ tim trái đến động mạch rồi đến các cơ quan,
tổ chức cung cấp O2, chất dinh dưỡng trao đổi chất lấy CO2, các chất thải đổ về tĩnh
mạch rồi về tim phải.
PHỔI
- Trong buồng tim máu theo chiều từ
tâm nhĩ đến tâm thất các dòng máu trong tim
và ngoài tim chạy theo một chiều nhất định
nhờ co bóp của tim, tính đàn hồi của các N N
TRÁI

PHẢI

mạch máu, các van trong buồng tim và trong T T


lòng mạch.
13.1.1.1. Tim MÔ
Hoạt động của tim: co bóp đều đặn. CƠ QUAN
Hoạt động co giãn cơ tim tuần tự theo chiều
dọc từ N (nhĩ) → T (thất) nhưng đồng thời Hình 13.1. Sơ đồ hoạt động của
hệ tuần hoàn
với nhau theo chiều ngang nghĩa là 2 nhĩ và
2 thất co hoặc giãn đồng thời, nhưng sau khi tâm nhĩ co rồi mới đến tâm thất co.
Quá trình đó được lặp đi lặp lại theo một chu kì điều hòa.
Chu kì đó bao gồm các hoạt động tâm nhĩ thu (co) tâm thất thu, tâm nhĩ trương
(giãn) và tâm thất trương. Thời gian tồn tại các hoạt động này tùy thuộc vào nhịp đập

134
của tim. ở người bình thường chu kỳ này chiếm 0,8s trong đó tâm nhĩ thu 0,1s, tâm
nhĩ trương 0,7s. Còn thâm thất thu 0,3 s và tâm thất trương 0,5 s.
Thực ra tâm thất thu có 2 giai đoạn:
- Giai đoạn tăng áp chiếm 0,25 s (trương lực cơ tăng lên nhưng sợi cơ chưa
rút ngắn) và giai đoạn đẩy máu (lúc này máy được đẩy ra tối đa vì sợi cpư rút lại
ngắn nhất) giai đoạn dẩy máu chiếm 0,05 s.
Tim hoạt động đều tạo nhịp 60 ÷ 80 lần co giãn/phút.
Buồng tim có thể coi là dạng cầu, khi máu chứa đầy buồng tim các sợi cơ
được giãn dần ra dưới tác dụng của lực F.
F = P.S (13.1)
P: Áp suất trong buồng tim
S: Diện tích bề mặt trong buồng tim
S = 4πR2 , (13.2)
3 3
V= πR (13.3)
4
F max khi máu về tim nhiều nhất lúc đó p tăng lúc đó buồng tim được giãn
rộng làm cho S tăng.
Người bình thường ở cuối tâm trương thể tích tâm thất 85 ml nhưng cuối tâm
thu giá trị đó là 25ml
Do đó lực F biến thiên theo thời gian tùy theo giá trị của S, người ta đo được
lúc đầu tâm thu giá trị lực toàn phần của cơ tim là 89 N, ở cuối tâm thu là 67 N
Do vậy mỗi lần tim co bóp một lượng máu được đẩy ra với áp suất gần bằng
áp suất của trong buồng thất trái (120 - 150 tor). Lượng máu được tim đẩy ra phụ
thuộc vào sức co bóp của tim.
Bằng phương pháp pha loãng với các chất màu hay đồng vị phóng xạ đánh dấu
người ta xác định được là lượng máu được đẩy ra mỗi lần co bóp khoảng 40 - 70ml tức
là khoảng 4 - 6 lít/phút.
13.1.1.2. Mạch máu
* Cấu tạo của thành mạch
Cấu tạo của hệ thống mạch máu trong cơ thể dày đặc và phân phối tương đối
đồng đều khắp cơ thể.

135
Động mạch chủ, tĩnh mạch chủ có đường kính lớn nhất còn đường kính mao
mạch là nhỏ nhất.
Cấu tạo của các thành mạch chủ yếu là các cơ liên kết, cơ sợi đàn hồi và các
thớ cơ trơn.
Sự co giãn cơ trơn để thay đổi tiết diện lòng mạch được điều khiển bằng hệ
thần kinh thực vật và các nội tiết tố.
Trong lòng mạch còn chứa các hệ thống van, làm cho máu chỉ chảy theo một
chiều nhất định.
* Tác dụng đàn hồi của thành mạch
Thành động mạch đóng vai trò quan trọng để duy trì dòng chảy liên lục và
tăng thêm áp suất dòng chảy ta tiến hành thí nghiệm để thấy vai trò của ống đàn hồi
mô tả thí nghiệm như hình vẽ bên:
Cho kẹp tháo nước liên tục ta
thấy ở ống cứng nước chảy ngắt quãng
theo nhịp kẹp đóng mở.
Còn ở ống cao su nước chảy
thành dòng liên tục và lưu lượng lớn
hơn. Trong thành ống xuất hiện sóng
Hình 13.2
đàn hồi có thể quan sát được.
Mỗi lần mở kẹp chất lỏng được cung cấp một áp suất để chuyển động, đồng
thời cũng nhận được một phần năng lượng để giãn rộng ra, như vậy sự biến dạng
đàn hồi của các thành ống đã đóng vai trò quan trọng của chất lỏng chuyển động trong
ống cao su và chuyển động của máu trong thành mạch cũng vậy.
Lực đặt lên thành mạch tại một điểm được xác định bởi hệ thức:
E.S
F= .ΔA (13.4)
A
Trong đó: ℓ là chiều dài vật và Δ ℓ là sự biến dạng theo chiều dài của vật; E
là mô đun đàn hồi hay mô đun Young của vật.
Công thực hiện do sự biến dạng này sẽ được tính theo giá trị trung bình F.
1 ES 2
A = F. Δ ℓ = . ΔA (13.5)
2 A
Công này tạo ra thế năng Et của biến dạng đàn hồi với
1 ES
Et = .ΔA 2 (13.6)
2 A

136
Vậy thế năng của thành mạch tỷ lệ với bình phương của độ biến dạng ( ΔA 2 ).
Ta thấy mạch giãn càng rộng (Δ ℓ càng lớn) thì thế năng dự trữ càng lớn. Thế
năng này rõ ràng có giá trị biến thiên tùy thuộc vào Δ ℓ ở từng thời điểm.
Ở thời kỳ tim không co bóp áp suất dòng chảy giảm xuống dần. Thế năng ở
thành mạch sẽ cung cấp áp suất cho dòng chảy liên tục và điều hòa trong suốt cả
thời kỳ tâm trương.
Kèm theo sự lan truyền áp suất dọc theo thành mạch là sóng mạch. Sóng
mạch có thể cảm giác được dưới tay. Tốc độ sóng mạch ở động mạch chủ là 4m/s -
5m/s tức là sau một co bóp của tim (tâm thu) kéo dài tới 0,3s sóng mạch đã lan
truyền được 1,2 - 1,5m. Tốc độ lan truyền của sóng mạch không liên quan đến tốc
độ chảy của máu trong lòng mạch. ở người lớn tuổi, do các thay đổi về thành phần
và cấu tạo của thành mạch, tính đàn hội bị giảm đi và do vây tốc độ lan truyền của
sóng mạch cũng tăng lên.
Vì vậy việc giữ cho thành mạch đảm bảo đàn hồi là vấn đề quyết định giải
quyết vấn đề về bệnh tim mạch. Nếu uống rượu, hút thuốc, hoặc sử dụng các chất
kích thích sẽ làm sơ cứng, sơ vữa động mạch làm giảm khả năng đàn hồi gây các
bệnh tim mạch.
13.1.1.3. Trương lực của mạch máu - Huyết áp động mạch
Máu luôn luôn lưu thông trong hệ tuần hoàn. Xét ở đoạn mạch ta thấy áp
suất từ trong lòng mạch tác động ra thành mạch chủ yếu là áp suất thủy tĩnh. Nếu
không có áp suất tác dụng ngược lại thì thành mạch giãn nở tối đa, có thể làm vỡ
mạch. Có lực chống lại đó là nhờ cấu trúc của thành mạch và các yếu tố sinh học
phức tạp khác, ở đây ta gọi chung là áp lực của mô. Tuy thế ở động mạch bao giờ
cũng tồn tại sự chênh lệch giữa 2 giá trị đó để cho máu lưu thông:
p = pi - pe > 0 (13.7)
pi là áp suất từ trong lòng mạch ra, pe là áp suất ngoài vào. ở trạng thái cân
bằng thành mạch phải có một lực chống lại áp suất p đó, p được gọi là áp suất của
thành mạch và là nguồn gốc của trương lực của mạch máu.
Mạch máu có hình trụ với bán kính r và nếu xét trên một đơn vị chiều dài thì
lực từ trong ra tác dụng vào toàn bộ thành của đoạn mạch đó là: Fi = 2πr.pi
Suy ra lực tác dụng từ ngoài vào là Fe = 2πr.pe và giá trị của thành mạch sẽ là:

137
2πrp = 2πr (pi - pe)
Lực đó do các sợi đàn hồi và tổ chức liên kết trong thành mạch gây ra. ở đây
cần phải dùng đến khái niệm trương lực của thành mạch T, được biểu diễn bằng
dyn/cm hoặc N/m.
F E
T= = → E = T.S (13.8)
L S
Do vậy ta có: dE = T. 2πdr (13.9)
Sự cân bằng đạt được khi giá trị năng lượng của lực căng đó cân bằng với giá
trị năng lượng của lực co:
T = dE/2πdr = 2πpdr/2πdr Hay T = pr (13.10)
T biểu thị huyết áp động mạch và không phải là áp suất dòng chảy trong
lòng mạch.
Theo công thức trên, huyết áp của một động mạch nào đó là tích số của áp
suất thành mạch ở đó nhân với bán kính r của nó.
Cần nhắc lại rằng áp suất thành mạch là hiệu số của áp suất từ trong lòng
mạch ra trừ đi áp suất từ ngoài tổ chức vào. Hiệu số đó nói lên khả năng đàn hồi của
thành mạch. Chính vì vậy khi thành mạch bị biến chất, tính đàn hồi thay đổi thì
huyết áp cũng thay đổi mặc dầu áp suất dòng chảy trong lòng mạch không thay đổi.
Tất nhiên tất cả các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến áp suất dòng chảy trong lòng mạch
như sự co bóp của tim, lưu lượng và thể tích máu... đều ảnh hưởng đến huyết áp.
Ta suy ra hệ quả sau: Với một giá trị T xác định, bán kính r càng bé thì giá
trị áp suất thành ống p càng lớn. Như thế nghĩa là chất lỏng chảy với áp suất lớn,
những ống có bán kính bé chịu đựng tốt hơn các ống lớn.
13.1.2. Sự thay đổi của áp suất và tốc độ chảy của máu trong các đoạn mạch
Tốc độ dòng chảy, áp suất chảy của máu phụ thuộc vào tiết diện lòng mạch:
tốc độ chảy của máu ở động mạch chủ là 10 - 20m/s, động mạch cở là 5,2m/s. Lúc
xuống mao mạch chỉ còn là 5mm/s.
Theo định luật Bernoulli, chúng ta hiểu rằng ở mao mạch, do tốc độ chảy rất
chậm nên khả năng trao đổi thể dịch giữa máu và tổ chức xung quanh đã tăng lên vì
ở đây áp suất thủy lực tăng lên nhiều và tốc độ chảy giảm xuống thấp nhất. Tuy vậy
khi về đến tĩnh mạch đùi, tốc độ chảy của máu là 4,5cm/s, tĩnh mạch cổ là 14,7cm/s.

138
Như vậy tốc độ chảy của máu giảm dần từ động mạch lớn đến mao mạch rồi
lại tăng dần từ mao mạch đến tĩnh mạch. Ta biết khối lượng máu chảy qua các đoạn
mạch đều giống nhau, nghĩa là ở các đoạn mạch đó vẫn đảm bảo quy luật tích số
giữa vận tốc máu chảy và tiết diện lòng mạch là không đổi. Do đó vận tốc chảy của
máu nơi có tiết diện nhỏ cao hơn nơi có tiết diện lớn.
Cần lưu ý ở đây là tiết diện của các mạch không phải là tiết diện của một
mạch riêng biệt mà là tổng tiết diện của tất cả các mạch ở từng phần. Tuy tiết diện
của một tiểu động mạch nhỏ hơn động mạch chủ nhưng do phân thành nhiều nhánh
nên tổng tiết diện của tiểu động mạch lớn hơn của động mạch chủ và ngược lại tổng
tiết diện của tiểu động mạch lại nhỏ hơn của mao mạch.
Các đo đạc cụ thể cho thấy tổng tiết diện tăng dần từ động mạch chủ đến mao mạch
rồi giảm dần từ mao mạch đến tĩnh mạch chủ. Tổng tiết diện của mao mạch lớn gấp 400 -
800 lần tiết diện của động mạch chủ và bằng 200 - 400 lần tổng tiết diện của các tĩnh mạch
nhỏ. Do đó tốc độ chảy máu không giống nhau ở các đoạn mạch.
Vận tốc dòng chảy, áp suất chảy của máu phụ thuộc vào chiều dài mạch: khối
lượng máu chảy qua đoạn mạch trong một đơn vị thời gian sẽ lớn khi đường kính lớn,
chiều dài ngắn và ngược lại. Có thể biểu diễn độ chênh lệch áp suất Δp ở hai đầu một
đoạn mạch để hiểu rõ những yếu tố ảnh hưởng đến áp suất đó theo công thức:
8η A Q
Δp = (13.11)
πR 4
η là hệ số nhớt của máu, Q là lưu lượng máu, ℓ là chiều dài và R là bán kính
lòng mạch. ở đây chỉ mới lưu ý đến yếu tố hình học (ℓ và r) của đoạn mạch. Như
vậy độ chênh lệch áp suất Δp lớn khi máu chảy qua một đoạn mạch dài và hẹp,
ngược lại độ chênh lệch áp suất chảy giữa hai đầu đoạn mạch liên quan với lực ma
sát giữa dòng chảy và thành mạch. Độ chênh lệch này càng lớn sẽ làm cho áp suất ở
đầu cuối đoạn mạch càng xuống thấp (Hình 13.3).
A: Động mạch lớn; B: Động mạch nhỏ; C: Mao mạch; D: Tĩnh mạch; E:
Tĩnh mạch chủ

139
Trong hệ tuần hoàn, độ chênh lệch áp suất giữa 2 đầu đoạn mạch sẽ tùy
thuộc vào đoạn mạch đó là động mạch, mao mạch hay tĩnh mạch. Lòng mạch có
bán kính R càng bé làm cho áp suất
chảy ngày càng giảm xuống. ở người
bình thường chiều dài tổng cộng các
mạch lên tới trên 10.000km.
Hình 13.4 cho thấy sự thay đổi
của áp suất và tốc độ chảy của máu A B C D E
trong các đoạn mạch. Một trong những
Hình 13.3. T−¬ng quan gi÷a tèc ®é
nguyên nhân chủ yếu của sự thay đổi ch¶y cña m¸u (1) vμ tæng tiÕt diÖn cña
lßng m¹ch (2).
đó là sự phân nhánh của các mạch máu.
A. §éng m¹ch lín.
Hệ thống mạch máu trong cơ thể B. §éng m¹ch nhá.
đi từ tim gồm động mạch chủ, các động C. Mao m¹ch.
D. TÜnh m¹ch.
mạch lớn, động mạch nhỏ rồi đến mao E. TÜnh m¹ch chñ n¬i ®æ vμo tim.
mạch, tĩnh mạch nhỏ, tĩnh mạch lớn và
tĩnh mạch chủ. Mạng động mạch càng
xa tim càng phân nhánh nhiều. Vì vậy
áp suất dòng chảy ngày càng giảm.
Tốc độ dòng chảy, áp suất chảy
của máu phụ thuộc vào sức cản ngoại vi
Hình 13.4. A: Động mạch lớn; B: Động
của mạch: nhìn chung áp suất dòng chảy mạch nhỏ; C: Mao mạch; D:Tĩnh mạch;
E: Tĩnh mạch chủ nơi máu đổ về tim
bị giảm dần. Nguyên nhân của sự hao hụt
áp suất đó là lực ma sát xuất hiện giữa thành mạch và máu chảy trong lòng mạch.
Nếu gọi Δp là độ giảm áp suất giữa 2 đầu một đoạn mạch và Fc là sức cản
của đoạn mạch. Người ta đã chứng minh được rằng:
Δp = Fc.V (13.12)
V là thể tích máu chảy qua đoạn mạch trong một đơn vị thời gian.
Δp 8ηl
Như vậy Fc = Hay: Fc = (13.13)
V πr 4
Như vậy sức cản chung của mạch ngoại vi phụ thuộc vào các yếu tố hình học
(r và ℓ) của hệ mạch và phụ thuộc vào hệ số nhớt của máu. Ap lực ở đầu hệ tuần

140
hoàn tức là trong tâm thất trái khoảng 130 Tor, áp suất máu ở cuối hệ tức là trong
tâm nhĩ phải khoảng 5 Tor. Thể tích máu lưu thông khắp hệ mạch trong vòng 1 phút
là 5ℓ (tức là 83ml/s). Như vậy sức cản của hệ mạch ngoại vi là:
130 − 5
Fc = ≈ 1,5 đơn vị (13.14)
83
Khi gắng sức, áp lực ở động mạch chủ có thể tăng lên đến 150 Tor và lưu
130 − 5
lượng tăng lên gấp 3. Lúc đó sức cản ngoại vi Fc = ≈ 0,5 đơn vị. (13.15)
83x3
Như thế nghĩa là khi cần thiết, do hoạt động của tim nhanh lên và ảnh hưởng
của nhiều yếu tố mạch máu, lưu lượng máu tăng lên đã làm cho sức cản ngoại vi
của hệ mạch chỉ còn 1/3 giá trị lúc bình thường.
Ở những bệnh nhân cao huyết áp, áp lực ở động mạch chủ có thể tăng lên
đến 200 Tor nhưng lưu lượng máu lại không tăng lên được liên quan với việc giá trị
200 − 5
của sức cản ngoại vi tăng lên: Fc = ≈ 2,3 đ.v. (13.16)
83
Sức cản tăng lên hơn gấp đôi đó làm cho hoạt động của tim càng khó khăn thêm.
13.1.3. Đặc điểm về thể dịch của máu và hệ tuần hoàn máu
Thành phần chủ yếu của chất lỏng trong cơ thể (thể dịch) là nước. Nước
chiếm đến 3/4 trọng lượng cơ thể người và chia thành 2 khu vực lớn: trong tế bào và
ngoài tế bào. ở ngoài tế bào nước chiếm khoảng gian bào (giữa các tế bào, mô) và
trong lòng mạch.
Ngày nay với các phương pháp đồng vị phóng xạ đánh dấu bằng S35, Na24,
Br82, Cl38... có thể xác định chính xác lượng nước đó. Nước trong lòng mạch chiếm
5% trọng lượng cơ thể.
Ngoài các tế bào máu, máu còn chứa nhiều thành phần khác, trước hết là các
muối vô cơ và hợp chất hữu cơ. Các muối vô cơ trong huyết tương tạo cho máu một
áp suất thẩm thấu đáng kể. áp suất thẩm thấu của máu được xác định bằng biểu thức:
C
P = RTC hoặc P = RT
M
P là áp suất thẩm thấu. R là hằng số. M là trọng lượng phân tử chất hòa tan.
C là nồng độ chất tan tính theo g/l (hoặc mol/l). Giá trị C ở người bình thường là 0,3
mol/l. T là thân nhiệt tính bằng nhiệt độ K.

141
Áp suất thẩm thấu của máu đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của tế
bào, mô và cơ quan. Cơ thể điều chỉnh sự phân bố nước ở các khu vực trong cơ thể
chủ yếu thông qua áp suất thẩm thấu. Bình thường máu có giá trị áp suất thẩm thấu
ít thay đổi.
Một thành phần quan trọng của huyết tương là protein. Protein chiếm 7 - 8%
trọng lượng huyết tương. Chúng bao gồm chủ yếu là albumin, globulin và một phần là
fibrinogen. áp suất thẩm thấu do lượng protein chỉ vào khoảng 25 - 30 Tor và chiếm một
phần của huyết tương. Tuy vậy protein trong máu tạo nên một trạng thái keo và gây ra
áp suất keo. Tác dụng của áp suất keo là gây nên sự chuyển vận của nước qua thành
mạch ngược chiều với chuyển vận do áp suất thủy lực (do tim co bóp và tính đàn
hồi của thành mạch) lớn hơn áp suất keo (do lượng protein huyết tương quyết định).
Vì vậy ở động mạch, nước có xu hướng khuếch tán từ trong lòng mạch ra tổ chức
xung quanh. Trong tĩnh mạch thì ngược lại, áp suất thủy lực rất thấp và thường có
giá trị nhỏ hơn áp suất keo. Do vậy chiều di chuyển nước tĩnh mạch là từ các dịch
gian bào vào lòng mạch. Chính vì vậy trong những tình trạng suy tim, áp suất thủy
lực giảm hay trong nhiều tình trạng bệnh khác nhau, lượng protein huyết tương
giảm sút làm cho nước lưu lại ở tổ chức nhiều hơn bình thường mà lượng khuếch
tán vào lòng mạch ít đi, gây nên hội chứng phù nề. Do vậy protein cũng có một vai
trò đáng kể trong chuyển hóa và phân bố nước trong cơ thể.
Do có cấu tạo như vậy cho nên trong máu xuất hiện lực ma sát đáng kể khi lưu
8ηA.Q
thông. Ta có thể rút ra: Δp = (13.17)
πR 4
Công thức này đã được vận dụng để giải thích ảnh hưởng của các yếu tố hình
học của mạch máu lên áp suất và tốc độ chảy của máu.
Liên hệ vào hệ tuần hoàn ta thấy độ nhớt của máu quyết định bởi thể tích các
tế bào máu (nhất là hồng cầu) và thành phần các chất trong huyết tương.
Hệ số nhớt riêng của máu là 5. Do có độ nhớt lớn cho nên ma sát trong
chuyển động máu khá lớn, áp suất và tốc độ chảy của máu thay đổi đáng kể. Sự biến
đổi của áp suất chảy Δp và tốc độ chảy v hay của thể tích máu V chảy qua một đoạn
mạch tuân theo công thức Poiseuille. Như vậy có nghĩa là các hồng cầu chuyển

142
động trong máu không những chịu tác dụng của áp suất chảy do tim co bóp và tính
đàn hồi của thành mạch mà còn chịu tác dụng của lực cản do ma sát nữa.
Nếu lấy máu ra ngoài cơ thể và cho vào một ống thủy tinh dựng thẳng đứng
thì hồng cầu có thể lắng đọng dần. Khi lắng như vây hồng cầu chịu tác dụng của 3
lực: trọng lực P, lực đẩy Archimède P' và lực cản nội ma sát F do độ nhớt. Chiều
của lực Archimède và lực nội ma sát ngược với chiều của trọng lực. Lực nội ma sát
tỷ lệ thuận với vận tốc lắng máu v của hồng cầu. Khi hồng cầu lơ lửng không lắng
thi P + P' cần bằng với trọng lực P. Nói cách khác lúc đó tổng đại số các lực tác
dụng trên hồng cầu bằng 0.
P = P' + F hoặc P - P' - F = 0
3 3 4
Thay giá trị của các lực đó ta có: πr ρg - πr3ρg - 6πηvr = 0 (13.18)
4 3
Trong các ống thủy tinh chiều dài không lớn lắm (10 - 20cm) và đường kính
1 - 2mm, có thể coi hồng cầu lắng với tốc độ đều. Tốc độ đó sẽ có giá trị tỷ lệ
nghịch với thời gian lắng của hồng cầu hay tỷ lệ thuận với chiều cao cột huyết
tương nổi lên ở phần trên của ống. Ở người bình thường sau 1 giờ cột huyết tương
cao khoảng 3mm ở nam và 7mm ở nữ. Rõ ràng tốc độ lắng của hồng cầu phụ thuộc
vào các yếu tố bán kính r của hồng cầu, mật độ P của nó, mật độ P' của huyết tương
và hệ số nhớt η của máu. Vì những lý do bệnh lý các yếu tố đó thay đổi làm cho tốc
độ lắng của hồng cầu thay đổi, có khi đến 100mm/giờ. Người ta đã áp dụng việc các
định tốc độ lắng của hồng cầu để đánh giá những thay đổi về thành phần và số
lượng của tế bào máu cũng như của huyết tương...
13.1.4. Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tuần hoàn máu
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tuần hoàn máu. Trước hết là các hoạt động
chủ quan của cơ thể làm tăng quá trình chuyển hóa, các rối loạn bệnh lý ở ngay hệ
tuần hoàn và các hoạt động sinh học khác của cơ thể. ở đây ta chỉ đề cập đến các
yếu tố khách quan, quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của tim, thành
mạch hay khối lượng thể dịch trong cơ thể.
13.1.4.1. Hoạt động của cơ bắp
Trọng lượng của cơ vân chiếm đến 40% trọng lượng cơ thể. Khi cơ hoạt
động mạnh (lao động chân tay ...) nhu cầu năng lượng của nó tăng lên, do đó hệ
tuần hoàn phải tăng cường hoạt động để đáp ứng nhu cầu vật chất và năng lượng.

143
Người ta thấy lúc lao động nhu cầu oxy tăng gấp 8 - 10 lần so với lúc nghỉ. Cơ thể
đáp ứng bằng cách tăng tần số co bóp của tim. Ngoài ra tuần hoàn của mao mạch
cũng thay đổi theo nhu cầu của cơ thể. Trong cơ vân bình thường có một mạng mao
mạch dày đặc, các nghiên cứu chi tiết cho biết 1mm3 cơ chứa đến 3000 mao mạch.
Kích thước của mao mạch rất bé (chiều dài từ 0,2 - 0,4mm và đường kính khoảng
0,007mm). Tốc độ máu ở mao mạch cũng rất chậm 5mm/s. ở cơ vân hoạt động bình
thường chỉ có một lượng nhỏ mao mạch hoạt động tuần hoàn tức là có máu vận
chuyển qua. Số lượng mao mạch hoạt động lúc này chỉ khoảng 200 - 300 mao mạch
trong 1mm3 tổ chức tức dưới 10%. Tùy theo nhu cầu năng lượng và oxy của cơ thể,
lúc cơ hoạt động mạch hơn (lao động) số lượng các mao mạch tham gia vận chuyển
máu sẽ tăng lên. Cơ chế này thực hiện được là nhờ hoạt động cơ trơn nằm ngay
trước mao mạch đó. Thành mao mạch cũng giãn ra hay co vào dưới ảnh hưởng của
áp suất dòng máu và tác dụng của nội tiết tố.
Tuy nhiên sự co rút cơ quá mức có thể gây trở ngại cho sự vận chuyển máu ở
tại cơ đó. Tăng quá trình chuyển hóa khi tăng hoạt động của cơ cũng tạo nên nhiều
sản phẩm mới như acid adrenalic, histamin, acetylcholin...Các sản phẩm mới này
ảnh hưởng đến tính co giãn của thành mao mạch và do đó ảnh hưởng đến sự lưu
thông máu.
13.1.4.2. Ảnh hưởng của trọng trường
Ở tư thế đứng, máu từ động mạch dễ dàng chảy xuống các phủ tạng ở bụng và
các chi dưới nhờ tác dụng phụ của trọng lực. Tuy vậy ở người khỏe mạnh điều đó
không làm thay đổi áp suất máu nhiều ở chi dưới. Nếu từ tư thế nằm chuyển sang tư
thế đứng, nhịp tim bao giờ cũng tăng lên đôi chút để đảm bảo khối lượng máu được
tim đẩy ra trong một đơn vị thời gian là không thay đổi. ở tư thế đứng lượng máu ra
trong một lần co bóp ít hơn tư thế nằm. Cơ chế quá trình này được giải thích theo
định luật Starling là sức đẩy của quả tim tùy thuộc vào độ giãn dài của sợi cơ tim. Độ
giãn đó lại tùy thuộc vào lượng máu chảy từ tĩnh mạch vào tim ở thời kỳ tâm trương.
Lượng máu từ các tĩnh mạch phía dưới tim đổ về tim đã bị giảm bớt phần nào vì tác
dụng của trọng lực. Do đó áp suất máu do tim co bóp sẽ giảm đi. Độ giảm áp suất đó
cân bằng với tác dụng của trọng trường mà dòng máu động mạch chảy từ tim xuống
chi dưới thu nhận được. Cần nhắc lại rằng trong tĩnh mạch của phần dưới cơ thể, máu
chuyển động ngược chiều được với trọng lực là do ở đấy vẫn còn tác dụng của công

144
tim co bóp và thành mạch đàn hồi. áp suất máu giảm dần và thấp nhất ở tĩnh mạch
chủ, nơi máu đổ về tim. Ngoài ra các van trong lòng mạch, áp suất âm của lồng ngực
và các cơ chế điều khiển co thành mạch... cũng đã làm cho máu chỉ chuyển động theo
một chiều nhất định trong tĩnh mạch. Đây là cơ chế rất phức tạp đã hình thành trong
điều kiện sống bình thường trên cơ sở những phản xạ có điều kiện. Chính vì vậy khi
con người ở trong những điều kiện về trường trọng lực bị thay đổi trong vũ trụ, rối
loạn hoạt động của hệ tuần hoàn rất sớm xuất hiện.
13.1.4.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ và môi trường
Nhiệt độ xung quanh tăng lên gây ảnh hưởng trực tiếp đến thân nhiệt. Một
trong những cơ chế tự điều chỉnh thân nhiệt của cơ thể là tăng lưu lượng máu tới bề
mặt da do các mao mạch ở da được giãn rộng ra. Bản thân sự tăng nhiệt độ môi
trường cũng làm giãn các mao mạch ở da. Thực nghiệm trên thỏ ta thấy khi nhiệt độ
xung quanh lên tới 450C lưu lượng máu tối đa tăng lên đến 6 - 7 lần so với lúc ở
nhiệt độ 200C. Để giữ vững áp suất trong máu, cơ thể tự điều chỉnh bằng cách co
mạch ở trong các phủ tạng. Một số phủ tạng chứa một khối lượng máu rất lớn như
gan, lách, phổi. Về phương diện tuần hoàn các phủ tạng đó đóng một vai trò như
những hồ chứa để điều chỉnh lưu lượng máu trong toàn thân thích hợp với nhu cầu
cơ thể. Do những tình trạng bệnh lý nào đó, cơ chế điều chỉnh đó rối loạn nên sự
tăng nhiệt độ môi trường đột ngột có thể gây nên hạ huyết áp tạm thời. Cũng theo
một cơ chế tương tự, khi cơ thể tăng cường hoạt động, nhu cầu máu tối đa tăng lên
(cơ quan tiêu hóa sau khi ăn, não khi lao động trí óc) sẽ có ảnh hưởng đến lưu lượng
máu ở vùng khác nhau trong cơ thể hoặc hoạt động của chính bản thân tim, mạch.
Hoạt động của hệ tuần hoàn liên quan chặt chẽ với các hoạt động chức năng
khác trong cơ thể nhất là chức năng hô hấp. Đánh giá đặc điểm chức năng tuần hoàn
là công việc quan trọng của các nhà sinh học và y học. Dựa vào các đặc điểm hoạt
động của nó, ngày nay có rất nhiều biện pháp theo dõi hoạt động của hệ tuần hoàn.
Người ta có thể đánh giá hoạt động của tim thông qua các dấu hiệu về hiệu suất co
bóp của tim như đo huyết áp và vận tốc máu. Xác định lượng máu do tim đẩy ra qua
một lần co bóp hay trong một đơn vị thời gian... Đánh giá hoạt động của cơ tim, van
tim và của thần kinh tự động bằng cách ghi điện tim có một giá trị rất lớn. Cũng có
thể theo dõi hoạt động của thành mạch trước các tác nhân kích thích làm co hoặc

145
làm giãn mạch. Một đối tượng quan trọng của hệ tuần hoàn là khối lượng toàn bộ
thể dịch trong cơ thể cũng như thể tích và thành phần của máu, của huyết tương...
Thể tích và cấu tạo của máu ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của tim, mạch và toàn
bộ hệ tuần hoàn.
13.2. LÝ SINH HÔ HẤP
13.2.1. Hoạt động hô hấp
Hoạt động hô hấp thực hiện ở cơ quan hô hấp; tuần hoàn máu, mô và tế bào
trong cơ thể.
Cơ quan hô hấp gồm: mũi, hầu, phế khí quản và phổi, đường hô hấp thông từ
mũi đến tận các phế nang.
Phổi là tổ chức xốp tiếp sát với lồng ngực qua các màng phổi, nhờ đó có thể
co giãn theo lồng ngực. Thành phần cấu tạo cơ bản của phổi là phế nang. Phế nang
là những túi nhỏ, rỗng, có khả năng chứa đầy không khí và được cấu tạo bởi lớp tế
bào mỏng. Vì vậy khối khí trong phế nang dễ dàng tiếp xúc với lớp mao mạch ở
xung quanh.
Hoạt động thở bao gồm động tác hít vào và thở ra một cách điều hòa.
Hoạt động hô hấp được điều khiển bởi trung tâm hô hấp của hệ thần kinh trung
ương, cơ chế điều chỉnh rất phức tạp. Tùy theo nhu cầu của cơ thể và các nguyên nhân
khác nhau, nhịp độ thở nồng độ sâu và số lượng phế nang hoạt động được điều chỉnh
qua những xung động thần kinh xuất phát từ trung tâm hô hấp.
13.2.1.1. Cơ chế hít vào
Trong lồng ngực, phổi ở trạng thái giãn căng do tổ chức có tính đàn hồi.
Trong điều kiện cân bằng áp suất ở phế nang (Pn) cân nằng với tổng áp suất khoang
màng phổi (PK) và áp suất gây ra do tính đàn hồi của (PP)
Pn = PK + Pp → PK = Pn - Pp (13.19)
Tức là áp suất khoang nhỏ hơn áp suất phế nang một giá trị bằng áp suất
của phổi.
Áp suất khi quyển tác dụng lên lồng ngực (Pat) cân bằng với tổng áp suất
không (PK) và áp suất gây ra bởi tính đàn hồi của lồng ngực (Pl)
Pat = PK + Pl → PK = Pat - Pl (13.20)

146
Tức là áp suất khoang (PK) nhỏ hơn áp suất khí quyển một giá trị bằng (Pl) áp
suất lồng ngực (Pl). Do đó áp suất khoang thường được coi là giá trị âm nếu coi áp
suất khí quyển bằng 0. áp suất âm ở khoang làm cho lồng ngực ở xu hướng co lại
nghĩa là có xu hướng ngược với sức căng của phổi.
Động tác hít vào thực hiện được nhờ tăng thể tích lồng ngực bằng cách nâng
các xương sườn lên và hạ cơ hoành xuống. Cơ hoành rất quan trọng cho hô hấp vì
đảm bảo cho 2/3 việc thông khí ở phổi.
Thể tích lồng ngực tăng lên trước hết làm giảm áp suất khoang màng phổi,
nhờ đó phổi có thể giãn ra và do vậy (theo đinh lý Bô - Marit) áp suất trong các phế
nang giảm xuống. Sự xuất hiện liệu áp suất giữa khí quyển và phế nang làm cho
không khí di chuyển thành dòng từ màng trở vào phổi.
ΔP
Lưu lượng khí được tính theo công thức: V = (13.21)
R
V- là lưu lượng khí được tính bằng lít/giây
Δ P - Là hiệu áp suất giữa khí quyển và phế nang
R- là sức cản động học của chất khí gây bởi ma sát giữa các dòng khí với
thành đường hô hấp và lực nội ma sát bên trong lòng chất khí.
Sức cản động học của chất khí tăng theo chiều tăng của lưu lượng khí khi
chuyển động từ dòng lớp sang dòng xoáy.
Sự tạo thành dòng xoáy khi trên đường đi chuyển của dòng khí gặp các
chướng ngại vật: như dị dạng, khối u nhỏ trên thành ống, các dịch nhày cản trở sự
chuyển động.
Khi bị hen suyễn sức cản này có thể tăng lên 7-8 lần so với người bình thường.
13.2.1.2. Cơ chế thở ra
Không khí từ phổi được đẩy ra ngoài do thể tích lồng ngực bị giảm xuống.
Điều đó làm tăng áp lực khoang màng phổi các phế nang co lại, làm cho áp suất
không khí trong phế nang tăng lên cao hơn áp suất khí quyển. Do vậy dòng không
khí từ phổi ra ngoài.
Cơ chế làm cho thể tích lồng ngực giảm xuống khi thở ra như sau:
Khi trương lực cơ hít vào giảm đi do tác dụng của các lực đàn hồi của lồng
ngực, của các cơ quan trong lồng ngực bắt đầu giảm xuống. Đó là một quá trình tự

147
nhiên không đòi hỏi phải gắng sức. Ngoài ra còn có một số cơ (cơ liên sườn trong,
cơ bụng…) Khi co làm cho thể tích lồng ngực giảm xuống. Cơ hoành nâng lên cũng
làm cho thể tích lồng ngực hẹp lại rõ rệt. Ngoài ra động tác thở ra còn có vai trò của
lực đàn hồi do phủ tạng trong bụng bị cơ hoành dồn ép xuống tối đa khi hít vào.
Khi lực đàn hồi của phổi cân bằng với áp suất khoang màng phổi thì động tác thở
ra kết thúc. Vì vậy trong phổi còn một lượng không khí chưa được đẩy ra ngoài.
Nhìn chung tác động của các cơ hô hấp lên phổi thực hiện thông qua gián
tiếp sự thay đổi của áp suất khoang, điều đó ảnh hưởng tới áp suất trong các phế
nang. Nếu lồng ngực bị thủng, hoặc bị tràn khí màng phổi sẽ bị xẹp lại, quá trình hô
hấp không xảy ra bình thường nữa dẫn đến tình trạng suy hô hấp.
13.2.2. Sự vận chuyển khí trong cơ thể
13.2.2.1. Sự vận chuyển của khí trong hô hấp tuân theo các định luật vật lý cơ
bản (chủ yếu định luật khuếch tán)
Theo định luật Henry: Lượng khí thâm nhập (khuếch tán) vào chất lỏng tỷ lệ với
áp suất riêng phần của chất khí đó trên bề mặt chất lỏng. Chúng ta biết hệ số khuyếch
tán của khí phụ thuộc vào bản chất khí thành phần trong hỗn hợp khí.
Định luật Đanton phát biểu:
Trong trường hợp khí lý tưởng, tổng các áp suất riêng phần của các chất khí
thành phần bằng áp suất của cả hỗn hợp khí.
n
P= ∑ Pi
i =i
(13.22)

P là áp suất của hỗn hợp khí


- Máu chứa nhiều thành phần vì vậy việc xâm nhập khí vào máu không chỉ
phụ thuộc vào thành phần khí mà còn phụ thuộc vào đặc điểm của máu.
Cecenov khi nghiên cứu sự thẩm thấu của CO2 vào dung dịch thấy lượng khí
hòa tan vào dung dịch tỉ lệ nghịch với nồng độ muối và các chất hòa tan trong đó
(protein, lipit…).
Tác giả tìm được công thức biểu thị mối liên hệ giữa nồng độ C của chất điện
ly trong dung dịch và lượng khí hòa tan S là:
So
lg = K .C (13.23)
S
Trong đó:
S0 là lượng khí hòa tan vào nước
S là lượng khí hòa tan vào dung dịch có chất điện ly ở nông độ C, K hằng số.

148
13.2.2.2. Sự phụ thuộc và áp suất riêng phần của các khí thành phần
Người ta đo đạc thấy áp suất trung bình trong phế nang lúc hít vào tương
đương với áp suất khí quyển là 1 átmôtphe. Tuy nhiên ở nhiệt độ 370 C của cơ thể
với điều kiện bão hòa hơi nước, hơi nước trong phế nang luôn luôn có một áp suất
riêng phần khoảng 47 Tor. Vì vậy áp suất tổng cộng của N2, O2 ,CO2 trong phế
nang còn là: 760 - 47 = 713 (Tor)
Ta biết trong không khí cũng như trong phế nang các thành phần khí chiếm
tỷ lệ: N2: 80,7%, O2:13,8% và CO2 là 5,5%
Nên áp suất riêng phần trong phế nang là: PN 2 = 731 x 80,7% = 575 tor

PO2 = 731 x 13,8% = 48 tor

PCO2 = 731 x 5,5% = 39 tor

Nếu xét riêng về khuếch tán đơn thuần thể tích khí được tính theo công thức
K .Pn
V= (13.24)
P
K- hệ số khuếch tán của các khí CO2, O2 và N2 vào huyết tương có giá trị
khác nhau. Chẳng hạn với máu K CO = 0,07; K O = 0,023; K N = 0,013
2 2 2

Ta có thể tính được thể tích mà chất khí xâm nhập vào máu theo quy tắc
khuếch tán đơn thuần như sau:
0,47.39
VCO2 = = 0,0241(ml )
760
0,023 × 99
VO2 = = 0,0030 (ml)
760
0,013 × 575
VN 2 = = 0,0098 (ml)
760
Do hiện tượng khuếch tán và các hiện tượng sinh học khác. Các chất khí N2,
O2, CO2 thâm nhập vào các nơi trong cơ thể có giá trị khác nhau. Kết quả đo đạc áp
suất riêng phần của chất khí trong cơ thể được trình bày theo bảng sau:
Bảng 1: Áp suất riêng phần của CO2, O2 và N2 (Đơn vị tính là Tor)
Máu ở động Máu ở tổ
Chất khí Phế nang Máu ở phổi
mạch chủ chức
O2 99,8 99 38 20 - 40
CO2 39 39,6 45- 48 53 - 76
N2 571 550 550

149
Theo định luật Henry chúng ta hiểu được chiều vận chuyển của O2 và CO2
trong cơ thể. Do chênh lệch áp suất O2 được khuếch tán từ phế nang (phân áp là
99,8 tor) đến máu ở các mao mạch của tĩnh mạch là 38 tor. Máu đã mang O2 đi đến
các tế bào mô ở khắp cơ thể.
13.2.3. Vai trò của máu đối với sự trao đổi khí
Trong quá trình trao đổi khí ngoài quy luật vật lý (do chênh lệch áp suất) còn
do ảnh hưởng của các yếu tố hóa lý khác trong cơ thể sinh học và người ta thấy vai
trò của máu đóng vai trò quan trọng.
13.2.3.1. Vai trò của máu được vận chuyển O2
Hồng cầu là yếu tố chính trong vận chuyển O2. Hồng cầu gồm các phân tử
Hemoglobin (Hb). Mỗi phân tử Hemoglobin có trọng lượng 67.000 chứa 4 gốc Hem.
Trong cấu trúc gốc của Hem có một nguyên tử Fe ở giữa. Mỗi nguyên tử Fe này có
khả năng kết hợp với mặt phân tử O2 nghĩa là mỗi phân tử Hb có khả năng kết hợp
với phân tử O2 để tạo thành phức hợp Oxyhemoglobin (HbO2) có thể viết:
Hb + O2 = HbO2 (13.25)
Phản ứng này là thuận nghịch và trong mao mạch của mô, với điều kiện áp
suất từng phần của oxy thấp, phức hợp HbO2 bị phân giải lúc áp suất O2 cao phản
ứng xảy ra theo chiều thuận.
Sự liên kết và phân ly của ô xy với Hemoglobin là phụ thuộc vào nồng độ
oxy và nồng độ CO2. Khi CO2 phản ứng với nước sẽ tạo thành axit cacbonic H2CO2.
Vì vậy khi nồng độ CO2 tăng cao thì độ axit của máu sẽ tăng thêm, khả năng của
Hemoglobin liên kết với oxy lúc đó sẽ giảm đi.
Trong máu động mạch của người áp suất oxy bằng 100mmHg và trong
100ml máu có khoảng 19ml oxy.
Trong máu tĩnh mạch áp suất oxy bằng 39 tor, trong 100ml máu chỉ chứa 12
ml O2 và 7ml O2 đã cung cấp cho các mô. Vì rằng cứ trong 1 phút có khoảng 5 lít
máu chảy qua mô nên cơ thể trong thời gian đó đã thu nhận được 350 ml O2 ở trạng
thái tĩnh, các tế bào của cơ thể cần phải nhận 250 ml O2 trong 1 phút còn khi lao
động chân tay thì yêu cầu ô xy tăng lên 10- 15 lần.

150
13.2.3.2. Vai trò vận chuyển CO2 của máu
Nếu theo cơ chế khuếch tán đơn thuần thì thể tích khí CO2 chỉ khoảng 2,4
ml/ 100ml máu thực tế máu ở tĩnh mạch chứa tới 52% CO2 (52 ml/100ml máu).
Qua nghiên cứu cụ thể cho thấy có khoảng 2- 10% lượng CO2 đã kết hợp với Hemoglobin
để trở thành Cacbohemoglobin (HbCO2), còn hầu hết ở H2CO3 theo phản ứng:
CO2 + H2O ↔ H2CO3 (13.26)
Đây là phản ứng thuận nghịch, chiều của phản ứng tùy thuộc nhiều yếu tố
như áp suất riêng phần CO2 tại chỗ, tác dụng của men, độ pH….
Tại mô, phản ứng trên xảy ra theo chiều từ trái sang phải tạo nên H2CO3 kết
hợp với muối cácbonat, phosphat trong máu thành những hợp chất dễ phân ly, ở
phổi Hb có tác dụng như một acid yếu sẽ phân ly H2CO3 thành CO2 và H2O để đẩy
ra ngoài. Các quá trình này tùy thuộc vào phân áp các khí ở tại chỗ.
13.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình trao đổi khí
13.2.4.1. Yếu tố bên trong
Mọi hoạt động thở, lưu thông khí, hoạt động của các phế nang đều ảnh
hưởng đến hô hấp.
Ảnh hưởng của tuần hoàn như sự thay đổi về khối lượng và chất lượng máu
(kể cả hồng cầu và huyết tương) đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận chuyển O2 và
CO2. Hoạt động chuyển hóa ở tế bào, mô làm cho tốc độ sử dụng O2 và sản sinh
CO2 khác nhau.
Tất cả các yếu tố đó đến ảnh hưởng tới hô hấp. Mọi hoạt động chức năng của
con người đều liên quan chặt chẽ đến hô hấp.
13.2.4.2. Các yếu tố bên ngoài
- Ảnh hưởng của trọng trường
Khi hô hấp, lực cản của khí liên quan tới trường hấp dẫn của trái đất và sẽ
thay đổi theo giai đoạn của chu kỳ hô hấp và vị trí của cơ thể trong không gian.
Ở trên mặt đất, khi hít vào trọng lượng lồng ngực sẽ gây ra lực cản, các cơ hít
vào thở ra, chính nhân tố này làm giảm thể tích lồng ngực. Trọng lực của cơ quan trong
ổ bụng (ở tư thế đứng) sẽ tác động lên cơ hoành và có xu hướng kéo nó xuống dưới
điều đó tạo điều kiện cho động tác hít vào, cản trở động tác thở ra.

151
- Ảnh hưởng của tỷ lệ khí thành phần
Như ta đã biết oxy rất cần cho cơ thể, cơ thể bình thường thích nghi với áp
suất khoảng 100 tor, CO2 có tác dụng kích thích hô hấp. Do vậy cơ thể đòi hỏi
không khí có hàm lượng O2 và CO2 bình thường.
Nếu hàm lượng oxy tăng lên tới 50% thì cơ thể có thể còn chịu được nhưng
nếu chỉ thở đơn thuần O2 cơ thể sẽ rối loạn nghiêm trọng và có thể tử vong.
- Ảnh hưởng của áp suất khí quyển
Khi nên cao thì áp suất khí quyển giảm và các phân áp khí thành phần cũng
giảm điều đó dẫn đến tình trạng thiếu oxy trong cơ thể. Để đáp ứng hệ hoạt động hô
hấp của cơ thể tăng lên hoặc cơ thể bị rối loạn tùy theo mức độ.
Khi lặn xuống sâu áp suất của nước tác động lên lồng ngực tăng dần. Do đó
ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của cơ thể. Người ta tính toán rằng chiều sâu tối đa
của người có thể hoạt động bình thường khi ở độ sâu 35m, còn sâu 90m chỉ chịu
được 1-2 giờ. Tuy vậy, nếu từ độ sâu đó đột ngột ngoi lên cao mà không có biện
pháp bảo vệ sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Đó là hiện tượng tạo các bọt khí trong
lòng mạch máu nhất là mạch máu nhỏ ở tim, não. Cơ chế phát sinh các bọt khí trong
tai biến này như sau: ở dưới nước sâu con người chịu một áp suất lớn hơn 1at. Các
khí khuếch tán vào máu tăng lên tỷ lệ với áp suất cao đó. Ví dụ, ở áp suất bình
thường trong 1ml máu có 0,0098ml khí Nitơ khi lặn xuống sâu 40m cơ thể chịu áp
suất là 5at và do đó hàm lượng Nitơ khuếch tán vào máu sẽ tăng gấp 5 lần so với
mức bình thường. Nếu sau đó đột ngột ngoi lên mặt nước, lượng Nitơ trong máu sẽ
giảm dần tùy theo áp suất do độ sâu gây ra, phần khí còn lại sẽ nhanh chóng trở về
dạng khí, các khí đó chưa kịp thấm ra ngoài để khuếch tán đi ra và sẽ tạo thành các
bọt khí trong lòng mạch. Vì vậy biện pháp quan trọng là phải giảm áp suất từ từ
bằng cách ngoi lên dần dần hoặc dùng các thiết bị để làm giảm dần áp suất khí xung
quanh cơ thể mặc dù đã lên bờ.
Tóm lại sự trao đổi khí trong cơ thể tuân theo các quy luật động học chất khí
và chịu tác dụng trực tiếp của nhiều quy luật sinh học phức tạp. Chức năng hô hấp
liên quan chặt chẽ với các chức năng khác và chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều
kiện ở môi trường bên ngoài.

152
153
Chương 14
ỨNG DỤNG CỦA SÓNG ÂM VÀ SIÊU ÂM TRONG Y HỌC

14.1. ỨNG DỤNG CỦA SÓNG ÂM


14.1.1. Nguồn phát âm
Có nhiều phương pháp tạo nên âm thanh, nhưng phổ biến hơn cả là làm cho
một vật rắn một màng căng hoặc một dây căng thẳng thực hiện dao động đàn hồi.
Tần số dao động âm tạo ra ở dây có thể tính theo công thức:
1 P
f= (14.1)
2L M
Trong đó:
f là tần số âm
L là chiều dài của dây căng
M là khối lượng một đơn vị của chiều dài dây
P là lực căng của dây
Ở động vật, cơ quan phát âm quan trọng nhất là thanh quản với các dây âm
thanh. Tiếng nói đối với con người đặc biệt quan trọng, nó thuộc về hệ thống tín
hiệu thứ hai, hình thành trong quá trình lao động sáng tạo và phát triển về cấu tạo
của cơ thể con người, nó là công cụ thể hiện và truyền bá tư duy. Tiếng nói là âm do
con người phát ra, tuy vậy con người còn hiểu biết quá ít về cơ chế phát âm của
mình. Có các giả thuyết sau giải thích sự phát âm ở người:
- Thuyết cơ đàn hồi còn gọi là thuyết cơ học: hai dây âm thanh là bộ phận
phát âm chủ yếu, chúng có cấu tạo đặc biệt và có thể điều hoà được độ căng. Hai
dây đó có xu hướng nằm song song và khép kín vào nhau. Khi phát âm, không khí
được đẩy từ dưới phổi lên với một áp suất nhất định. Luồng khí đi qua khe hẹp của
dây âm thanh làm dây rung lên. Thần kinh trung ương chỉ huy mức độ căng của dây
và do đó chỉ huy tần số dao động của dây. Tần số sóng âm phát ra tính theo công
thức (14.1). Khá nhiều hiện tượng sinh lý liên quan đến sự phát âm không giải thích
được bằng thuyết này.
- Giả thuyết luồng thần kinh của Housson: Dây âm thanh có khả năng dao
động với các tần số khác nhau. Tuy vậy tần số dao động đó không phải tuỳ thuộc
vào độ căng của dây và áp lực luồng khí mà do chính luồng thần kinh đến dây âm

154
thanh quyết định. Nói một cách khác dây âm thanh đáp ứng theo nhịp kích thích của
thần kinh trung ương, nhịp kích thích đó quyết định tần số dao động âm. Người ta
thấy trung tâm phát ra các xung động thần kinh tạo âm thanh có nhịp điệu (bài ca) là
vùng đồi thị ở vỏ não, tạo tiếng nói ở vùng trung não.
Dựa vào lý thuyết này, người ta có thể đánh giá xếp loại giọng ca của một
người theo khả năng đáp ứng kích thích của dây thấn kinh quặt ngược của dây X, là
dây thần kinh liên quan đến cơ quan phát âm. Khả năng đáp ứng kích thích thường
được đánh giá bằng thời trị (chronaxi). Tần số tối đa của một người có thể phát ra
được tính theo công thức :
1000
fM = (14.2)
k.c
Trong đó: k là hệ số tỷ lệ
c là thời trị của dây thần kinh quặt ngược
fM là tần số tối đa của âm có thể phát ra
- Ngày nay người ta thấy cấu tạo của dây âm thanh rất đặc biệt. Niêm mạc
của nó rất loãng, lỏng lẻo và không dính chặt vào tổ chức dưới đó. Vì vậy một dao
động có thể xuất hiện ở từng bộ phận dưới, trên và ngay ở dây âm thanh. Những tìm
tòi này bổ sung cho hai quan điểm cơ học và thấn kinh ở trên về cơ chế phát âm.
Ta cũng cần nhấn mạnh rằng các xoang cộng hưởng đóng vai trò khá quan
trọng, chúng quyết định âm sắc của tiếng nói nguời. Khi phát nguyên âm như a,
o ,u... thì xoang cộng hưởng chia ra hai phần tạo thành hai tần số cộng hưởng khác
nhau. Khi phát phụ âm thì âm thanh sinh ra còn nhờ sự ma sát qua kẽ răng, các khe
giữa lưỡi và vòm hầu. Nhiều khi các âm phát ra không phải do dây âm thanh rung
động mà các hốc ở xương mặt đóng vai trò quan trọng ta gọi là xoang mũi (khi
ngâm nga, nói thầm).
14.1.2. Cơ chế của quá trình nghe
Khi sóng âm truyền đến tai ngoài, sự thay đổi áp suất do dao động làm cho màng
nhĩ rung động theo. Rung động của màng nhĩ làm màng căng trên cửa sổ bầu dục
của rung động theo thông qua hệ thống xương con (xương:búa, đe, bàn đạp) ở tai
giữa. Dao động của các phần tử ở cửa sổ bầu dục làm chuyển động dịch chứa trong
ốc tai.

155
Trong quá trình lan truyền sóng âm, hệ thống xương con đóng một vai trò rất
quan trọng. Nó vừa có tác dụng khuếch đại áp lực âm thanh vừa bảo vệ tai trong
trước những âm có cường độ lớn.

Để khuếch đại được áp lực âm thanh, hệ xương con hoạt động như một đòn bẩy
r1
(hình 14.1). Hệ số giữa hai cánh tay đòn ở hệ đòn bẩy này là = 1,3. Ta thấy, nếu tại
r2
r1
cửa sổ bầu dục có lực tác dụng F2 và lực F1 tác dụng ở màng nhĩ, thì F2= .F1
r2

Ngoài ra diện tích S2 của cửa sổ bầu dục nhỏ hơn 17 lần so với diện tích S1
của màng nhĩ. Vì vậy áp suất tác dụng lên cửa sổ bầu dục sẽ lớn hơn 17 lần áp suất
không khí (do dao động âm) tác dụng lên màng nhĩ. Tổng hợp lại ta có áp suất lên
dịch ở phía sau cửa sổ bầu dục sẽ lớn hơn áp suất lên màng nhĩ từ phía tai ngoài: 17
x 1,3 = 22 lần. Người ta cho rằng dù bị hao hụt năng lượng do ma sát sự khuếch đại
đó cũng còn đạt được rất lớn, gần 20 lần.

Âm trở của màng nhĩ phụ thuộc vào tần số sóng âm tác dụng nhưng nhìn
chung có giá trị gần bằng âm trở của không khí là 4,3.102 kg/s. Âm trở của cửa sổ
bầu dục bằng âm trở của ngoại dịch perilympho giáp nó, tức là gần như âm trở của
nước, có giá trị là 1,5.106 kg/m2s.

Như thế nghĩa là nếu như không có hệ xương con mà sóng âm trực tiếp từ tai
ngoài tác dụng vào cửa sổ bầu dục thì 99,9% năng lượng sóng âm bị phản xạ mà chỉ
còn khoảng 0,1% được lan truyền vào đến ngoại dịch perilympho. Hệ thống xương
con như vậy đóng một vai trò quan trọng trong việc dẫn truyền các sóng âm. Nó
loại trừ hao hụt do sự phản xạ sóng âm ở mặt ngăn cách giữa 2 môi trường có âm
trở (sóng trở) khác nhau

Tác dụng bảo vệ tai trong của hệ xương con khi gặp những âm có cường độ
lớn là nhờ hệ thống dây chằng giữ hệ xương con (điểm tựa của đòn bẩy) co giãn
giảm chấn động.

156
búa đe bàn đạp

điểm tựa

tay đòn 2

tay đòn 1 cửa sổ bầu


dục

màng nhĩ

ốc tai

Hình 14.1 Cấu trúc tai người

Quá trình tiếp nhận và cảm thụ âm thanh ở tai trong xảy ra phức tạp hơn nhiều..
Những nghiên cứu của Helmholtz và đặc biệt công trình nghiên cứu cơ chế cảm thụ
âm thanh của Bekesy gần đây đã làm sáng tỏ hơn cơ chế lý sinh thính giác. (Nhờ
công trình nghiên cứu công phu này, George von Bekesy đã nhận được giải thưởng
Nobel vào năm 1961)

Hình 14.2 Sơ đồ thiết diện ngang ốc tai


1. Kênh tiền đình 2. Kênh màng nhĩ 3. Kênh ốc tai
4. Màng tiền đình 5. Màng đáy 6. Thể Corti
7. Màng phủ 8. Thần kinh thính giác

157
Cấu tạo chính của tai trong là ốc tai. ốc tai có chiều dài khoảng 35 mm cuộn
theo hình ốc khoảng 2,75 vòng (hình 14.1). Bên trong ốc tai dọc theo chiều dài đó
có 3 kênh chứa dịch (English –"canal" hoặc thuật ngữ giải phẫu khác là "scala") và
được ngăn cách nhau bằng những màng (hình 14.2). Kênh tiền đình bắt đầu từ cửa
sổ bầu dục và thông với kênh màng nhĩ qua một lỗ nhỏ ở đỉnh của ốc tai, kênh
màng nhĩ từ đó dẫn tiếp đến cửa sổ tròn. Dịch perilympho chứa trong hai kênh này
còn gọi là ngoại dịch. Kênh ốc tai không thông với kênh nào, dịch endolympho
chứa trong kênh ốc tai còn gọi là nội dịch. Màng đáy ngăn cách giữa kênh màng nhĩ
và kênh ốc tai. Màng trước ngăn cách kênh ốc tai và kênh tiền đình. Màng đáy được
cấu tạo bởi một hệ vòng xoắn gọi là thể Corti bao gồm các cơ quan cảm thụ của tế
bào thần kinh thính giác.

Theo lý thuyết của Bekesy, dao động của cửa sổ bầu dục làm cho ngoại dịch
perilympho dưới đó chuyển động xoáy do các kênh đi theo hình ốc . Chính những
chuyển động xoáy này làm cho áp suất dịch perilympho lên màng tiền đình dọc theo
chiều dài kênh tiền đình khác nhau. Áp suất này truyền tới dịch endolympho trong
kênh ốc tai, truyền tiếp tới màng đáy và làm màng đáy "gợn sóng". Màng đáy chịu
những tác dụng áp suất khác nhau theo chiều dài của nó và bằng một cơ chế phức
tạp, thể Corti phân tích được tần số âm thanh (hình 14.3)

Mỗi sóng âm với một tần số nhất định tác dụng vào một vị trí xác định trên
màng đáy và kích thích những receptor nhất định ở thể Corti. Âm có tần số càng cao
thì vị trí kích thích càng gần cửa sổ bầu dục, ở đó màng rất căng và hẹp. Âm càng
có tần số thấp thì kích thích các vị trí càng gần với đỉnh ốc tai.

158
Thần kinh ốc tai
Cửa sổ
bầu

Kênh tiền đình


Kênh ốc tai
Kênh màng nhĩ
Màng phủ

Thể Corti
Màng tiền đình
Màng đáy

Màng nhĩ Cửa sổ

Hình 14.3 Sơ đồ quá trình cảm thụ âm thanh ở tai


(ốc tai được phóng đại và được hình dung ở dạng kéo duỗi ra)

Bằng cơ chế đó, tai phân tích tần số sóng âm thành các xung kích thích. Các
xung kích thích được mã hoá và truyền về một vị trí nhất định ở vỏ não bởi những
tơ thần kinh xác định. Với những âm phức hợp thì tạo ra sự kích thích ở nhiều điểm
hơn và do vậy gây ra cảm giác khác nhau về âm sắc.

Cho đến nay người ta chưa hiểu rõ hết bản chất của quá trình mã hoá các
sóng xung kích thích của âm để dẫn truyền vào các tế bào thần kinh thính giác. Các
nghiên cứu về điện sinh học ở cơ quan thính giác xác nhận rằng cơ chế của quá
trình mã hoá thông tin ở đây cũng là làm xuất hiện điện thế hoạt động, ở đây người
ta gọi là các điện thế âm thanh. Điện thế âm thanh quyết định cả tần số và cường độ
âm. Ngày nay bằng các vi điện cực người ta đã ghi đo được giá trị của các điện thế
âm thanh đó. Điện thế âm thanh là kết quả của tất cả các quá trình xảy ra ở ốc tai
khi tiếp nhận âm. Một điều đáng chú ý là hiệu điện thế giữa endolympho và
perilympho có giá trị khoảng 80mV.

159
14.1.3. Cơ sở vật lý của phương pháp âm trong chẩn đoán
14.1.2.1. Chẩn đoán gõ
Khi gõ vào các vị trí tương ứng của các tạng (tim, phổi, gan ...) trên lồng
ngực hay trên thành bụng, các tạng này sẽ dao động và phát ra âm. Dựa vào âm phát
ra chúng ta có thể xác định được vị trí, kích thước của chúng, có thể xác định được
chúng bình thường hay có bệnh.
Ta có thể dùng ngón tay hay một dùi nhỏ gõ trực tiếp trên da bệnh nhân, ở
vùng tương ứng với các phủ tạng cần chẩn đoán. Phương pháp này ít dùng vì những
chấn động gõ thựờng bị tắt dần sau khi qua lớp da, mô cơ... do đó chúng ta chỉ làm
cho các tạng đó dao động với biên độ nhỏ, âm các tạng phát ra nhỏ quá khó nghe.
Chúng ta thường gõ qua ngón tay hoặc qua thanh gỗ mỏng đặt sát vào nơi
muốn gõ. Tuỳ theo bệnh nhân và yêu cầu cần chẩn đoán, chúng ta phải gõ với mức
độ mạnh nhẹ khác nhau : gõ mạnh đối với bệnh nhân quá béo, với trẻ em phải gõ
nhẹ. Thường chúng ta gõ với mức độ trung bình vì gõ như thế cũng đủ làm cho các
tạng ở sâu dưới da 5 cm dao động và dao dộng này có thể lan truyền trên một diện
tích 4 đến 6 cm2. Khi muốn tìm giới hạn của một tạng nào đó hay nghiên cứu một
phần của tạng đó, cấn phải gõ nhẹ.
Âm phát ra khi gõ cần phải phân tích một cách tỷ mỉ về cường độ, độ cao,
âm sắc... như thế mới nhận được các thay đổi nhỏ của âm, phân biệt được các tr-
ường hợp bệnh lý và bình thường. Thí dụ như âm phát ra khi gõ vào phổi của một
người bình thường có tần số cao, âm sắc phong phú (có nhiều họa âm) cường độ lớn,
thời gian dư âm dài.
Âm phát ra khi gõ những tạng đặc hoặc phổi bị vôi hóa, màng phổi bị tràn
dịch,... có tần số thấp (tiếng nghe đục), cường độ nhỏ, thời gian dư âm ngắn. Còn
âm ở ổ bụng, dạ dày phát ra có tần số cao song âm sắc nghèo nàn (hầu như không
có họa âm).
14.1.2.2. Chẩn đoán nghe
Đó là phương pháp nghiên cứu những âm từ cơ thể phát ra như của tim, phổi
để định bệnh.
Các âm từ cơ thể phát ra thường có tần số không vượt quá 1000 Hz. Âm ở
phổi do không khí qua lại khí quản, cuống phổi và mô phổi sinh ra. Cường độ của
âm này mạnh hay yếu là do hô hấp nông hay sâu, độ cao của âm tỷ lệ nghịch với tiết

160
diện khí quản, cuống phổi. Khi khí quản, cuống phổi bị hẹp hay chứa các dịch nhầy
do một quá trình bị bệnh nào đấy thì âm phổi sẽ thay đổi; có thể dựa vào sự thay đổi
đó mà chẩn đoán bệnh.
Âm phát ở tim ra biến đổi do nhiều yếu tố: tình trạng các van tim, vận tốc
của máu, độ nhớt của máu, miệng của các van (tức là các lỗ trong tim mà các van
đó đậy lại)… Bảng 14.1 cho biết liên hệ giữa tần số và tỷ lệ năng lượng của âm phát
ra từ một tim bình thường.
Bảng 14.1
Tần số Năng lượng
50 - 60 Hz 56%
60 - 70 Hz 27%
70 - 80 Hz 10%
80 - 90 Hz 4%
90 - 100 Hz 2%
100 - 110 Hz 1%

Để nghe các âm phát ra từ trong cơ thể, người ta dùng ống nghe (stétoscope).
ống nghe gồm 2 dây cao su mềm hình trụ có tác dụng truyền âm nối với một hộp
bằng sắt hình trụ bẹt, mặt có căng một màng mỏng đóng vai trò một hộp cộng
hưởng. Hộp cộng hưởng có khi là một loa hình phễu không có màng căng. Mặt của
hộp cộng hưởng đặt áp sát da (nơi muốn nghe), dao động âm của cơ thể truyền tới
được hộp này khuếch đại, sau đó những dao động này sẽ qua các dây truyền âm để
tới tai.
Tần số dao động riêng của màng tỷ lệ thuận với độ căng của màng. Các dao
động âm từ cơ thể tới màng sẽ làm màng dao động mạnh nhất (cộng hưởng) nếu tần
số của chúng trùng với tần số dao động riêng của màng.
Nếu dùng loa để nghe, thì chỗ da bệnh nhân bị loa ép vào sẽ căng ra và đóng
vai trò của một màng căng. Chúng ta có thể điều chỉnh sức ép của loa vào da để độ
căng của màng da đó có tần số dao động riêng trùng với tần số của âm muốn nghiên
cứu, nhờ đó chúng ta có thể nghe âm này rõ hơn âm khác. Thường còn dùng cách
này khi âm muốn nghiên cứu bị các âm khác che lấp.

161
14.1.2.3. Phép thử Rinner
Mục đích phép thử này để xác định tổn thương ở vùng nào của cơ quan thính
giác: ở tai ngoài, tai giữa tai trong hoặc não.
Phép thử này dựa vào nhận xét như sau: những dao động âm có thể truyền
qua xương sọ tới những tận cùng của thần kinh thính giác … và cho chúng ta cảm
giác âm; do đó dù rằng tai ngoài và tai giữa hỏng rồi âm vẫn truyền qua xương và
gây cảm giác được.
Nếu ta đặt một âm thoa đang dao động gần tai bệnh nhân sau đó để bệnh
nhân cắn đuôi âm thoa đó (dao động của âm thoa lúc này cũng có biên độ giống lúc
trước). Nếu lúc đầu bệnh nhân còn nghe được âm, lúc sau không nghe được thì dấu
hiệu Rinner là dương, nếu ngược lại ta có dấu hiệu Rinner âm.
Một chứng điếc có dấu hiệu Rinner dương chứng tỏ một tổn thương tai trong
hoặc não. Nếu dấu hiệu Rinner âm thì tổn thương khu trú ở tai ngoài hay tai giữa.
14.2. ỨNG DỤNG CỦA SIÊU ÂM
14.2.1. Nguồn phát siêu âm
Nguyên lý chung để tạo ra sóng âm là làm cho một vật rắn, một màng căng
hay một dây căng dao động đàn hồi. Nhưng để tạo ra sóng siêu âm, dao động đàn
hồi phải có tần số trên 20 000 Hz nhờ vào nguồn dao động đặc biệt như dao động
của tinh thể thạch anh, tinh thể Niken...
Có hai cách phát siêu âm: + Dựa vào hiệu ứng áp điện nghịch.
+ Dựa vào hiện tượng từ giảo.
14.2.1.1. Nguồn phát siêu âm dựa vào hiệu ứng áp điện nghịch
Một bản thạch anh được cắt song song với trục lục giác và vuông góc với
quang trục tạo thành một bản thạch anh áp điện. Người ta mạ hai mặt của bản để tạo
thành một tụ điện hoặc kẹp nó vào giữa hai bản của một
tụ điện phẳng.
Khi nối hai bản điện cực với nguồn điện một
chiều bản thạch anh bị biến dạng cong về một bên, khi
đổi chiều dòng điện thì bản thạch anh bị cong ngược lại.
Hình 14.4

162
Khi ta thay nguồn điện một chiều bằng nguồn xoay chiều có tần số lớn thì bản thạch
anh sẽ liên tục bị biến dạng theo tần số của dòng điện và phát ra siêu âm khi tần số
trên 20 000Hz. Siêu âm phát ra có cường độ mạnh nhất khi tần số dao động điện tác
dụng vào bản thạch anh phù hợp với tần số dao động riêng của bản thạch anh. ở đây
năng lượng của nguồn điện đã biến thành năng lượng cơ học dưới dạng siêu âm lan
truyền vào môi trường xung quanh với tần số có thể lên đến 50MHz.
14.2.1.2. Nguồn phát siêu âm dựa vào hiện tượng từ giảo
Một thanh sắt từ hoặc một thanh kền khi bị
từ hoá thì độ dài của nó sẽ ngắn đi chút ít, đó là
hiện tượng từ giảo.
Đặt một thanh sắt từ vào trong lòng một
cuộn dây đã nối với một nguồn điện một chiều. Do
Hình 14.5
hiện tượng từ giảo làm độ dài của thanh sắt từ ngắn
đi một ít. Khi ngắt dòng điện, từ trường trong lòng cuộn dây không còn làm chiều
dài của thanh sắt từ trở về bình thường. Khi nối cuộn dây với nguồn
Điện xoay chiều có tần số cao. Từ trường trong lòng cuộn dây biến thiên liên
tục với tần số bằng tần số của dòng điện xoay chiều.
Do hiện tượng từ giảo, thanh sắt từ có chiều dài dao động gấp đôi tần số dao
động của dòng điện và sẽ phát ra siêu âm khi tần số > 20 000Hz. Siêu âm phát ra có
cường độ mạnh nhất khi dao động của dòng điện phù hợp với dao động riêng của
thanh sắt từ. Nguồn phát siêu âm loại này có thể lên đến 1000MHz.
14.2.2. Ứng dụng của siêu âm trong y học
Ngày nay, kỹ thuật siêu âm đã có mặt và phát huy tác dụng trong mọi lĩnh
vực khoa học, kỹ thuật và đời sống như: trong ngành hàng hải và địa chất (các thiết
bị thăm dò độ sâu của đại dương, dò tìm đá ngầm, phát hiện các luồng cá, các thiết
bị liên lạc dưới nước.... bằng siêu âm), trong quân sự và quốc phòng (các loại mìn,
thuỷ lôi siêu âm, các thiết bị dò tín hiệu, phát hiện và theo dõi mục tiêu....), trong
lĩnh vực công - nông nghiệp (các thiết bị kiểm tra chất lượng, tìm khuyết tật của sản
phẩm, các máy khoan hàn và gia công vật liệu cứng như kim cương, đá quý.... đặc
biệt là phương pháp sấy siêu âm tỏ ra ưu việt), các ngành công nghiệp thực phẩm,
hoá dược, thông tin liên lạc.... cũng đã quen thuộc với các thiết bị siêu âm.

163
Đặc biệt trong lĩnh vực y học, sóng siêu âm ngày càng được ứng dụng rộng
rãi trong chẩn đoán và điều trị.
14.2.2.1. Ứng dụng của siêu âm trong điều trị
Khi tác dụng lên các tế bào và các tổ chức sống, siêu âm gây ra 3 hiệu ứng:
cơ học, nhiệt học và hoá học. Các hiệu ứng này làm thay đổi tính chất và chức năng
sinh lý của các tổ chức trong cơ thể. Đó chính là cơ chế của các liệu pháp điều trị
trong kỹ thuật siêu âm.
* Hiệu ứng cơ học
- Sóng siêu âm khi tác động vào một môi trường vật chất sẽ gây ra tại chỗ
những biến đổi áp lực và dịch chuyển các phần vật chất xung quanh vị trí cân bằng
của chúng, làm nén giãn môi trường. Ở vùng giãn liên kết của các phần tử có thể bị
đứt gãy. Người ta gọi đó là hiện tượng tạo lỗ vi mô.
- Đặc biệt là với chùm siêu âm có cường độ vừa và nhỏ (<20kW/m2) khi tác
động lên tổ chức sinh học siêu âm làm tăng tính thẩm thấu của màng tế bào và sự
dịch chuyển của bào tương, làm các tổ chức nông của cơ thể bị chấn động nhẹ, đó là
một cách xoa bóp tế vi, một tác dụng rất quý trong điều trị viêm tế bào.
- Với chùm siêu âm có cường độ mạnh khi tác động vào tế bào có thể làm
rách màng tế bào, biến dạng nhân, do đó có thể phá huỷ tế bào, ứng dụng trong
chống đông máu, diệt trùng. Ngày nay người ta còn dùng siêu âm có cường độ
mạnh để phá huỷ tổ chức trong sâu như sỏi thận, u tuyến, lấy cao răng, hay sử dụng
trong phẫu thuật thần kinh với ưu điểm là làm giảm đau, không gây chảy máu tránh
được nhiễm trùng và có độ chính xác cao.
- Với những chất lỏng không trộn lẫn vào nhau được như nước và dầu, nước
và thuỷ ngân, sóng siêu âm có thể làm đứt gãy liên kết giữa các phân tử và làm cho
chúng hoà vào nhau được. Dựa vào đó người ta chế tạo ra các loại nhũ tương, các
khí dung với những hạt có kích thước bé.
* Hiệu ứng nhiệt
Khi chùm siêu âm truyền qua một môi trường vật chất, một phần năng lượng
của chùm siêu âm bị môi trường vật chất hấp thụ. Phần lớn năng lượng mà môi
trường vật chất hấp thụ biến thành nhiệt năng làm cho môi trường vật chất nóng lên.
Hiện tượng này xảy ra nhiều nhất ở các mặt ngăn cách giữa hai môi trường có mật

164
độ khác nhau, đây chính là tác dụng nhiệt của sóng siêu âm.Do vậy khi chùm siêu
âm tác động lên cơ thể con người, hiệu ứng nhiệt gây giãn mạch, tăng cường dinh
dưỡng, giảm đau có tác dụng điều trị chống teo cơ, chống co thắt cơ, chống viêm,
chống đau dây thần kinh, đau khớp.
* Hiệu ứng hoá học
Sóng siêu âm có thể gây ra các phản ứng mà ở điều kiện bình thường khó
xảy ra hoặc có vai trò làm xúc tác các phản ứng hoá học. Đặc biệt siêu âm làm tăng
các phản ứng phân ly các hợp chất hữu cơ, làm tăng sự ion hoá và tạo ra nhiều gốc
tự do trong môi trường. Sóng siêu âm cũng làm tăng quá trình thẩm thấu qua các
màng bán thấm. Chính vì vậy đối với mô sinh học, siêu âm làm thay đổi những đặc
tính của nó như độ pH, điểm đẳng điện, áp suất thẩm thấu, áp suất keo. Siêu âm
cũng làm thay đổi sự chuyển hoá vật chất và hoạt tính các men sinh học trong cơ thể.
Lợi dụng những đặc tính này của siêu âm mà người ta có thể dùng siêu âm để điều trị
bệnh cao huyết áp, các bệnh dạ dày (vì siêu âm làm thay đổi độ toan của dịch vị).
Trong điều trị thường dùng siêu âm có tần số 20KHz - 1MHz.
* Lưu ý: không dùng siêu âm để điều trị cho người có thai, đang bị sốt, mắc
bệnh lao và trẻ em.
14.2.2.2. Ứng dụng của siêu âm trong chẩn đoán
Sóng siêu âm khi truyền qua các tổ chức sống trong cơ thể sẽ bị hấp thụ hoặc
phản xạ. Kết quả của sự phản xạ và hấp thụ phụ thuộc vào tính chất, cấu trúc của
các tổ chức sống, do đó nó gián tiếp phản ánh tình trạng, cấu trúc của các tổ chức
sống này thông qua hình ảnh sóng siêu âm trên màn hình.
* Chẩn đoán bằng hình ảnh siêu âm
- Hình ảnh tạo nên nhờ chùm siêu âm truyền qua.

Đầu và Đối tượng Đầu và Biến đổi tín


máy phát khảo sát máy thu hiệu thành
siêu âm Siêu âm hình ảnh

Sơ đồ nguyên lý cách tạo ảnh nhờ chùm siêu âm truyền qua


Khi chùm siêu âm truyền qua tổ chức, cường độ của chùm siêu âm đã bị
giảm so với ban đầu (do bị tổ chức hấp thụ) nhưng cường độ chùm siêu âm bị giảm

165
nhiều hay ít lại tuỳ thuộc vào cấu trúc, tính chất, bề dày của tổ chức mà nó truyền
qua. Chùm siêu âm sau khi đã truyền đối tượng sẽ được thu lại thể hiện bằng những
hình ảnh khác nhau tuỳ thuộc vào cường độ chùm siêu âm. Nhà chuyên môn sẽ căn
cứ vào hình ảnh đó để xác định được về mặt hình thái, cấu trúc của đối tượng là
bình thường hay bệnh lý. Hình ảnh ghi được là hình ảnh gián tiếp được tạo bởi
chùm siêu âm truyền qua.
- Hình ảnh tạo nên nhờ chùm siêu âm phản xạ từ các mặt phân cách đối
tượng khảo sát với môi trường xung quanh.

Phát
Đối tượng khảo sát
Máy và đầu
Siêu âm Thu

Bộ biến đổi tín hiệu


thành hình ảnh và
ghi lại.

Sơ đồ nguyên lý cách tạo ảnh nhờ chùm siêu âm phản xạ


Khi chùm siêu âm truyền qua các lớp vật chất có âm trở khác nhau sẽ xảy ra
hiện tượng phản xạ ngay tại bề mặt phân cách giữa hai môi trường. Cường độ chùm
siêu âm phản xạ phụ thuộc vào sự chênh lệch về âm trở giữa 2 môi trường. Do vậy
khi cho chùm siêu âm tác động vào cơ thể, khi qua các tổ chức có âm trở khác nhau
sẽ gặp hiện tượng phản xạ, bộ phận thu sóng phản xạ có cường độ khác nhau và
biến đổi thành hình ảnh. Nhà chuyên môn sẽ căn cứ vào hình ảnh ghi lại được đó để
xác định về mặt hình thái và cấu trúc của đối tượng là bình thường hay bệnh lý.
Hình ảnh ghi được là hình ảnh gián tiếp của đối tượng được tạo bởi chùm siêu âm
phản xạ.
* Chẩn đoán chức năng dựa vào hiệu ứng Doppler
Một chùm siêu âm phát ra gặp một vật chuyển động nó sẽ bị phản xạ lại, tần
số sóng phản xạ phụ thuộc vào chiều chuyển động và tốc độ chuyển động của vật.
Đây chính là hiệu ứng Doppler. Nhờ hiệu ứng này người ta có thể đo được tốc độ di
chuyển của hồng cầu, từ đó có thể tính được lưu lượng máu qua mạch máu có bình
thường không.

166
Chính vì vậy phương pháp này được dùng để chẩn đoán các bệnh của tuần
hoàn ngoại biên như viêm tắc động mạch, tĩnh mạch, rò động mạch… hoặc có thể
dùng để chẩn đoán các bệnh lý của tim như còn ống thông động mạch, thông liên
thất... Thí dụ: có thể thăm khám các mạch máu lớn bằng hiệu ứng Doppler. Tần số
sóng siêu âm thu được biểu hiện bằng một đường cong phản ánh tốc độ tức thời của
máu tại nơi thăm khám. ở trạng thái bình thường mỗi mạch máu có một đường cong
đặc trưng liên quan rõ rệt với đường kính cũng như vùng tưới máu của nó.
- Lưu ý: Để tránh cho chùm siêu âm bị không khí hấp thụ và gây phản xạ
ngay trên mặt da người bệnh, giữa đầu dò siêu âm và da người bệnh, người ta
thường bôi đệm một lớp dầu (paraphin, lanolin hoặc glycerin…) có âm trở gần
giống như của cơ thể để loại bỏ được lớp không khí len giữa nhằm loại bỏ phản xạ
làm chùm siêu âm truyền đến cơ thể một cách toàn vẹn.

167
Chương 15
CÁC HIỆN TƯỢNG ĐIỆN TRÊN CƠ THỂ SỐNG

15.1. HIỆN TƯỢNG ĐIỆN SINH VẬT - CƠ CHẾ PHÁT SINH VÀ LAN TRUYỀN
15.1.1. Các loại điện thế sinh vật cơ bản
15.1.1.1. Khái quát về các hiện tượng điện sinh vật
Năm 1786, nhà vật lý kiêm bác sĩ người ý Ganvanni đã phát hiện một tính
chất vô cùng quan trọng, đặc trưng cho mọi tổ chức tế bào sống là giữa chúng với
môi trường xung quanh luôn tồn tại một sự chênh lệch về điện thế có giá trị vào
khoảng 0,1 mV.
Để ghi nhớ công ơn này của ông ngày nay tên ông đang được đặt cho một
loại nguồn điện một chiều: pin Ganvanni và một phương pháp chữa bệnh cũng được
mang tên ông: Ganvanni liệu pháp.
Sau này người ta còn phát hiện, ở một vài sinh vật, cá biệt cơ thể chúng có
thể phát ra những xung điện có biện độ lên tới hàng trăm mV và cường độ dòng cỡ
hàng chục mA. (ví dụ như một loại cá đuối hoặc một số loài cây phát điện mà người
ta phát hiện ra ở sa mạc châu Phi...).
Tuy nhiên phải tới những năm đầu của thế kỷ 20, nhờ những tiến bộ của các
nghành KHKT đặc biệt là các thành tựu trong lĩnh vực vật lý và vật lý y học người
ta mới làm sáng tỏ cơ chế phát sinh, lan truyền và bản chất của các hiện tượng điện
sinh vật này từ đó người ta đã nhanh chóng ứng dụng chúng một cách có hiệu quả
vào nhiều lĩnh vực mà trước hết là trong các ngành sinh học và y học... (chẳng hạn
các phương pháp chữa bệnh bằng vật lý trị liệu, phương pháp điện di, các thiết bị
ghi - đo điện tim, điện cơ, điện não, điện võng mạc đồ...).
Gần đây giới khoa học trong và ngoài nước đang quan tâm rất nhiều đến mối
liên quan giữa những hiện tượng đặc biệt như: "linh tính”, "giác quan thứ sáu”, "khả
năng ngoại cảm”,... với các hoạt động điện của các cơ thể sinh vật.
Ngay trong nước ta, khoảng chục năm trở lại đây dư luận cũng đã bàn tán và
tranh luận khá nhiều về sự ra đời của một lý thuyết có tên gọi: "lý thuyết trường

168
sinh học” hay "lý thuyết cận tâm lý” do một nhóm các nhà khoa học có tên tuổi
khởi xướng.
Tính đúng đắn, tính khoa học, cũng như giá trị thực tiễn của lý thuyết này
cho đến nay vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh luận, tuy nhiên đối với chúng ta,
những người đang trực tiếp công tác trong lĩnh vực y - sinh và vật lý học thì đây
cũng là một đề tài rất hấp dẫn và đáng quan tâm, tất nhiên với một thái độ hết sức
khách quan và khoa học.
15. 1.1.2. Các loại điện thế sinh vật cơ bản
* Điện thế nghỉ
Xét thí nghiệm sau:
- Dụng cụ:
+ Một điện kế cực nhạy G.
+ 2 vi điện cực có kích thước rất nhỏ
I II
- Đối tượng nghiên cứu là một tế bào A B
hoặc một tổ chức nào đó của cơ thể sống (cụ thể
trong thí nghiệm này là một sợi thần kinh).
- Tiến hành thí nghiệm: (a)
+ Bước 1: Đặt 2 vi điện cực (kí hiệu I và
II) tiếp xúc với 2 điểm A và B cùng nằm trên
bề mặt bên ngoài sợi thần kinh (hình a). Quan
sát kim của điện thế G ta thấy kim không hề I II
A
nhúc nhích nghĩa là giữa 2 điểm A và B không B

có sự chênh lệch về điện thế.


+ Bước 2: Giữ nguyên điện cực I ở A
(b)
(bên ngoài) nhẹ nhàng chọc điện cực II xuyên
qua màng vào bên trong tổ chức (tại B). Quan
sát điện cực G ta sẽ thấy kim của điện thế G quay I II
một góc và chỉ một giá trị nhất định. Điều này có A B
nghĩa là giữa 2 điểm A và B trong trường hợp này
đã có một sự chênh lệch về điện thế.
+ Bước 3: Giữ nguyên điện cực II ở B và (c)
tiếp tục chọc điện cực I xuyên qua màng vào Hình 15.1

bên trong tổ chức. Quan sát ta thấy kim điện kế


lại trỏ về vị trí số 0 ban đầu. Có nghĩa là giữa 2

169
điểm A và B lúc này (cùng ở bên trong tổ chức)
cũng không có sự chênh lệch về điện thế.
Người ta đã tiến hành thí nghiệm này với nhiều đối tượng khác nhau của
nhiều loại cơ thể sinh vật khác và đều thu được kết quả tương tự. Từ các kết quả
thực nghiệm đó, có thể rút ra những kết luận như sau:
1. Giữa một điểm nằm bên ngoài và một điển nằm bên trong của một tổ chức
hoặc một tế bào sống luôn tồn tại một sự chênh lệch về điện thế mà giá trị của độc chênh
lệch điện thế này được gọi là điện thế nghỉ hay điện thế tĩnh của tổ chức hay tế bào đó.
2. Căn cứ chiều quay của kim và dấu của các điện cực, người ta còn xác định
được điện thế tại một điểm nằm trong màng mang giá trị âm còn ở ngoài màng thì
mang giá trị dương và người ta cũng quy ước: điện thế nghỉ mang giá trị âm.
3. Điện thế nghỉ hầu như không thay đổi theo thời gian, nó là một thuộc tính
vốn có đặc trưng cho mọi tổ chức và tế bào sống.
4. Người ta cũng còn phát hiện điện thế nghỉ còn tồn tại giữa một điểm bị thương
tổn với xung quanh và chính vì thế điện thế nghỉ còn được gọi là: điện thế tổn thương.
* Điện thế hoạt động
Để tìm hiểu khái niệm này, người ta thường tiến hành theo 2 phương pháp.
- Phương pháp 2 pha
Trở lại thí nghiệm trên, nhưng bắt đầu bằng việc đo điện thế tại 2 điểm A và
B cùng nằm bên ngoài màng. Khi đó kim điên thế chỉ số 0.
Bây giờ ta dùng một tác nhân nào đó (chọc kim, dùng xung điện,...) kích
thích vào sợi dây thần kinh tại điểm C và quan sát kim điện kế ta thấy:
+ Thoạt đầu kim điện thế quay sang phải, đến một giá trị nào đó kim dừng lại và
bắt đầu đảo chiều quay, nhưng qua vị trí số 0, kim không dừng lại mà tiếp tục lệch sang
bên trái. Đến vị trí đối diện, kim dừng lại rồi một lần nữa đảo chiều quay trở về vị trí số
0 ban đầu. Có thể biểu diễn kết quả quan sát thấy trên bằng đồ thị sau:

U(AB)

0
T (s)

170
Hình 15.2
Qua thí nghiệm ta rút ra kết luận:
1. Dưới tác dụng của tác nhân kích thích bên trong sợi dây thần kinh xuất
hiện một điện thế, điện thế này còn được gọi là điện thế hoạt động hay điện thế kích
thích. Điện thế này có giá trị âm và lan truyền dọc theo sợi thần kinh.
2. Điện thế hoạt động chính là sự biến đổi đột ngột của điện thế nghỉ dưới tác
dụng của tác nhân kích thích (nghĩa là biên độ của điện thế hoạt động đúng bằng
biên độ của điện thế nghỉ của tổ chức, tế bào).
- Giải thích thí nghiệm:
Để giải thích, trước hết ta cần lưu ý 2 điểm:
+ Trong thí nghiệm trên, thưc ra chúng ta không đo được điện thế thực mà là
đo được độ chênh lệch điện thế giữa hai A và B mà giá trị của độ chênh lệch đó
được gọi là điện thế nghỉ hay điện thế hoạt động ứng với trường hợp tế bào dang ở
trạng thái nghỉ ngơi hay trạng thái làm viêc. Do đó có thể hiểu: thí nghiệm là
phương pháp gián tiếp giúp chúng ta phát hiện sự tồn tại của điện thế nghỉ cũng như
của sự xuất hiện và lan truyền của điện thế hoạt động.
+ Đường cong trên đồ thị biểu diễn
sự biến đổi của hiệu điện thế giữa 2 điểm I II
A và B, song nó cũng phản ánh kết quả A B
của sự xuất hiện và lan truyền của hiệu
C
điện thế hoạt động.
Với quan điểm như vậy, ta có thể
giải thích hiện tượng mà chúng ta đã quan
sát thấy trong thí nghiệm như sau: II

Lúc đầu điện thế tại điểm A và điểm A B

B cùng có giá trị dương và bằng nhau → C

hiệu điện thế giữa hai điểm này (cùng ở bên


ngoài màng) bằng 0 → kim điện thế chỉ số 0.
Dưới tác dụng của tác nhân kích I II
thích, tại điểm C xuất hiện một hưng phấn A B
kèm theo đó là một điện tích âm mà giá trị

171 Hình 15.3


của nó chính là điện thế hoạt động (Vhd), điện thế âm này lan truyền dọc theo sợi
thần kinh.
Khi lan truyền đến A, điện thế tại A đang giữ giá trị dương sẽ trở thành mang
giá trị âm còn điện thế tại B vẫn dương do đó xuất hiện sự chênh lệch điện thế giữa A
và B nên kim điện kế quayvà cho ta biết giá trị của độ chênh lệch lúc đó (tức UAB).
Hưng phấn truyền qua A đến khoảng giữa A và B khi đó điện thế tại A lại
mang giá trị dương và B vẫn mang giá trị dương nên UAB triệt tiêu → kim điện kế
quay về vị trí số 0. Sau đó hưng phấn lan truyền đến B lúc này điện thế của B lại
mang giá trị âm còn A mang giá trị dương → sự chênh lệch điện thế lại xuất hiện
nhưng có chiều ngược với trường hợp ban đầu do đó kim điện kế quay và chỉ vào
giá trị ở phía đối diện. Hưng phấn tiếp tục lan truyền qua B và đi ra xa khi đó điện
thế tại B lại trở về giá trị dương và sự chênh lệch điện thế giữa A và B cũng triệt
tiêu → kim điện kế trở về 0 rồi dừng lại.

I II I
II
A B A B

Hình 15.4
- Phương pháp 1 pha
Ta cũng trở lại thí nghiệm trên những bắt đầu bằng việc đo điện thế nghỉ.

U(AB)

0 T (s)
I II

A
U(nghỉ)
B

Hình 15.5 Hình 15.6


Khi đó kim điện kế quay chỉ giá trị của điện thế nghỉ. Bây giờ, dùng tác
nhân kích thích vào sợi thần kinh tại điểm C, quan sát kim điện kế G ta thấy:

172
kim từ từ trở về vị trí số 0, sau đó nó lại trở về vị trí của điện thế nghỉ ban đầu.
Quá trình đó có thể biểu diễn trên đồ thị 2.
Từ thí nghiệm, chúng ta cũng rút ra nhận xét:
+ Điện thế hoạt động chính là sự biến đổi đột ngột của điện thế nghỉ dưới tác
dụng của tác nhân kích thích.
+ Điện thế hoạt động cũng có giá trị âm và lan truyền dọc theo sợi dây
thần kinh T.
Phương pháp thí nghiệm trên được gọi là phương pháp 1 pha bởi vì trên đồ thị
nó đươc biểu diễn bởi chỉ 1 pha chiều dương của đồ thị.
Để kết thúc, cần lưu ý thêm rằng:
Điện thế hoạt động cũng đo được giữa một tổ chức nghỉ ngơi và một tổ chức đang
làm việc.
Gần đây nhờ sử dụng các thiết bị ghi hiện đại, người ta đã đo được chính xác
và tỉ mỉ hơn đường cong biểu diễn sự biến đổi của điện thế hoạt động theo thời gian.
Người ta thấy rằng, đường cong đó không dừng lại ở giá trị 0 mà vượt sang phần có
giá trị dương. Đỉnh của đường cong đó lại có dạng gai nhọn và được gọi là phần
“overhead”.
15.1.2. Lý thuyết ion màng - Cơ chế phát sinh và lan truyền các loại điện thế
sinh vật
Bằng một loạt công trình thực nghiệm các nhà khoa học chỉ ra rằng: cơ thể
sinh vật là một môi trường chứa đầy dung dịch điện ly bao gồm các ion âm và ion
dương và đối với mỗi tổ chức, mỗi tế bào thì chừng nào chúng còn sống nồng độ
các chất điện ly giữa hai phía của màng tổ chức hay tế bào đó còn có sự chênh lệch
và chính sự chênh lệch về nồng độ của các hạt mang điện này dẫn đến sự chênh lệch
về điện tích và từ đó dẫn đến sự chênh lệch về điện thế giữa hai phía của màng.
Từ quan niệm đó các nhà khoa học đã khẳng định: việc khảo sát các dấu hiệu về
điện xuất hiện khi có sự chênh lệch về nồng độ của các ion giữa hai phía của màng là
con đường đúng đắn để tìm hiểu cơ chế của các hiện tượng điện sinh vật mà ta đã biết.
Một trong những thuyết được đưa ra đầu tiên là lý thuyết ion màng của Becstein.
15.1.2.1. Nội dung lý thuyết ion màng của Becstein

173
- Các ion K+, Na+, và Cl- là các ion đóng vai trò chủ yếu trong hoạt động điện
của mọi tế bào và tổ chức sống.
- Nồng độ các ion nói trên giữa 2 phía của màng luôn luôn có sự chênh lệch
đáng kể. Chẳng hạn nồng độ K+ ở trong tế bào lớn hơn K+ ở ngoài màng khoảng 40
lần, còn nồng độ của Na+ và Cl- ở ngoài lớn hơn ở bên trong tế bào khoảng 10 lần.
- Màng tế bào có tính thấm lọc lựa đối với các ion này. Cụ thể: ở trạng thái
nghỉ chỉ có K+ qua lại màng được dễ dàng, còn Na+ và Cl- thì không qua màng được.
- Khi tế bào ở trạng thái hưng phấn, tức là khi nó bị kích thích hoặc đang từ
trạng thái nghỉ ngơi sang trạng thái làm việc, tính thấm của màng sẽ thay đổi một
cách đột ngột đối với ion Na+ . ở trạng thái nghỉ, tính thấm của màng đối với K+:
Na+:Cl- = 1: 0,04: 0,45; ở trạng thái hoạt động tỷ lệ này là 1: 20: 0,45. Nghĩa là tính
thấm của màng đối với Na+ tăng 500 lần.
15.1.2.2. Cơ chế của điện thế nghỉ
- Ở nội dung 1 và 2 của lý thuyết ion màng chỉ ra rằng các ion hai phía của
màng có sự chênh lệch về nồng độ. Vì vậy, luôn có xu hướng các ion K+ từ trong ra
ngoài tế bào và các ion Na+, Cl- từ ngoài vào trong tế bào theo hiện tượng khuyếch
tán mà chưa tính đến vai trò của màng thì theo chiều Gradien nồng độ.
- Ở nội dung thứ 3 của lý thuyết ion màng nói về tính thấm của màng có tính
chất lọc lựa, ở trạng thái nghỉ chỉ có K+ qua lại được màng, nên các ion này sẽ
khuếch tán từ trong tế bào là nơi có nồng độ cao ra phía ngoài của màng là nơi có
nồng độ thấp (dưới tác dụng của Grandien nồng độ). Cũng có nghĩa là đã có một
dòng các điện tích dương dịch chuyển từ trong tế bào ra ngoài màng. Do vậy tính
trung hoà điện ở tế bào, tổ chức bị phá vỡ, kết quả là lượng điện tích ở phía ngoài
màng sẽ tăng lên còn trong tế bào sẽ giảm đi do đó xuất hiện sự chênh lệch về điện
thế giữa 2 phía của màng mà giá trị của sự chênh lệch đó được gọi là điện thế nghỉ.
15.1.2.3. Cơ chế của điện thế hoạt động
Khi tế bào ở trạng thái hưng phấn do tính thấm của tế bào đối với Na+ đã tăng
gấp 500 lần do đó các ion Na+ từ phía ngoài là nơi có nồng độ cao sẽ ào ạt tràn vào
trong tế bào dưới tác dụng của Gradien nồng độ, làm cho lượng điện tích dương bên
trong tế bào đã tăng và do đó sự chênh lệch điện tích giữa 2 phía của màng cũng bị
triệt tiêu. Điều đó cũng có nghĩa là đã xuất hiện một sự chênh lệch về điện thế nhưng
có chiều ngược với chiều của điện thế nghỉ, độ chênh lệch điện thế xuất hiện khi tế
bào ở trạng thái hưng phấn được gọi là điện thế hoạt động. Điều giải thích nói trên
hoàn toàn phù hợp với các kết quả quan sát được trong thực nghiệm. Nghĩa là điện

174
thế hoạt động chính là sự biến đổi đột ngột của của điện thế nghỉ khi tế bào bị kích
thích hoặc khi nó từ trạng thái nghỉ ngơi chuyển sang trạng thái hoạt động.
15.1.2.4. Hạn chế của lý thuyết ion màng
- Lý thuyết ion màng không chỉ rõ theo cơ chế nào mà tính thấm của màng
lại thay đổi đột ngột với các ion K+, Na+ trong giai đoạn của điện thế hoạt động.
- Lý thuyết ion màng chưa chú ý đến vai trò của ion hoá trị 2 như ion Ca++.
- Thuyết ion màng đã thiếu sót khi cho rằng toàn bộ các ion ở hai phía của
màng ở trạng thái tự do, nghĩa là có thể khuyếch tán qua màng được (thí nghiệm đã
chứng minh: trong cơ có một lượng K+ ở trạng thái liên kết và chúng không tham
gia quá trình tạo nên điện sinh vật).
- Thuyết ion màng chưa chú ý đến vai trò của màng. Khi tế bào bị kích thích
màng có sự biến đổi về cấu trúc, hình dạng của các phân tử cấu tạo nên màng.
15.2. CƠ CHẾ DẪN TRUYỀN SÓNG HƯNG PHẤN TỪ THẦN KINH ĐẾN CƠ
15.2.1. Khái niệm hưng phấn
Hưng phấn là sự chuyển từ trạng thái nghỉ ngơi sang trạng thái hoạt động.
Hưng phấn bao gồm hai cơ chế: cơ chế tiếp nhận kích thích bởi các thị quan và cơ
chế chuyển tín hiệu kích thích thành tín hiệu điện, truyền về não để xử lý thông tin
và phát tín hiệu thực hiện phản ứng trả lời. Tín hiệu kích thích rất đa dạng nhưng
chủ yếu là tín hiệu vật lý (nhiệt, ánh sáng, áp suất...) và tín hiệu hóa học (hoocmon,
mùi vị,..). Chức năng chuyển tín hiệu kích thích thành tín hiệu điện (tức sóng hưng
phấn) và dẫn truyền sóng hưng phấn do noron thực hiện. Thực hiện phản ứng trả lời
có thể là cơ quan, mô, tế bào và cả ở mức độ phân tử. Trong hệ sinh vật, từ sinh vật
đơn bào tới sinh vật đa bào tuy có mức độ tiến hóa khác xa nhau nhưng đều tồn tại
tính hưng phấn để thích nghi với sự thay đổi của môi trường sống.
15.2.2. Khái niệm ngưỡng hưng phấn
Ngưỡng hưng phấn được xác
định bằng cường độ nhỏ nhất và thời
gian kích thích ngắn nhất để có thể tạo
nên sự hưng phấn.Cường độ nhỏ nhất
kích thích để tạo ra được phản ứng trả
lời gọi là 1 reobaz. Thời gian ngắn nhất
khi kích thích 1 reobaz để tạo ra được
phản ứng trả lời là thời gian có ích (hình
15.7). Trong thực nghiệm xác định thời
Hình 15.7. Tương quan giữa cường
độ và thời gian kích thích
175
gian có ích rất khó nên Lapicque lấy thời gian ứng với 2 reobaz để đo ngưỡng.
Thời gian kích thích, gọi là thời trị. Đường biểu diễn tương quan giữa cường
độ và thời gian kích thích là đường hipecbol, ứng với phương trình do Weiss đưa ra
a
năm 1901: i= +b (15.1)
t
i: cường độ kích thích, t: thời gian kích thích
a: hằng số ứng với đường thẳng thời gian chạy song song với trục tung
b: hằng số ứng với đường thẳng cường độ chạy song song với trục hoành
Nếu cường độ i = 2b, nghĩa là bằng 2 reobaz thì phương trình trên sẽ có dạng:
a a a
2b = +b b= t=
t t b
Thời trị thay đổi tùy theo mô. Ví dụ ở người thời trị của cơ duỗi dài gấp từ
1,5 đến 2 lần so với cơ gập.
15.2.3. Cơ chế dẫn truyền sóng hưng phấn trong dây thần kinh
Thí nghiệm của Hodgkin và Katz đã chứng minh dòng điện hưng phấn xuất
hiện trong dây thần kinh khi bị kích thích có bản chất ion. Hodgkin và Katz cũng chỉ
rõ K+ có vai trò chính trong việc duy trì điện thế tĩnh còn Na+ lại có vai trò chính
trong việc hình thành nên điện thế hoạt động (tức sóng hưng phấn). Tùy thuộc vào
bản chất của dây thần kinh như có mielin bao bọc hay không, đường kính sợi trục,
chức năng của noron mà có tốc độ dẫn truyền sóng hưng phấn khác nhau (xem bảng)
Bảng 15.1. Kiểu sợi thần kinh và tốc độ dẫn truyền sóng hưng phấn trong dây thần kinh
Đường Tốc độ truyền (m/s)
Kiểu sợi kính sợi Biến nhiệt Đồng nhiệt Chức năng
(μ) (20oC) (37oC)
Anpha 10 - 20 20 - 40 60 - 120 Sợi vận động cơ
Beta 7-5 15 - 30 40 - 90 Sợi thu cảm (sờ mó)
Gamma 4-8 8 - 15 30 -45 Sợi hướng tâm từ cơ
Denta 2,5 - 5 5-9 15 - 25 Sợi thu cảm da (nóng, lạnh)
B 1-3 2-6 3-5 Sợi tiền hạch dinh dưỡng
C 0,3 - 1,5 0,3 - 0,8 0,5 - 2 Sợi hậu hạch giao cảm

Kết quả ở bảng trên cho thấy động vật đồng nhiệt (chim, thú, người) có tốc
độ truyền dẫn sóng hưng phấn trong dây thần kinh nhanh hơn so với động vật biến

176
nhiệt (ếch, cá, lưỡng thê). Các sợi thần kinh dẫn truyền cảm giác đau đớn có tốc độ
dẫn truyền chậm nhất (0,7 - 1,3 m/s), các sợi hướng tâm dẫn truyền cảm giác sờ mó
có tốc độ cao hơn đạt 50 m/s, còn các sợi hướng vận động có tốc độ dẫn truyền
nhanh nhất đạt tới 160 m/s.
Sợi trục thần kinh cũng là một dây dẫn điện và nếu là sợi trần (không có
mielin bao bọc) thì dịch bào tương bên trong sợi trục có điện trở là Rt còn màng
noron có điện trở là Rm. Đối với dây thần kinh có mielin bao bọc và do mielin là
một chất cách điện rất tốt nên noron chỉ tiếp xúc với môi trường ngoài qua eo
Ranvie. Khi đó noron chỉ tiếp nhận kích thích qua eo Ranvie và dòng điện hưng
phấn cũng chỉ bị suy giảm do truyền điện ra bên ngoài qua eo Ranvie. Khi bị kích
thích sẽ xuất hiện xung điện thế hoạt động tại điện cực kích thích (cực âm) và được
ký hiệu là Vo. Do bị tiêu hao một phần năng lượng điện thế để thắng điện trở trong
của bào tương sợi trúc và bị rò qua màng noron nên giá trị của điện thế hoạt động bị
giảm dần. Điện trở trong của bào tương càng nhỏ thì điện thế họat động bị giảm
càng ít và điện trở màng noron càng lớn thị điện thế hoạt động cũng bị giảm càng ít.
Ngược lại, điện trở trong của bào tương lớn thì điện thế hoạt động bị giảm nhiều và
điện trở màng noron nhỏ thì điện thế hoạt động bị giảm nhiều. Các nhà khoa học đã
xác định được giá trị điện thế hoạt động sau khi phát sinhlà Vo, truyền theo sợi trục
thần kinh quãng đường là x có giá trị là Vx được tính theo công thức:
x

Rm
Rt
Vx = V0 .e (15.2)
Rm: điện trở màng noron tỷ lệ thuận với điện trở riêng của 1 cm2 màng (ký
hiệu là rm) và tỷ lệ nghịch với bán kính sợi trục thần kinh (ký hiệu là r).
rm
Rm = (15.3)
2πr
Rt: điện trở trong của bào tương cũng tỷ lệ thuận với điện trở riêng của 1cm3
bào tương (ký hiệu là rt) và tỷ lệ nghịch với bình phương bán kính sợi trục (r).
rt
Rt = (15.4)
πr 2

177
Các nhà khoa học đã tính được ở động vật thuộc lớp thú, sợi trục dây thần
kinh có mielin bao bọc có bán kính r = 15μm, rm = 5000 Ω/cm2 và rt = 50 Ω/cm3,
điện thế hoạt động Vo truyền được 1 mm (là khoảng cách giữa 2 eo Ranvie) còn lại
giá trị Vx được tính theo công thức:
Vx = Vo.0,5 (15.5)
Nếu điện cực kích thích đặt ở eo Ranvie thứ nhất (gọi là Ranvie 1) làm phát
sinh điện thế hoạt động là Vo = 100mV khi truyền đến eo Ranvie thứ hai (gọi là
Ranvie 2) sẽ còn 50mV. Thực nghiệm xác định eo Ranvie có ngưỡng kích thích
điện là 20mV. Do đó, dòng điện hưng phấn, tức điện thế hoạt động phát sinh ở eo
Ranvie 1 có giá trị là 100mV khi truyền đến eo Ranvie 2 còn 50mV đã kích thích eo
Ranvie 2 phát sinh điện thế hoạt động có độ lớn 100mV.
3

Hưng phấn

Hình 15.8. Dẫn truyền hưng phấn trong dây thần kinh
không có mielin bao bọc
A và C: Vùng noron ở trạng thái tĩnh (trong âm, ngoài dương)
B: Vùng noron ở trạng thái hưng phấn (trong dương, ngoài âm)
c: sợi trục noron
2: dòng điện hưng phấn
3: hướng truyền của dòng điện hưng phấn về hệ thần kinh trung ương

Cứ lặp lại như vậy, dòng điện hưng phấn hay các xung điện thế hoạt động có
độ lớn 100mV được truyền đi theo noron cảm giác về hệ thần kinh trung ương để
phát tín hiệu truyền theo noron vận động đến mô hay cơ quan thực hiện phản ứng
trả lời. Đối với dây thần kinh không có mielin bao bọc, khi kích thích một vùng nào
đó thì tại vùng đó màng mất phân cực rồi đảo cực nên có điện tích trái dấu với vùng
xung quanh còn đang ở trạng thái tĩnh (hình 80). Tại vùng hưng phấn xuất hiện
dòng điện hưng phấn nó lại kích thích vùng lân cận và lại tạo ra dòng điện hưng
phấn mới giống như dòng điện hưng phấn phát sinh tại vùng bị kích thích. Sự xuất
hiện của dòng điện hưng phấn sau khi bị kích thích cứ lan truyền như vậy trên suốt

178
chiều dài của dây thần kinh một cách liên tục. Vì vậy, tốc độ dẫn truyền của dòng
điện hưng phấn trong dây thần kinh không có mielin bao bọc thường chậm và tiêu
hao nhiều năng lượng.
Đối với dây thần kinh có mielin bao bọc, do mielin là một chất cách điện tốt
nên màng noron chỉ tiếp nhận kích thích ở eo Ranvie và màng noron cũng chỉ mất
phân cực và đảo cực (tức sinh điện thế hoạt động) ở tại eo Ranvie (Hình 15.9).

Hình 15.9. Dẫn truyền hưng phấn trong dây thần kinh có mielin bao bọc
R1 và R3: eo Ranvie 1 và eo Ranvie 3 ở trạng thái tĩnh
R2: eo Ranvie 2 ở trạng thái hưng phấn khi bị kích thích
1: sợi trục noron 2: bao mielin
3: dòng điện hưng phấn
4: hướng truyền của dòng điện hưng phấn về hệ thần kinh trung ương

Theo hình 15.9, khi kích thích ở eo Ranvie 2 thì màng noron hưng phấn dẫn
tới bị đảo cực (trong có điện tích dương (+), ngoài có điện tích âm (-), có điện tích
trái dấu với eo Ranvie 1 và Ranvie 3 đang ở trạng thái tĩnh (trong có điện tích âm (-),
ngoài có điện tích dương (+). Tại eo Ranvie 2 sẽ xuất hiện điện thế hoạt động (tức
dòng điện hưng phấn) và dòng điện hưng phấn này khi truyền đến eo Ranvie 3 tuy
đã giảm đi khoảng một nửa nhưng vẫn lớn hơn ngưỡng gây kích thích nên đã tạo ra
hưng phấn ở eo Ranvie 3, tức là lại tạo ra điện thế hoạt động mới có độ lớn giống
như điện thế hoạt động phát sinh lúc ban đầu ở ưo Ranvie 2. Dòng điện hưng phấn
cứ lan truyền theo kiểu "nhảy" từ eo Ranvie này đến eo Ranvie lân cận với khoảng
cách bước nhảy là 1 milimet, theo hướng về hệ thần kinh trung ương nên có tốc độ
truyền nhanh hơn và ít tiêu hao năng lượng hơn so với dây thần kinh không có
mielin bao bọc. Như ở hình 15.8, dòng điện hưng phấn truyền theo hướng từ vùng

179
B đến vùng C, còn ở hình 15.9, dòng điện hưng phấn "nhảy" từ eo Ranvie 2 sang eo
Ranvie 3 theo hướng về hệ thần kinh trung ương (hoặc tủy sống) đối với dây thần
kinh hướng tâm còn theo hướng từ tủy sống hay hệ thần kinh trung ương tới mô hay
cơ quan để thực hiện phản ứng trả lời với dây thần kinh ly tâm. Mặc dù vậy, với dây
thần kinh trần, phía ngoài màng noron có dòng điện truyền từ vùng C về vùng B
(hình 15.8), từ eo Ranvie 3 về eo Ranvie 2 (hình 15.9) nhưng đều không gây ra
hưng phấn vì khi đó màng noron trơ tuyệt đối nếu đang ở pha mất phân cực và đảo
cực (khoảng 1ms) hoặc trơ tương đối nếu đang ở pha tái phân cực (khoảng 3ms)
nên không tiếp nhận kích thích. Như vậy, khi kích thích vùng B xuất hiện dòng điện
hưng phấn truyền đến kích thích vùng phía trước là C thì hưng phấn lại xuất hiện dễ
dàng còn nếu đã truyền đến vùng C lại quay về vùng B thì màng noron không tiếp
nhận sự kích thích. Đối với dây thần kinh động vật máu nóng, thời gian trơ tuyệt đối
kéo dài khoảng 0,002 giây - 0,0004 giây. Nếu ta lấy vận tốc dẫn truyền trung bình
của dây thần kinh nhóm A là 60 m/s, khi truyền từ eo Ranvie 2 sang eo Ranvie 3
rồi quay trở về eo Ranvie 2, quãng đường là 2mm, tính ra thời gian chỉ mất có
0,3ms, nhỏ hơn 1ms nên eo Ranvie 2 đang trơ tuyệt đối nên không tiếp nhận bất kỳ
kích thích nào. Do vậy, dòng điện hưng phấn truyền trong dây thần kinh chỉ theo
một chiều xác định.
Do màng noron có tính trơ nên màng noron không thể phát sinh các xung
điện thế hoạt động một cách liên tục được. thời gian trơ càng dài thì số lượng tối
đa các xung điện thế hoạt động được màng noron phát sinh trong một đơn vị thời
gian càng ít và ngược lại. Vedenski đã đưa ra khái niệm tính linh hoạt chức năng
để biểu thị khả năng hưng phấn của các tổ chức sống. Noron có tính linh hoạt chức
năng càng cao khi có khả năng truyền được số lượng tối đa các xung điện thế hoạt
động trong một đơn vị thời gian càng nhiều. Ngược lại, số lượng tối đa các xung
điện thế hoạt động được truyền đi trong một đoen vị thời gian càng ít thì tính linh
hoạt chức năng của noron càng thấp. Ví dụ, các noron vận động có thời gian trơ là
2 mili giây thì tối đa chúng chỉ truyền được 500 xung điện thế hoạt động trong
một giây. Các noron trung gian có thời gian trơ nhỏ hơn 1 mili giây nên chúng có

180
thể truyền tối đa 1000 xung điện thế hoạt động trong một giây. Rõ ràng các noron
trung gian có tính linh hoạt chức năng cao hơn so với các noron vận động.
15.2.4. Cơ chế bàn giao hưng phấn qua xinap
15.2.4.1. Cấu tạo xinap
Cấu trúc một xinap (Hình 15.10)
Các vị trí tận cùng sợi trục của một
noron tiếp xúc với các noron khác và với các
tế bào cơ được gọi là các xinap. Cấu trúc
một xinap thể hiện trên hình gồm màng
trước xinap, khe xinap và màng sau xinap.
Các xinap là phần phình to của mút các
nhánh của sợi trục norn trước. Trong cúc
xinap chứa thành phần quan trọng nhất, đó Hình 15.10

là các bóng xinap. Bên trong các bóng xinap chứa chất môi giới. Giữa màng trước
xinap và màng sau xinap là khe xinap, rộng khoảng 150A0 đối với xinap noron -
noron, còn rộng khoảng 500A0 ở xinap noron - cơ. Màng sau xinap có những thụ
quan (receptor) chuyên biệt để nhận biết chất môi giới.
15.2.4.2. Bàn giao hưng phấn qua xinap theo cơ chế vật lý
Dòng điện hưng phấn muốn truyền từ noron trước sang noron sau phải vượt
qua màng trước xinap, khe xinap và màng sau xinap. Cả ba thành phần này đều có
điện trở. Theo Katz, sau khi dòng điện hưng phấn vượt qua ba điện trở thuộc cấu
trúc của xinap thì điện thế hoạt động từ giá trị ban đầu khoảng 120mV, khi đến
màng sau xinap chỉ còn khoảng 0,01mV. Thực nghiệm đã xác định, ngưỡng kích
thích màng sau xinap để gây ra hưng phấn là từ 20mV đến 40mV. Số liệu do Katz
đưa ra là không phù hợp với thức nghiệm. Để giải thích cơ chế truyền xung điện thế
hoạt động qua xinap theo cơ chế vật lý, các nhà khoa học cho rằng màng trước,
màng sau và khe xinap có cấu trúc đặc biệt nên có điện trở rất bé. Do vậy, xung
điện thế hoạt động dễ dàng vượt qua ba thành phần điện trở trên nên khi đến màng
sau xinap giá trị điện thế hoạt động truy có bị giảm nhưng vẫn lớn hơn 40mV. Với
giá trị vượt ngưỡng gây hưng phấn, nó đã kích thích màng sau xinap làm cho màng

181
sau xinap mất phân cực rồi đảo cực nên lại phát sinh xung điện thế hoạt động cũng
có giá trị 120mV và tiếp tục được truyền đi theo sợi trục của noron sau.
Tuy nhiên, giả thiết về ba thành phần cấu trúc của xinap có điện trở nhỏ, thực
nghiệm còn chưa xác định được.
15.2.4.3. Bàn giao hưng phấn qua xinap theo cơ chế hóa học
Năm 1912 và 1921, Levi tiến hành thí nghiệm buộc hai tim cô lập vào ống
thông tim trong có chứa dung dịch sinh lý để hai tim thông với nhau. Khi kích thích
dây mê tẩu của tim một thì tim một đập chậm và yếu, có khi ngừng đập. Đồng thời
tim hau cũng đập chậm và yếu, có khi ngừng đập như tim một. Nếu kích thích dây
giao cảm của tim một thì làm cho cả tim một và tim hai đều đạp nhanh và đập mạnh.
Levi đã xác định dây mê tẩu khi bị kích thích sẽ phát sinh chất axetincolin có tác
dụng kìm hãm còn dây giao cảm khi kích thích sẽ phát sinh chất adrenalin ở ếch còn
noradrenalin ở người có tác dụng thúc đẩy tăng nhịp đập của tim. Thí nghiệm của
Levi khẳng định khi kích thích, hưng phấn xuất hiện với sự tham gia của chất môi
giới, đã truyền từ tim một sang tim hai. Cúc xinap, khi noron ở trạng thái tĩnh, có sự
tổng hợp axetincolin từ axetat và colin. Lúc đầu axetat kết hợp với coenzym A tạo
thành axetin KoA. Nhờ xúc tác của enzyme colinnaxetilase, xảy ra phản ứng giữa
axetin KoA với colin tạo thành axetincolin và coenzymA (KoA). Axetincolin sau
khi tổng hợp sẽ được tích lũy lại trong các bóng xinap có đường kính 0,02 - 0,03μ,
nằm rải rác ở bào chất của cúc xinap. Khi dòng điện hưng phấn truyền đến cúc
xinap đã gây tác dụng kích thích làm cho các bóng xinap phóng thích axetincolin
vào khe hở xinap. Ở chuột, mỗi xung điện thế hoạt động khi truyền đến cúc xinap
noron - cơ đã kích thích bóng xinap giải phóng vài triệu phân tử axetincolin vào khe
hở xinap. Các phân tử axetincolin vượt qua khe hở xinap mất khoảng 0,5ms.
Axetincolin làm thay đổi tính thấm của màng sau xinap vì màng sau xinap rất nhạy
cảm trước tác động của axetincolin. Từ sự thay đổi tính thấm của màng sau xinap đã
dẫn đến sự mất phân cực và đảo cực, phát sinh điện thế hoạt động có độ lớn giống
như xung điện thế hoạt động đã truyền đến màng trước xinap. Nếu là xinap noron -
noron thì xung điện thế hoạt động phát sinh ở màng sau xinap, tiếp tục được truyền
đi theo sợi trục của noron sau. Đồng thời màng sau xinap cũng giải phóng enzyme
axetincolinesterase để xúc tác cho phản ứng:

182
Axetincolin + H2O → axetat + colin
Một phân tử enzyme axetincolinesterase ơ 25oC, trong 1 giây có thể thủy
phân được 300.000 phân tử axetincolin. Như vậy, mỗi phân tử enzyme chỉ cần
1/300.000 giây là phân hủy xong 1 phân tử axetincolin nên mới giải phóng toàn bộ
chất axetincolin cũ ở khe xinap, trước khi có một xung điện thế hoạt động mới
truyền tới, lại có một đợt axetincolin mới đi vào khe xinap. Ngưỡng gây kích thích
màng sau xinap của axetincolin chỉ cần ở nồng độ vô cùng nhỏ từ 10-16 đến 10-15M.
Các xinap giải phóng chất môi giới là axetincolin là các xinap kích thích vì kích
thích màng sau xinap làm phát sinh xung điện thế hoạt động mới giống như xung
điện thế hoạt động đã truyền đến màng trước xinap.
Trong cơ thế sống còn tồn tại các xinap ức chế giải phóng chất môi giới ức
chế vì làm ức chế màng sau xinap, không làm phát sinh xung điện thế hoạt động
mới ở màng sau xinap (tức không tạo ra sự hưng phấn ở màng sau xinap). Trường
hợp này xảy ra ở xinap noron - cơ tim của ếch đã được Levi phát hiện khi kích thích
dây mê tẩu đã dẫn đến giải phóng chất ức chế là axetincolin có tác dụng ức chế nhịp
đập của tim làm cho tim đập chậm và yếu.
Kết quả nghiên cứu khẳng định, hiệu ứng hưng phấn hoặc ức chế ở màng sau
xinap không phải do chất môi giới quyết định mà do bản chất của các thụ quan ở
màng sau xinap quyết định. Do vậy, axetincolin kích thích ở xinap noron - cơ nhưng
lại ức chế ở xinap noron - cơ tim. Hiện nay các nhà khoa học đã xác định được một
số chất môi giới và tác dụng của chúng (xem bảng).
Bảng 15.2.
Chất môi giới Tác dụng
Axetincolin Kích thích hoặc ức chế
Adrenalin Kích thích hoặc ức chế
Noradrenalin Kích thích hoặc ức chế
Dopamin Kích thích hoặc ức chế
Serotonin Kích thích hoặc ức chế
Glixin ức chế
Enxephalin v.v... ức chế

183
15.3. TÁC DỤNG CỦA DÒNG ĐIỆN LÊN CƠ THỂ VÀ ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ
Chúng ta đã biết rằng: cơ thể sinh vật là một môi trường chứa đầy các dung dịch
điện ly, nói cách khác cơ thể sinh vật là một môi trường chứa đầy các hạt mang điện.
Vì vậy dưới tác dụng của một điện trường, bên trong cơ thể sẽ xảy ra một loạt
các hiệu ứng và các quá trình biến đổi. Tính chất này đã được ứng dụng trong nhiều
phương pháp chẩn đoán và chữa trị rất thông dụng, có kết quả cao trong y học.
15.3.1. Các loại dòng điện dùng trong điều trị
Trong kỹ thuật, người ta thường phân thành dòng 1 chiều và dòng xoay chiều
trong đó dòng 1 chiều (hay nói chính xác là dòng không đổi) là dòng do các bộ
nguồn như pin, ắc quy sinh ra. Dòng này có đăc điểm là có cường độ dòng không
thay đổi theo thời gian, còn dòng xoay chiều là dòng điện mà cường độ dòng điện
biến đổi theo thời gian. Sự biến đổi có thể theo quy luật điều hoà hình sin hoặc dưới
dạng các xung điện với các tần số khác nhau.
Có thể đưa ra một vài ví dụ:
- Dòng xoay chiều hình sin
- Xung răng cưa (xung Faradic)
- Xung vuông (Ganvanic)
Trong y học người ta thường căn cứ vào tần số dao động của dòng điện để
phân chia thành:
15.3.1.1. Dòng hạ tần: Bao gồm dòng 1 chiều và các dòng xoay chiều có tần số
dưới 1000 Hz.
15.3.1.2. Dòng trung tần: Là dòng điện biến thiên có tần số dao động trong khoảng
từ 1000 → 300000 Hz.
15.3.1.3. Dòng cao tần: Là dòng điện biến thiên có tần số dao động trong khoảng từ
300000 Hz lên tới hàng ngàn MHz.
Trong dải cao tần người ta còn phân chia thành:
- Sóng ngắn: là dòng điện biến thiên có tần số < 30MHz tức bước sóng
cỡ 10m trở lên.
- Sóng siêu ngắn: là dòng điện biến thiên có tần số > 30 MHz và < 400 MHz
tức bước sóng cỡ 70 cm - 10 m.

184
- Sóng cực ngắn: là dòng điện biến thiên có tần số > 400 MHz và < 2500
MHz tức là có bước sóng cỡ 10 - 70 cm.
15.3.2. Tác dụng của dòng điện lên cơ thể và ứng dụng trong điều trị
15.3.2.1. Tác dụng của dòng một chiều
* Điện giải liệu pháp:
Chúng ta đã biết: cơ thể sinh vật là một môi trường chứa đầy các dung dịch
điện ly, bao gồm các ion dương và ion âm.
Trong vật lý và kỹ thuật, chúng ta cũng đã biết: khi cho dòng điện 1 chiều
chạy qua một dung dịch điện ly, bên trong dung dịch và tại các điện cực sẽ xuất
hiện các phản ứng hoá học mà kết quả là tạo ra các chất mới tại vùng đặt các điện
cực đó. Tính chất này được gọi là tác dụng điện hoá của dòng điện 1 chiều.
Trong y học, tác dụng điện hoá của dòng điện 1 chiều đã được ứng dụng
trong 1 phương pháp chữa bệnh có tên gọi là điện giải liệu pháp:
Người ta đặt các điện cực trực tiếp lên các vị trí cần điều trị trên cơ thể, rồi
thiết lập một điện trường không đổi bằng cách chọn các điện cực có tính chất hoá
học khác nhau, người ta có thể tạo ra tại vùng đặt các điện cực đó các loại acid,
bazơ hay những phức hợp hoá chất cần thiết để điều trị các bệnh tương ứng.
* Ion hoá liệu pháp:
Dưới tác dụng của điện trường tạo bởi 2 điện cực trái dấu, bên trong dung
dịch sẽ xuất hiện các dòng ion chuyển dời về phía 2 điện cực. Trong đó các ion âm
chuyển dời về cực dương và ngược lại. Tính chất này được ứng dụng trong một
phương pháp điều trị trong y học có tên gọi: Ion hoá liệu pháp.
Mục đích của phương pháp này là sử dụng dòng điện 1 chiều để đưa các ion
thuốc cần thiết vào cơ thể (chẳng hạn phương pháp điện châm, thuỷ châm, ...).
Lưu ý: Cần tránh tác dụng điện hoá của dòng điện một chiều bằng cách quấn
điện cực bằng bông có tẩm dung dịch dẫn điện (KCl)
* Ganvany liệu pháp:
Dòng 1 chiều truyền qua cơ thể sẽ gây ra những tác dụng sinh lý đặc hiệu
như: làm giảm ngưỡng kích thích của sợi cơ vận động, giảm tính đáp ứng của thần
kinh cảm giác, do đó có tác dụng làm giảm đau, gây giãn mạch ở phần cơ thể giữa 2
điện cực, tăng cường dinh dưỡng ở vùng có dòng điện chạy qua.

185
Đó chính là nguyên tắc của 1 phương pháp điều trị sử dụng dòng điện 1
chiều: Ganvany liệu pháp.
15.3.2.2. Tác dụng của dòng điện xoay chiều
* Tác dụng của dòng điện xoay chiều hạ tần và trung tần:
Khác với dòng điện 1 chiều, dòng điện xoay chiều hạ tần và trung tần có
cường độ thay đổi khi tăng khi giảm nên có tác dụng làm co và giãn cơ do đó có tác
dụng tâp luyện cho cơ làm cơ lực được tăng cường.
Tác dụng này thể hiện rõ nhất ở dòng điện xoay chiều có tần số trong khoảng
40Hz - 180 Hz. Chính vì vậy dòng hạ tần thường được sử dụng để kích thích và
chống teo cơ. Ngoài ra khi cơ bị co giật thì sự lưu thông máu cũng được tăng
cường, do đó dinh dưỡng cơ cũng được phát huy.
Đối với dòng trung tần có tần số từ 5000 Hz trở lên, tác động kích thích vận
động thể hiện rõ rệt hơn tác dụng kích thích cảm giác, nói khác đi là cơ bị co nhưng
không có cảm giác đau.
Các loại xung vuông có tần số thích hợp trong vùng trung tâm còn được sử
dụng để gây “choáng điện”, nghĩa là gây một cơn co giật nhân tạo (kích thích điện
xuyên qua sọ). Đây là phương pháp điều trị rất hiệu nghiệm đối với một số bệnh
tâm thần có chu kỳ. Những xung vuông có biên độ 150 V kéo dài 1-2/1000s có thể
kích thích tim từ ngoài lồng ngực. Chúng thường được dùng một cách có kết quả tốt
trong trường hợp tim ngừng đập ở giai đoạn tâm trương. Trong trường hợp đau tim kéo
dài, ngày nay bệnh nhân có thể mang theo trên người một máy đảm bảo nhịp tim
thường xuyên, đó là máy Pace-Maker một loại máy phát xung điện kích thích có kích
thước nhỏ, chạy pin và các điện cực kích thích có thể bố trí ngay trên màng tim.
* Tác dụng của dòng cao tần:
Dòng cao tần tác dụng vào cơ thể không gây hiện tượng điện phân và không
kích thích cơ thần kinh.
Năng lượng của dòng cao tần được biến thành nhiệt năng trong khu vực có
dòng điện đi qua. Tác dụng nhiệt của dòng cao tần làn tăng cường lưu thông máu,
làm dịu cơn đau, tăng cường chuyển hoá vật chất, thư giãn thần kinh và cơ,... Do đó
dòng cao tần thường được sử dụng để điều trị các bệnh viêm thần kinh, một số bệnh
ngoài da và đau ở các khớp nông.

186
Ngoài ra hiệu ứng nhiệt của dòng cao tần còn được dùng để cắt hoặc đốt
nhiệt, đó là phương pháp dùng để tiêu diệt các tổ chức sống trong cơ thể mà không
gây chảy máu, không gây mủ và sẹo nhỏ trắng không dính.
15.3.3. Những nguy hiểm do điện - đề phòng tai nạn do điện gây ra
Dòng điện cũng như nhiều yếu tố vật lý khác, nếu tác động vào cơ thể với
một mức độ thích hợp sẽ cho kết quả dương tính, phù hợp với mục đích và lợi ích
của con người.
Tuy nhiên trong trường hợp tai biến bất ngờ, điện tác động lên cơ thể quá
ngưỡng cho phép thì điện trở thành mối nguy hiểm cho sức khoẻ và tính mạng của
con người theo các cơ chế sau:
- Cơ chế gây nguy hiểm thứ nhất là do tác dụng nhiệt của dòng điện: Khi
dòng điện chạy qua cơ thể → do hiệu ứng Jun → đoạn cơ thể có dòng điện chạy qua
sẽ tỏa một nhiệt lượng khá lớn (Q = RI2t) → gây bỏng. Mức độ bỏng phụ thuộc vào
độ ẩm của da, cường độ dòng điện (0,1 A/cm2 là ngưỡng gây bỏng) và thời gian.
- Cơ chế gây nguy hiểm thứ 2 là do tác dụng kích thích cơ và thần kinh: Đặc biệt
đối với dòng điện xoay chiều tần số thấp (trong đó có dòng điện sinh hoạt). Khi cường
độ dòng điện đủ lớn thì cơ và thần kinh bị kích thích mạnh và liên tục làm cho ý thức
người bị nạn không còn khả năng điều khiển được. Vì thế, trong đa số trường hợp nếu
chạm tay vào dòng điện thì các cơ khép bao giờ cũng co mạnh hơn các cơ duỗi vì vậy
người bị nạn thường giữ chặt vào vật dẫn điện, không tự ý rút tay ra mặc dù lúc đầu não
vẫn nhận thức được rằng mình đang gặp nạn.
Những tai nạn chết người vì điện giật đa số thường xảy ra đột ngột. Người bị
nạn ngã xuống không kịp kêu sau vài giây, chậm lắm là vài phút nạn nhân sẽ chết.
Có 2 nguyên nhân tử vong là:
- Do bị ngừng thở, xảy ra theo 2 cơ chế:
+ Các cơ hô hấp bị co cứng.
+ Thần kinh hô hấp bị kích thích tại một đoạn nào đó.
- Do tim ngừng đập đột ngột ở giai đoạn tâm trương-trong trường hợp này
mổ tử thi không có sự xung huyết của các nội tạng và không phát hiện dấu vết cụ
thể nào để giải thích cơ chế của tai nạn.

187
* Đề phòng tai nạn do điện:
Nguyên tắc chính để đề phòng và giảm bớt mức độ nguy hiểm của tai nạn do
điện là:
- Giảm bớt điện áp nhỏ nhất đến mức có thể.
- Tăng điện trở tiếp xúc: nguyên tắc đầu tiên là không đi chân đất khi vận
hành các thiết bị điện, tay chân giầy dép phải khô ráo, tốt nhất là các loại thiết bị
điện phải được bọc bằng vỏ nhựa hoặc gỗ, các núm chỉnh công tắc tránh làm
bằng kim loại.
- Thực hiện nối đất tốt cho tất cả các máy thiết bị.
- Thực hiện các biện pháp cách ly những chỗ nguy hiểm bằng các vật cách
điện hoặc bằng lưới kim loại có nối đất.
- Tăng cường giáo dục rộng rãi ý thức đề phòng tai nạn về điện. Chú ý đặt các
bảng tín hiêu báo hiệu sự nguy hiểm tại các nơi trọng yếu hoặc có khả năng gây tai nạn.

188
Chương 16
QUANG SINH HỌC

16.1. CƠ CHẾ HẤP THỤ ÁNH SÁNG VÀ PHÁT SÁNG


16.1.1. Định luật hấp thụ ánh sáng
Chiếu một chùm ánh sáng đơn sắc, song
song tới đập vuông góc vào một lớp môi
trường giới hạn bởi hai mặt phẳng song song,
có bề dày l (Hình 16.1)
Gọi cường độ chùm sáng chiếu tới mặt
trước là I0, phần ánh sáng bị phản xạ khi đi tới Hình 16.1
mặt phân cách giữa hai môi trường là If, phần ánh sáng bị tán xạ trong môi trường Ix,
phần ánh sáng bị các phân tử hấp thụ là Ih, phần còn lại truyền qua khối môi trường
là It. Theo định luật bảo toàn năng lượng, ta có:
I0 = If + Ix + Ih + It (16.1)
Giả sử mặt ngăn cách của môi trường rất nhẵn, phẳng và các tia sáng tới đập
vuông góc với mặt nên xem như phần ánh sáng phản xạ If không đáng kể.
Môi trường trong suốt va đồng nhất thì ánh sáng bị tán xạ cũng có thể bỏ qua.
Như vậy chỉ còn:
I0 = Ih + It (16.2)
Để xác định trực tiếp phần năng lượng ánh sáng bị phân tử môi trường hấp
thụ thì rất khó, tuy vậy có thể xác định Ih gián tiếp qua việc đo I0 và It. Định luật
Bugơ - Lambe - Bia (Bouguer - Lambert - Bear) cho ta mối liên quan giữa I0 và It.
Giả sử ta xét một lớp môi trường có bề dày dx, cách mặt trước của môi
trường là x. Gọi i là cường độ chùm sáng khi đi tới mặt dx, (i-di) là cường độ chùm
sáng khi đi ra khỏi lớp dx. Như vậy, khi đi qua lớp đơn xin, cường độ chùm sáng đã
giảm đi một lượng là - di. Độ giảm -di của cường độ chùm sáng tỷ lệ với i và độ dày
dx, ta có:
- di ~ i, dx
Vậy: - di = k.i.dx (16.3)

189
Trong đó k là một hệ số tỉ lệ, gọi là hệ số hấp thụ của môi trường, k phụ
thuộc vào bản chất, mật độ môi trường, vào bước sóng ánh sáng.
Giải phương trình vi phân (16.3):
It = I0.e-kl (16.4)
Biểu thức (4) chính là biểu thức toán học của định luật Bugơ - Lambe.
Khi chuyển từ cơ số tự nhiên (e) sang cơ số thập phân (10) thì biểu thức (4)
trở thành:
It = I0.10-k'l (16.5)
Trong đó k' gọi là hệ số tắt, k' = 0.43k.
Ix 1 1
Nếu = thì k' = , vậy hệ số tắt có giá trị bằng nghịch đảo bề dày mà với
I0 10 x

nó cường độ ánh sáng yếu đi 10 lần.


Trong trường hợp môi trường hấp thụ ánh sáng là dung dịch loãng nồng độ
bằng C, ta thấy hệ số tắt k' tỷ lệ thuận với C.
k' = ε .C (16.6)
ε là hệ số tắt của dung dịch. Hệ số ε không phụ thuộc vào nồng độ, chỉ phụ
thuộc vào bản chất của chất tan, vào bước sóng ( λ ) của ánh sáng chiếu vào dung dịch.
Phối hợp các biểu thức (16.5) và (16.6) ta được phương trình biểu diễn định
luật cơ bản của sự hấp thụ ánh sáng, định luật Bugơ- Lambe- Bia:
It = I0.10 −ε .C .l (16.7)
Định luật này chứng tỏ hệ số hấp thụ của một chất tỷ lệ thuận với khối lượng
lớp môi trường mà ánh sáng đi qua, tức là tỷ lệ thuận với số phân tử chất hấp thụ
trên một đơn vị độ dài của đường truyền sáng. Ý nghĩa vật lý của định luật là khả
năng hấp thụ ánh sáng của một phân tử nào đó không phụ thuộc vào sự có mặt cảu
các phân tử khác ở xung quanh nó. Rõ ràng điều này chỉ đúng với các dung dịch
loãng. Khi nồng độ dung dịch tăng, khoảng cách giữa các phân tử giảm, tương tác
giữa các phân tử không đáng kể, ta thấy có nhiều sai khác so với định luật Bugơ -
Lambe - Bia. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp ε không chỉ phụ thuộc vào chất tan
mà còn phụ thuộc vào dung môi. Điều này chứng tỏ sự tương tác giữa các phân tử
chất tan và các phân tử dung môi cũng ảnh hưởng đến sự hấp thụ dung dịch.
Vậy điều kiện để áp dụng định luật hấp thụ ánh sáng là:

190
- Chùm sáng phải đơn sắc.
- Dung dịch đo phải loãng (nằm trong khoảng nồng độ thich hợp).
- Dung dịch phải trong suốt (trừ chuẩn độ đo quang).
- Chất thử phải bền trong dung dịch và bền dưới tác dụng của ánh sáng UV-VIS.
* Một số đại lượng thông dụng
- Độ truyền qua (T-Transmittance)
Độ truyền qua (hay còn gọi là độ thấu quang) đặc trưng cho độ trong suốt (về
mặt quang học) của dung dịch, được định nghĩa:
It
T= =10-ε.C.l (16.8)
I0

Thường T tính ra phần trăm (%). Một chất cho T=1 (hay 100%), nghĩa là
hoàn toàn không hấp thụ ánh sáng, người ta nói chất đó trong suốt hoàn toàn.
- Độ hấp thụ
Độ hấp thụ (hay còn gọi là mật độ quang D - Density, hoặc độ tắt E -
Extinction) được định nghĩa:
1
A(D,E) = lg = ε .C.l (16.9)
T
Đối với một chất xác định (có ε xác định), thường đo trên một loại cốc đo (có
bề dày thông thường l =1 cm) như vậy độ hấp thụ tỷ lệ thuận với nồng độ dung dịch:
A = K.C (K= ε .l) (16.10)
Đây chính là cơ sở lý thuyết của phương pháp định lượng bằng quang phổ
hấp thụ.
- Hệ số hấp thụ phần trăm (E 11cm
% )

Theo công thức A = ε .C.l, nếu l = 1cm, C=1% thì


1
A = ε = E 11cm
% ( thường viết tắt là E 1)

Vậy E11 chính là độ hấp thụ của dung dịch có nồng độ 1%, dùng cốc đo có bề
dày 1 cm. Với một chất tan xác định, tại một λ xác định, E11 là một hằng số.
- Hệ số hấp thụ phân tử ( ε μ )
Hệ số hấp thụ phân tử, hay còn gọi là hệ số tắt mol, là độ hấp thụ của dung
dịch có nồng độ 1 M/l, dùng cốc đo có đọ dày 1cm.

191
Cũng như E11, với một chất xác định, trong những điều kiện đo xác định ( λ ,
dung môi, nhiệt độ ....), ε μ là một hằng số.
Giữa E11 và ε μ có mối liên hệ:

E11
εμ = .M (16.11)
10
Ở đây M là phân tử gam của chất tan.
16.1.2. Ứng dụng quang phổ hấp thụ phân tử
Đa số các chất trong suốt có hệ số hấp thụ k (cũng có nghĩa là độ hấp thụ A)
thay đổi theo bước sóng ( λ ). Những chất đó gọi là các chất hấp thụ lọc lựa. Đường
cong biểu diễn sự phụ thuộc của độ hấp thụ (A) của một chất vào bước sóng ánh
sáng chiếu vào nó, gọi là phổ hấp thụ của chất đó.
(k, ε , A, D) = f( λ ) (16.12)
Phổ hấp thụ của mỗi chất được đặc trưng bỏi hình dạng đường cong hấp thụ,
số lượng, vị trí và cường độ của các cực đại.
Ngày nay phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử (bao gồm phổ tử ngoại,
khả kiến, hồng ngoại - UV, VIS, IR) đã trở thành một phương pháp phân tích thông
dụng trong các phòng thí nghiệm ở các cơ sở nghiên cứu, trường học, trạm kiểm
nghiệm, xí nghiệp sản xuất dược phẩm…Sở dĩ như vậy vì phương pháp này có
những ưu điểm chính sau:
1. Độ chính xác (precision), độ lặp lại (reproducibility) của phương pháp khá cao.
2. Sai số tương đối của phương pháp (UV-VIS) nhỏ, thường vào khoảng 0,5-1%.
3. Độ nhạy cao của phương pháp giúp có thể phân tích được các dung dịch
loãng cỡ 10-4 μ g/l (cỡ cài chục μ g/ml) rất thích hợp cho các phép phân tích vết
(phân tích độc chất)
4. Thời gian phân tích nhanh chóng, chỉ cần 5-10 phút có thể cho biết ngay
kết quả.
5. Kỹ thuật thao tác đơn giản, máy móc ngày càng hoàn thiện, gon nhẹ, trình
độ tự động hoá, tin học hoá cao.
Dưới đây chỉ giới thiệu một cách ngắn gọn một số lĩnh vực áp dụng của phổ
hấp thụ phân tử trong ngành Dược.
16.1.2.1. Phân tích định tính

192
Cơ sở lý luận của phương pháp phân tích quang phổ hấp thụ phân tử là sự
phụ thuộc giữa phổ của một chất vào cấu trúc hoá học của nó (cụ thể là cấu trúc của
lớp vỏ phân tử, của các mối liên kết, của các nhóm chức và của cấu hình không gian
của phân tử…).Vì thế, nếu có hai chất được đo trong những điều kiện hoàn toàn như
nhau mà cho phổ (đặc biệt là phổ IR) hoàn toàn giống nhau thì có thể xem hai chất
đó có cấu trúc hoá học như nhau.
Để phân tích phổ, người ta dựa vào các chỉ tiêu:
- Bước sóng hấp thụ cực đại: λ max (với phổ IR thường dùng đại lượng là số
1
sóng: ν = (cm-1). Ví dụ, phổ của dung dịch vitamin B12 (cyanocobalamin) trong
λ

nước có các λ max = 278; 361; 548 nm. Phổ của dung dịch vitamin B2 (riboflavn)
trong nước có λ max = 223; 267; 375 và 444 nm.
- Dựa vào tỷ số độ hấp thụ tại các cực đại hoặc tại cực đại với cực tiểu hấp
thụ. Thí dụ, với vitamin B12 ta có tỷ số A278/A361 = 0.57; A548/A361 = 0.30.
Trong thực tế thường tiến hành so sánh phổ của chất khảo sát với phổ của
chất chuẩn được đo trong những điều kiện như nhau, hoặc so sánh với phổ đã được
công bố trong các tài liệu nghiên cứu (catalogue chuyên đề …). Hiện nay việc dùng
phổ hấp thụ hồng ngoại để phân tích có nhiều ưu việt hơn dùng phổ tử ngoại, khả
biến, vì phổ IR cho lượng thông tin nhiều hơn (phổ IR của một chất thường có vài
chục đỉnh hấp thụ cực đại, trong khi phổ UV và VIS thường chỉ có một và λ max).
Phân tích cấu trúc của một chất không thể thiếu được phương pháp phổ IR.
16.1.2.2. Phân tích định lượng
Định lượng là lĩnh vực ứng dụng chủ yếu của phương pháp phổ UV và VIS.
Nhiều chuyên luận trong Dược điển đã dùng phương pháp này để định lượng các
hoạt chất.
Cơ sở của phương pháp là dựa vào công thức:
A = ε .C.l
Có nhiều kỹ thuật định lượng bằng phổ UV và VIS:
- Phương pháp đo trực tiếp
- Phương pháp so sánh.

193
- Phương pháp đường chuẩn.
- Phương pháp thêm đường chuẩn.
- Phương pháp chuẩn độ đo quang.
- Phương pháp quang phổ vi sai.
- Phương pháp phổ đạo hàm.
Những phương pháp này sẽ được trình bày kỹ trong các giáo trình khác(phân
tích dụng cụ hay các chuyên đề sau đại học…)
Đặc biệt việc phân tích từng thành phần trong một hỗn hợp mà không phải tách
riêng từng thành phần ra là một ưu điểm của phương pháp phân tích phổ UV và VIS.
16.1.2.3. Máy quang phổ
Ở đây chỉ giới thiệu nguyên tắc cấu tạo của các máy quang phổ UV và VIS.
Các máy này đều gồm 5 khối chức năng chính, theo sơ đồ khối như sau (Hình 2.2).

Nguồn Hệ tạo ánh Quang Ngăn Bộ


phát sáng đơn kế đựng thu
bức xạ sắc mẫu đo bức

Hình 16.2. Sơ đồ khối máy quang phổ UV và VIS

- Nguồn phát bức xạ: gồm có 2 loại đèn nguồn. Đèn dây tóc (tungsten) phát
ra ánh sáng vùng phổ kiến có λ > 320 nm. Đèn hydro (hay Deutri - D2) phát ra ánh
sáng tử ngoại có λ < 350 nm. Đèn Xenon phát ánh sáng có λ = 200-800nm.
- Hệ đơn sắc (monochromator): Ánh sáng từ nguồn phát ra là ánh sáng đa sắc,
hoặc có độ đơn sắc chưa cao. Để làm đơn sắc ánh sáng, có nhiều cách khác nhau:
+ Dùng kính lọc cho ta chùm ánh sáng có độ đơn sắc không cao, thường chỉ
dùng trong các quang kế thông thường (photometre). Trong các máy quang phổ
(spectrophotometre) người ta dùng một trong 2 thiết bị sau.
+ Dùng lăng kính, dựa vào sự tán sắc ánh sáng để biến ánh sáng đa sắc thành
đơn sắc. Nếu đo các vùng UV thì phải dùng lăng kính thạch anh.
+ Dùng cách tử (grating) xem phần cách tử nhiễu xạ.

194
- Quang kế: Quang kế thực chất là một hệ thống các thiết bị quang học
như khe sáng, các gương, lăng kính, thấu kính... để làm các chức năng quang học
khác nhau.
- Ngăn đựng mẫu đo: Có loại một ngăn dùng cho máy quang phổ một chùm
tia, có loại hai ngăn dùng cho máy hai chùm tia. Cốc đo cũng có hai loại, loại bằng
thuỷ tinh chỉ dùng để đo vùng khả biến, loại bằng thạch anh dùng cả UV và VIS. Bề
dày cốc cũng khác nhau tuỳ theo yêu cầu đo loại thông dụng có bề dày 1 cm
- Bộ thu bức xạ: Bộ phận này có chức năng chuyển các tín hiệu quang phổ
thành tín hiệu điện xử lý tín hiệu để hiển thị kết quả đo trên đồng hồ, trên giấy vẽ
phổ hay trên bản in của máy vi tính.
Để biến tín hiệu quang thành tín hiệu điện, người ta có thể dùng các loại tế
bào quang điện, ống nhân quang điện, quang điện trở. Một số máy hiện đại dùng
các mảng diot (diode array) làm bộ bức xạ (detetor).
Các máy quang phổ hiện nay thường có gắn kết nối với máy vi tính để xử lý
tín hiệu đầu ra của máy quang phổ. Nhờ vậy công việc phân tích trở nên nhanh
chóng, thuận lợi và chính xác hơn nhiều.
16.1.3. Cơ chế hấp thụ ánh sáng và phát sáng
Các phản ứng hóa sinh bao giờ cũng đi liền với sự hấp thụ và phát xạ nhiệt. Ta
có thể giải thích cơ chế hấp thụ và phát sáng trên cơ sở phân tích sơ đồ năng lượng
của nguyên tử.
Dưới tác dụng của lượng tử, hay tác dụng bức xạ nhiệt các điện tử của nguyên
tử hấp thụ năng lượng ấy chuyển từ mức năng lượng cơ bản sang mức năng lượng
cao hơn (mức năng lượng ở trạng thái kích thích). Quá trình đó có thể coi là quá
trình tích lũy năng lượng. Nhưng trạng thái này là trang thái không bền vững luôn
luôn có xu hướng trở về trạng thái ban đầu (cơ bản) bằng cách giải phóng một phần
năng lượng tích lũy ở dạng nhiệt (dạng không phát quang) hoặc năng lượng dưới
dạng năng lượng lượng tử (dạng phát quang), hoặc có thể được sử dụng trong các
phản ứng quang hóa.
Tập hợp các đường ngang dưới đây được gọi là một sơ đồ mức năng lượng,
trong đó:

195
So: mức năng lượng ứng với trạng thái cơ bản.
S0*,S1*,S2*,...: mức năng lượng ứng với trạng thái kích thích Singlet
T: mức năng lượng ứng với trạng thái kích thích Triplet

196
s2*
5 s1*

5
s0*

5
1 2 3
2 T
4
s0

Hình 16.3. Sơ đồ chuyển mức năng lượng của các điện tử khi hấp thụ và phát sáng

Trạng thái kích thích Singlet (S) là trạng thái của một lớp điện tử khi mà tất cả
các spin của các điện tử đều tạo cặp và mômen spin tổng cộng bằng 0.
Trạng thái kích thích Triplet (T) là trạng thái ứng với mức năng lượng cấm
ở đó không phải mọi điện tử đều tạo cặp, hình chiếu của tổng mômen spin trên
một phương nào đó cho trước nhận giá trị +1,0,-1. Đặc điểm của trạng thái kích
thích Triplet là: điện tử không thể từ trang thái cơ bản S0 chuyển lên mà nó chỉ
có thể chuyển từ trạng thái kích thích Singlet sang bằng một bước chuyển không
phát quang.
Có 2 dạng phát quang cơ bản: Huỳnh quang và lân quang
+ Huỳnh quang: Là sự bức xạ lượng tử ánh sáng do các điện tử chuyển từ
trạng thái kích thích Singlét xuống trạng thái cơ bản. Thời gian nguyên tử (phân tử)
tồn tại ở trạng thái kích thích Singlét xuống trạng thái cơ bản. Thời gian nguyên tử
(phân tử) tồn tại ở trạng thái kích thích Singlét vào khoảng 10-9 - 10-8s vì thế huỳnh
quang chỉ tồn tại trong khoảng thời gian chiếu sáng vật.
Theo định luật Stock, năng lượng photon của ánh sáng kích thích bao giờ cũng
lớn hơn năng lượng photon ánh sáng phát quang.
hνkt = hνpq + ΔE (16.13)

197
λ pq > λ kt, ΔE là năng lượng cho các quá trình không phải là quang học (nhiệt
học, hóa học). Sự phụ thuộc của cường độ phát quang của một nguồn vào bước
sóng gọi là phổ phát quang của nguồn.
Trong phân tử có thể tồn tại nhiều mức năng lượng kích thích, vì thế điện tử
chuyển lên mức nào là phụ thuộc vào năng lượng của lượng tử bị hấp thụ. Còn sự
phát quang bao giờ cũng bắt đầu ở phân mức năng lượng thấp nhất. Chẳng hạn khi
kích thích phân tử bằng ánh sáng xanh da trời có năng lượng đáng kể, hiệu quả của
sự phát quang sẽ giống như khi kích thích bằng lượng tử ánh sáng màu đỏ có năng
lượng thấp hơn màu của ánh sáng phát quang của một loại phân tử .... phụ thuộc vào
bước sóng của ánh sáng gây nên trạng thái kích thích phân tử.
- Lân quang: là bức xạ lượng tử ánh sáng do các phân tử phát ra khi chúng
chuyển từ trạng thái kích thích Triplet xuống trạng thái cơ bản. Quá trình của nó là:
Từ trạng thái cơ bản → kích thích Singlet → kích thích Triplet → Trạng thái cơ bản.
Các phân tử sau khi hấp thụ phải trải qua một thời gian nào đó rồi mới xảy ra
hiện tượng lân quang, nghĩa là khi tắt nguồn sáng thì lân quang vẫn còn có thể phát
sáng trong một thời gian đáng kể.
Ngoài 2 dạng phát quang trên còn có hiện tượng phát quang hóa học và phát
quang sinh học.
Phát quang hóa học: xảy ra khi các phân tử tương tác với nhau có thể sinh ra
lượng tử năng lượng thuộc vùng ánh sáng hồng ngoại, nhìn thấy, tử ngoại.
- Phát quang sinh học: thuộc loại phát quang hóa học trong đó bản chất của nó
là quá trình men.
16.1.4. Sự di chuyển năng lượng trong hệ sinh vật
Năng lượng lượng tử được phân tử hấp thụ có thể được giải phóng dưới dạng
phát xạ (phát lượng tử), cũng có thể được truyền từ phân tử này sang phân tử khác,
hay từ hệ phân tử này sang phân tử khác với khoảng cách khá xa.
Chẳng hạn trong hệ sinh vật có 2 loại phân tử A và B. Khi chiếu sáng vào
hệ sinh vật, thì phổ hấp thụ của vật trùng với phổ hấp thụ của phân tử A, sau đó
hệ phát quang thì phổ phát quang lại trùng với phổ phát quang của phân tử B.
Điều đó chứng tỏ phân tử A hấp thụ năng lượng, truyền cho phân tử B, phân tử B
mới phát quang.

198
16.2. TÁC DỤNG CỦA ÁNH SÁNG LÊN CƠ THỂ SỐNG
16.2.1. Đại cương tác dụng của ánh sáng lên cơ thể sống
16.2.1.1. Các quá trình quang sinh
Định nghĩa: Khi một chùm photon được chiếu vào một cơ thể sinh vật, bên
trong cơ thể sinh vật đó sẽ xảy ra một loạt các hiệu ứng và các quá trình, được gọi
là các quá trình quang sinh.
Khi nghiên cứu một quá trình quang sinh, người ta thường xem xét theo 2
quan điểm sau:
• Quan điểm năng lượng: theo quan điểm này, các qúa trình quang sinh
được chia thành 4 giai đoạn chính kế tiếp nhau như sau:
- Giai đoạn 1: Chùm phôton bị hấp thụ bởi các sắc tố hoặc các chất khác
tạo nên trạng thái trạng thái kích thích, nghiã là xảy ra sự tích luỹ năng lượng
trong sinh hệ.
- Giai đoạn 2: Khử trạng thái kích thích của cơ thể. Giai đoạn này hoặc giải
phóng năng lượng kích thích bằng các quá trình quang lý (toả nhiệt hay phát quang).
Hoặc bằng các quá trình quang hoá dẫn tới các sản phẩm quang hoá đầu tiên.
- Giai đoạn 3: Những phản ứng tối trung gian với sự tham gia của các sản
phẩm quang hoá không bền nói trên để tạo nên các sản phẩm quang hoá bền vững
(Gọi là các phản ứng tối vì khi đó không có sự tham gia trực tiếp của ánh sáng).
- Giai đoạn 4: Đó là giai đoạn xảy ra các hiệu ứng sinh vật, hay nói cách
khác là các diễn biến sinh lí và cấu trúc của sinh hệ.
• Quan điểm hiệu ứng hiệu ứng sinh vật: theo quan điểm này, các phản ứng
quang sinh được chia thành hai nhóm lớn như sau:
* Nhóm các phản ứng sinh lý chức năng:
Là các phản ứng xảy ra với sự tham gia trực tiếp của ánh sáng mà kết quả là
nó tạo ra các sản phẩm cần thiết cho tế bào hay có thể để thực hiện các chức năng
sinh lý bình thường của chúng. Có thể chia thành 3 loại:
- Phản ứng tạo năng lượng (ví dụ: quang hợp).
- Phản ứng thông tin: các photon thông qua các sản phẩm quang hoá kích thích
các cơ quan khuếch đại đặc biệt, kết quả là sinh hệ nhận được thông tin cần thiết từ môi
trường bên ngoài (Thị giác ở động vật, hướng quang và quang hình thái ở thực vật ...).
- Sinh tổng hợp các phân tử hữu cơ (các chất diệp lục, vitamin...).

199
* Nhóm các phản ứng phá huỷ biến tính
Là chuỗi các phản ứng xảy ra dưới tác dụng của ánh sáng mà kết quả là:
gây bệnh lý, gây đột biến di truyền và gây tử vong.
16.2.1.2. Hiệu suất lượng tử
Khi chiếu ánh sáng tới cơ thể sống để gây nên hiệu ứng sinh vật thì đối tượng
phải hấp thụ phôton.
Hiệu suât lượng tử ϕ = số phân tử bị kích thích/ số phân tử đã hấp thụ ánh sáng.
Cho chúng ta biết hiệu suất sử dụng năng lượng của quá trình quang sinh
được khảo sát.
16.2.1.3. Phổ tác dụng
Đường cong biểu diễn sự phụ thuộc của hiệu ứng sinh học do ánh sáng tới
gây nên theo bước sóng của ánh sáng gọi là phổ tác dụng.
Chẳng hạn: dùng 10 ống nghiệm đựng vi khuẩn có mật độ, thể tích, thời gian
chiếu sáng bởi các bước sóng từ λ1 - λ10, sau đó xét tỉ lệ vi khuẩn bị khử độc tính là
con số đặc trưng cho hiệu ứng quang sinh → ta vẽ được đồ thị biểu thị tỉ lệ vi khuẩn
bị khử hoạt tính phụ thuộc bước sóng.
16.2.2. Một số quá trình quang sinh và ứng dụng
16.2.2.1. Quang hợp
Quang hợp là ví dụ điển hình về loại phản ứng tạo và tích lũy năng lượng
trong nhóm các phản ứng sinh lý chức năng.
- Định nghĩa: Quang hợp là một hiệu ứng xảy ra ỏ cây xanh dưới tác dụng
của ánh sáng, trong đó có sự khử cacbonic (CO2), tạo oxy (O2) và hyđrát cácbon
(CH2O) mà kết quả là cây xanh tích tụ năng lượng từ ánh sáng bị hấp thụ trong các
chất được tạo thành.
Sơ đồ tổng quát của các phản ứng xảy ra ở hạt diệp lục của cây xanh tóm tắt như
sau:
CO2+ 2H2O + nhv = CH2O + O2 + H2O (16.14)
Lưu ý:
- Quá trình quang hợp là quá trình truyền điện tử. Phản ứng cơ bản nhất của
quang hợp là sự di chuyển của nguyên tử H từ phân tử H2O → CO2 để tạo thành
CH2O. Sự di chuyển Hydro có thể xem là quá trình gồm 2 giai đoạn chính: là di

200
chuyển điện tử, sau đó là di chuyển proton (H+). Quá trình di chuyển điện tử thì
phải tốn năng lượng, còn giai đoạn di chuyển proton thì trong nội bào bao giờ cũng
chứa một lượng proton đáng kể. Vì vậy chúng dễ dàng tham gia vào các trung tâm
phản ứng.
Tốc độ hấp thụ CO2 từ môi trường xung quanh (bằng tốc độ thải O2) phụ
thuộc vào cường độ ánh sáng chiếu tới hay vào tốc độ hấp thụ ánh sáng. Biết nhiệt
lượng tỏa ra khi đốt cháy đối với phản ứng ngược có thể tính được số photon tối
thiểu cần thiết để khử một phân tử CO2. Lượng năng lượng cần thiết để khử một
phân tử CO2 cho tới khi tạo thành hydrat cacbon vào khoảng 112kcal/mol hay 4,9
ev cho một phân tử.
- Chất diệp lục (Chlorophyl) là sắc tố cơ bản tham gia quá trình quang hợp,
chất này được chứa trong các hạt lục lạp (mỗi hạt chứa khoảng 100 phân tử diệp lục).
- Sự sắp xếp tương hỗ của các phân tử diệp lục, protit, lipit trong các hạt lục
lạp cũng có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp.
- Về phương diện năng lượng: quá trình quang hợp làm tăng năng lượng tự do,
tức là làm giảm tương đối entropi của hệ, sở dĩ như vậy là vì sinh hệ là một hệ mở.
- Do tính chất dự trữ năng lượng, giải phóng O2 và khử CO2 nên quang hợp
là một quá trình hết sức quan trọng đối với sự sống.
16.2.2.2. Sinh tổng hợp sắc tố và vitamin
- Một trong những phản ứng quang sinh lí chức năng có tầm quan trọng lớn
trong sự tồn tại và phát triển của sự sống là các phản ứng quang tổng hợp các sắc tố
và vitamin.
- Trong chuỗi tự nhiên của chuỗi các phản ứng sinh tổng hợp dẫn đến sự tạo
thành trong tế bào các sắc tố và vitamin, có tồn tại các phản ứng quang hoá. Điều đó
cho phép khẳng định vai trò không thể thiếu của các lượng tử ánh sáng trong việc tổng
hợp các chất nói trên.
Ví dụ: sinh tổng hợp vitamin D. Dưới tác dụng của các lượng tử ánh sáng bất kỳ
một tiền chất nào trong số ergosterol, Lumisterol, Taxisterol, Preergocalcipherol đều
dẫn đến sự tạo thành vitamin D. Bản chất của phản ứng quang hoá chính là sự phá vỡ
liên kết đồng hoá trị C-C trong vòng benzol giữa các nguyên tử cácbon 9 và10 ở
ergosterol và lumisterol dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại.

201
- Nói chung trong các phản ứng này năng lượng của ánh sáng cần thiết để
cung cấp năng lượng cho phản ứng chứ không dẫn đến sự dự trữ năng lượng trong
các sản phẩm của phản ứng như trong quá trình quang hợp.
- Giai đoạn quang hoá thường xảy ra ở giữa hoặc cuối của chuỗi sinh tổng hợp
các chất trên không đồng đều cho nên biểu hiện lâm sàng rất phức tạp. Do vậy việc
chẩn đoán bệnh cần phải nhiều công phu và cần có những dụng cụ riêng biệt.
16.2.2.3. Phản ứng thông tin (thông tin cảm thụ ánh sáng)
Ánh sáng mang các thông tin về môi trường ngoài đến cho sinh vật: hoa
hướng dương hướng theo mặt trời, hàng loạt cácloài hoa nở theo khoảng thời gian
xác định trong ngày, hàng loạt vi khuẩn phản ứng khi chiếu sáng.... Mắt hầu như là
cơ quan hoàn chỉnh nhất để tiếp nhận ánh sáng (cường độ, bước sóng...) tạo ra các
xung động thần kinh dẫn lên não giúp ta nhận thức được môi trường xung quanh.
Phản ứng quang hoá phân huỷ sắc tố thị giác phát sinh các xung động thần kinh
truyền lên dây thần kinh thị giác để có cảm giác sáng là phản ứng thông tin.
16.2.2.4. Tác dụng quang động lực
Định nghĩa: Tác dụng quang động lực là sự tổn thương không phục hồi một
số chức năng sinh lý và cấu trúc của sinh hệ dưới tác dụng của ánh sáng với sự
tham gia của O2 và chất hoạt hoá.
* Tác dụng của quang động lực lên Protit và Axit nuclêic:
- Những công trình thí nghiệm chứng tỏ: quang động lực làm giảm tính kích
hoạt của các men và ức chế tính kháng nguyên của chúng.Thí dụ: khi có chất
metylen kích hoạt ánh sáng sẽ làm cho hoạt tính của trypzin giảm đi.
- Tác dụng quang động lực làm giảm khả năng hoà tan và làm tăng độ nhớt
của Protêin và các sắc tố Globulin trong máu. Thí dụ: Khi chiếu ánh sáng vào dung
dịch Actomiozine với chất hoạt hoá là eritroxine thì Actomiozine sẽ chuyển sang
trạng thái gel, sau đó nếu khuấy lên thì chất này lại trở về trạng thái lỏng. Người ta
thấy hiện tượng tương tự đối với các phân tử ATP khi bị chiếu sáng với sự tham gia
của eritrôxine.
- Tác dụng quang động lực làm giảm đáng kể độ nhớt và khả năng lắng của
các axit Nucleic. (Sở dĩ như vậy là do các phản ứng quang hoá đã làm gãy cấu trúc
của các Guanin (phản ứng khử Pôlime) và làm thay đổi nhiệt độ phân huỷ của các

202
phân tử ADN. Những thương tổn có tính chất cấu trúc của các axit Nucleic dưới tác
dụng quang động lực dẫn dến sự phá huỷ hoạt tính sinh học của chúng.
* Tác dụng quang động lực lên cơ thể sinh vật
- Quan sát tác dụng quang động lực lên các tế bào và các mô nuôi cấy, người
ta thấy: tác dụng quang động lực làm rối loạn quá trình sống - trước hết là quá trình
quang hợp. Một số súc vật như trâu, bò, ngựa... ăn phải thực vật có chứa chất hoạt
hoá sẽ bị xạm, loét da và rụng lông.
- Nhiều chất hoạt hoá phản ứng quang động lực có khả năng gây ung thư.
Chiếu bức xạ nhìn thấy có cường độ mạnh vào chuột sau khi tiêm chất hoạt hoá là
Pocpirin hay Eôzin ta thấy sau một thời gian chuột bị ung thư.
- Đối với người già chất Pocpirin (xuất hiện trong quá trình hình thành huyết cầu)
không bị phân huỷ, lượng này được tích luỹ dưới da, do đó tỉ lệ ung thư da ở người
già thường cao hơn ở các lứa tuổi khác.
* Tác dụng quang động lực lên dược chất
- Trong điều trị người ta thường dùng nhiều loại thuốc, trong đó có chứa
thành phần các chất hoạt hoá. Các loại sunphonamite là một ví dụ điển hình, một
trong những tác dụng phụ của loại thuốc này là làm tăng lương porpirin trong máu.
Khi chiếu ánh sáng vào da thì có thể gây ra các rối loạn thần kinh.
- Tác dụng quang động lực cũng còn thấy ở một số các loại Bucbiturat, là các
dược chất thường dùng điều chế thuốc ngủ (Several, Luminal,...). Khi sử dụng thuốc
này người bệnh phải kiêng ra nắng, vì dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời các chất
porpirin sẽ gây nên các rối loạn về men, các triệu chứng như bị nhiễm độc chì, các
rối loạn da, thần kinh ...
16.3. MẮT VÀ DỤNG CỤ BỔ TRỢ
16.3.1. Quang hình học của mắt
16.3.1.1. Sơ lược về cấu tạo của mắt
Mắt còn gọi là nhãn cầu, có dạng hình cầu, đường kính đo theo trục trước sau
khoảng 22mm. Mặt ngoài của mắt có sáu bó cơ vận động bám vào để giúp cho mắt
có thể quay được nhiều phía khác nhau và định hướng khi nhìn. Vỏ của con mắt
được cấu tạo bởi các lớp màng đàn hồi, bao gồm ba loại, tính từ ngoài vào trong
(Hình 16.4) là:

203
- Củng mạc là màng ngoài cùng, bao kín 3/4 phía sau con mắt. Là lớp xơ dày,
dai, trắng như sứ, ánh sáng không lọt qua được.
- Ở 1/4 phía trước là lớp mô trong suốt, ánh sáng xuyên qua được gọi là giác
mạc. Giác mạc có bán

kính cong nhỏ hơn bán Cñng m¹c
Vâng m¹c
kính cong của củng mạc. Mèng m¾t
- Mạch mạc còn gọi Gi¸c m¹c Thuû tinh thÓ §iÓm vμng
là màng mạch, nằm trong
ThÇn kinh
củng mạc. Màng mạch chứa thÞ gi¸c
Thuû dÞch
nhiều mạch máu để nuôi Thuû tinh dÞch

dưỡng mắt và có nhiều sắc Mμng m¹ch


tố đen giữ cho bên trong

nhãn cầu như một buồng tối.
Hình 16.4
Ngay phía sau giác mạc,
màng mạch có một phần rủ xuống tạo thành màng chắn có màu đen hoặc nâu, màng
chắn có một lỗ hở hình tròn có đường kính thay đổi được, lỗ hở này gọi là đồng tử. ánh
sáng sau khi xuyên qua giác mạc sẽ đi qua đồng tử vào phía trong.
Do đồng tử tự thay đổi được bán kính nên có khả năng tự điều chỉnh thông
lượng của ánh sáng tác dụng vào võng mạc. Với ánh sáng có độ rọi lớn tác dụng
vào mắt thì đồng tử tự động co lại để làm giảm lượng ánh sáng tác dụng vào mắt,
với ánh sáng có độ rọi nhỏ thì đồng tử tự giãn rộng ra, do đó thông lượng ánh sáng
vào mắt sẽ tăng lên.
Võng mạc là lớp màng trong cùng, được cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào nhưng
quan trọng nhất là lớp tế bào thần kinh thị giác. Các tế bào này tập trung thành các sợi
thần kinh nhỏ nối liền với dây thần kinh thị giác. Có hai loại tế bào thần kinh cảm thụ
được ánh sáng, đó là tế bào nón và tế bào que. ở mắt người có chừng 7 triệu tế bào
nón và 130 triệu tế bào que. Sự phân bố của hai tế bào thần kinh này trên võng mạc là
khác nhau, tế bào nón tập trung vào vùng gần điểm vàng (phần võng mạc nằm gần
giao điểm giữa trục chính của mắt với võng mạc). ở điểm vàng võng mạc mỏng hơn
ở chỗ khác do đó bị lõm xuống tạo nên hố trung tâm, ở đây mật độ tế bào nón rất cao
(khoảng 150.000 tế bào /mm2). Khi nhìn vật thì ảnh của vật sẽ hiện lên ở hố trung

204
tâm. Càng xa điểm vàng thì mật độ tế bào nón giảm dần và mật độ tế bào que tăng lên,
ở vùng xa điểm vàng thì ở võng mạc chỉ còn tế bào que.
Đặc điểm và chức năng của hai loại tế bào thần kinh này không giống nhau.
Tế bào nón cảm thụ được ánh sáng có độ rọi lớn và có khả năng phân biệt được
hình thể, màu sắc và chi tiết các vật. Tế bào que cảm thụ ánh sáng có độ rọi nhỏ (có
độ nhạy lớn hơn so với tế bào nón). Do vậy vùng xa điểm vàng ta chỉ có cảm giác
sáng tối.
Môi trường bên trong nhãn cầu được chia làm hai phần ngăn cách nhau bởi
thủy tinh thể. Thủy tinh thể trong suốt, hai mặt lồi, mặt cong phía trước có bán kính
lớn hơn mặt cong phía sau. Nhờ sự thay đổi sức căng của dây chằng treo truỷ tinh
thể và tính đàn hồi của bản thân thủy tinh thể mà nó có khả năng thay đổi bán kính
cong mặt trước, sau dẫn đến sự hội tụ của mắt thay đổi khi ta quan sát các vật ở xa
hoặc gần. Thuỷ tinh thể có chiết suất khoảng 1,43 và độ tụ khoảng 12÷14 điôp.
Khoảng giữa giác mạc và thuỷ tinh thể chứa dịch trong suốt. Khoảng giữa
thủy tinh thể và võng mạc chứa thuỷ tinh dịch hay còn gọi là dịch kính. Do các
thể dịch trong mắt luôn lưu thông nên áp suất của mắt giữ không đổi ở giá trị 12
÷25 mmHg.
16.3.1.2. Quang hình học của mắt
Theo cấu tạo của mắt, về
phương diện quang hình thì mắt
được cấu tạo bởi các môi trường
chiết quang ngăn cách nhau bằng
S O t©m l¦ ìng chÊt cÇu
mặt cầu khúc xạ tạo nên ba lưỡng
Gi¸c
chất cầu: m¹c Vâng
m¹c
- Lưỡng chất cầu giác mạc
là quang hệ tạo nên do giác mạc Hình 16.5
ngăn cách môi trường không khí
với thuỷ dịch. Giác mạc có độ dày khoảng 1mm, bán kính cong 8mm, chiết suất
thuỷ dịch 1,336 và độ tụ của quang hệ là 45 điôp.

205
- Lưỡng chất cầu thuỷ tinh thể trước do mặt cong trước thuỷ tinh thể ngăn
cách thuỷ dịch với thuỷ tinh thể. Bán kính cong mặt trước thuỷ tinh thể khoảng
10mm, chiết suất trung bình 1,388 và độ tụ của hệ là 7 điôp.
- Lưỡng chất cầu thuỷ tinh thể sau do mặt cong phía sau thuỷ tinh thể ngăn
cách thuỷ tinh thể với dịch thuỷ tinh. Bán kính cong mặt sau thuỷ tinh thể khoảng
8mm, chiết suất dịch thuỷ tinh là 1,36 và độ tụ của quang hệ khoảng 12 điôp.
Ba lưỡng chất cầu trên có cùng trục chính và hợp lại thành một hệ quang
học. Hệ này coi như được ghép bởi ba hệ quang học có chiết suất khác nhau. ánh
sáng xuyên vào mắt, nó sẽ bị khúc xạ khi truyền qua ba lưỡng chất cầu và cuối cùng
sẽ tác dụng lên các tế bào thần kinh ở võng mạc. Như vậy hệ quang học của mắt sẽ
có một tâm điểm duy nhất. Do đặc điểm này mà chúng ta có thể thay thế ba hệ
quang học gồm ba lưỡng chất cầu bằng một lưỡng chất cầu tổng hợp còn gọi là con
mắt ước lược (Hình 16.5).
Lưỡng chất cầu tổng hợp có mặt cầu ngăn cách môi trường không khí với
môi trường bên trong mắt. Mặt cầu khúc xạ có mặt lồi quay ra phía trước, bán kính
cong 5mm, đỉnh cách giác mạc 2mm, quang tâm cách giác mạc 7mm và cách võng
mạc 15mm, chiết suất của quang hệ là 1,333.
Do hệ quang học này có môi trường thứ nhất là không khí, môi trường thứ
hai là môi trường bên trong mắt có chiết suất xác định là n nên tiêu cự của lưỡng
chất cầu tổng hợp được tính theo công thức sau:
nR 1,333 × 5
f = = = 20mm (16.15)
n − 1 1,333 − 1

Trong đó f là tiêu cự, R là bán kính cong của mặt cầu tổng hợp, n là chiết
suất môi trường, chiết suất của không khí bằng 1.
Từ các thông số quang hình của lưỡng chất cầu tổng hợp và độ lớn tiêu cự ta
thấy võng mạc của mắt nằm trên mặt phẳng tiêu của lưỡng chất cầu tổng hợp.
Đường thẳng đi qua đỉnh mặt cầu và quang tâm gọi là trục chính, đường thẳng đi
qua quang tâm và điểm vàng gọi là đường nhìn thẳng. Khi nhìn một vật thì mắt
hướng đường nhìn thẳng đi qua vật ấy. Nếu đường nhìn thẳng hướng vào điểm cố
định ở phía trước thì khoảng không gian mà một mắt nhìn thấy là một hình nón có
góc mở ngang 1600, góc mở đứng 1300. Khoảng không gian này gọi là thị trường.

206
Thực tế thị trường rộng hơn nhiều do mắt có thể xoay trong hốc mắt làm cho đường
nhìn thẳng thay đổi. Mặt khác do luôn nhìn bằng hai mắt phối hợp với động tác
quay đầu nên thị trường được mở rộng hơn. Việc vẽ ảnh của vật qua 3 hệ lưỡng chất
cầu tổng hợp sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều.
16.3.1.3. Khả năng điều tiết của mắt
Mắt bình thường, khi nghỉ, có tiêu điểm ở đúng trên võng mạc. Khi mắt nhìn
một vật AB ở vô cực, thì ảnh A’B’ của AB cũng ở đúng trên võng mạc.
Cho vật AB tiến dần lại gần mắt, nếu quang hệ của mắt không thay đổi gì, thì
ảnh của vật sẽ lùi dần ra sau võng mạc, và mắt không trông rõ vật nữa. Để nhìn rõ
vật, tức là ảnh vẫn hiện đúng trên võng mạc, mắt phải tăng độ tụ của quang hệ: các
cơ giữ thuỷ tinh thể bóp lại và nén cho thuỷ tinh thể phồng thêm lên. Độ tụ của
quang hệ tăng, tiêu điểm ảnh F’ tiến ra trước võng mạc một chút, và ảnh A’B’ về
đúng trên võng mạc. Hoạt động này của mắt gọi là sự điều tiết. Thông thường, mắt
điều tiết một cách tự động, khá nhanh và mắt có xu hướng tự nhiên là điều tiết vào
chỗ sáng nhất trên vật. Tuy nhiên, nếu cố gắng cũng có thể chủ động bắt mắt mình
điều tiết vào một điểm tuỳ ý. Nhờ khả năng điều tiết, mắt mới nhìn rõ cả những vật
ở xa, lẫn vật ở gần. Tuy nhiên khả năng này không phải là vô hạn.
Giả sử ta cho vật AB chuyển dịch từ vô cực lại gần mắt. Khi vật ở vô cực,
mắt không phải điều tiết, ảnh của vật vẫn ở đúng trên võng mạc, nhưng rất nhỏ. Vật
tiến lại gần, mắt phải điều tiết để giữ cho ảnh vẫn ở đúng trên võng mạc. Vật tiếp
tục lại gần hơn, thì mắt lại điều tiết thêm. Cuối cùng, khi vật tới điểm CC, cách mắt
chừng 20 cm, thuỷ tinh thể đã phồng lên mức tối đa, mắt không thể điều tiết thêm
nữa. Nếu vật tiến lại gần mắt hơn, thì mắt không nhìn rõ nữa. OCC = A C là khoảng
ngắn nhất phải đặt vật cách mắt, để nhìn rõ nó, gọi là khoảng nhìn rõ ngắn nhất.
Điểm CC gọi là cận điểm của mắt.
Điểm xa nhất CV, mà mắt nhìn rõ một vật đặt ở đó, không phải điều tiết gọi
là viễn điểm, và khoảng cách OCV = A V gọi là khoảng nhìn rõ lớn nhất. Mắt bình

thường có viễn điểm CV ở vô cực và A V = ∞. Khoảng cách từ CV đến CC, giữa viễn
điểm và cận điểm gọi là khoảng nhìn rõ của mắt, vì có thể đặt vật ở bất kỳ điểm nào
ở trong khoảng ấy, mắt cũng nhìn thấy rõ vật.

207
1 1
Hiệu số − =R (16.16)
AV A C
Gọi là biên độ điều tiết của mắt. Nếu A V và A C được đo bằng mét, thì R
được tính ra đi-ôp.
Đối với con mắt bình thường, thì A V = ∞, A C chừng 20 cm, ta có:

1 1
R= − = 5 đi-ôp
∞ 0 ,2
Mắt của những người cùng một lứa tuổi, sức khoẻ bình thường có biên độ
điều tiết xấp xỉ bằng nhau, không phân biệt mắt cận thị hoặc viễn thị.

16.3.2. Khả năng phân ly của mắt


Giả sử có một điểm sáng A phía trước mắt ở khoảng cách nhìn rõ, qua mắt ta
sẽ thu được hình ảnh A’ của A trên võng mạc. Do đồng tử của mắt có bán kính khá
bé nên A’ sẽ là một ảnh nhiễu xạ và bán kính ρ của vân sáng trung tâm cũng được
xác định theo công thức (6.49). Do ánh sáng vào mắt là ánh sáng hỗn hợp có bước
sóng từ 0,40 - 0,76μm nên thường cho bước sóng một giá trị trung bình λ = 0,50
μm, tiêu cự của mắt f = 20 mm, đồng tử có bán kính 2,5mm, áp dụng công thức
6.49, ta có:
0, 5.20.10 −3
ρ = 0, 61 = 2, 44 μ m (16.17)
2, 5.10 −3
Giả sử khi ta quan sát một vật sáng có kích thước AB ở khoảng nhìn rõ của
mắt thì trên võng mạc sẽ có ảnh A’B’ của AB (Hình 6.23) ngược chiều và nhỏ hơn
AB nhiều lần. Do có sự tham gia của ý thức mà ta vẫn đánh giá đúng kích thước và
vị trí của vật
Góc AOB = α gọi là góc phân ly của mắt, kích thước của A’B’ cũng như độ
lớn của α phụ thuộc vào kích thước của AB và khoảng cách OH từ quang tâm đến
vật AB.
- Với OH xác định, kích thước AB nhỏ thì góc α nhỏ dẫn đến A’B’ cũng nhỏ.
- AB có kích thước xác định, khi AB càng xa mắt thì α càng bé do vậy kích
thước của A’B’ sẽ càng nhỏ đi. Hai ảnh A’, B’ của A, B sẽ tiến đến gần nhau và đến
một lúc nào đó A’ sẽ trùng lên B’, lúc đó mắt sẽ không phân biệt được khoảng cách

208
giữa A và B nữa. Muốn phân ly được hai điểm A, B thì góc nhìn α phải lớn hơn
hoặc bằng một góc nhìn giới hạn nào đó gọi là góc phân ly tối thiểu αmin, αmin càng
nhỏ thì khả năng phân ly của mắt càng tốt. Nghịch đảo của αmin đặc trưng cho khă
1
năng phân ly của mắt được gọi là thị lực T của mắt: T= (16.18)
α min ( phót)

A
B'
A αmin /2 B'
H α O H d/2 O
F
B αmin
A'
B A'

Võng mạc

Hình 16.6

Bảng 16.1. Thị lực của mắt phụ thuộc vào αmin (phút)
αmin 0.1’ 0.2’ 0.5’ 1’ 2’ 5’ 10’
100 50 20 10 5 2 1
T
10 10 10 10 10 10 10

Vì αmin bé nên ta có thể các định αmin theo độ dài của AB = d và khoảng
cách OH = A
d
α min ≈ radian (16.19)
A
d
1 radian = 3394,28 phút nên αmin =3394,28. phút
A
Vậy thị lực T được xác định như sau:
1 l
T= . (16.20)
3394, 28 d
Từ công thức 16.20 ta cũng có hai phương pháp đánh giá thị lực của mắt:
- Cố định d, thay đổi A .
- Cố định A , thay đổi d.

209
Phương pháp thứ nhất cho phép đánh giá chính xác thị lực của mắt kể cả
trường hợp mắt có sự thay đổi nhỏ về thị lực, tuy nhiên phương pháp này không
thuận lợi và nhanh chóng bằng phương pháp thứ hai. Khi không cần độ chính xác
cao sẽ dùng phương pháp thứ hai để đánh giá thị lực của mắt, bằng cách dùng chữ
cái hay bảng mẫu vật có kích thước nhỏ dần khi đặt chúng cách mắt một khoảng
không đổi OH = l - 5 m.
Khả năng phân ly của mắt phụ thuộc vào trạng thái sinh lý, bệnh lý, tính
chất của các tế bào thần kinh cảm thụ ánh sáng của mắt, vào độ rọi và bước sóng
của ánh sáng. Nếu chúng ta chỉ quan tâm đến yếu tố nhiễu xạ của ánh sáng khi ánh
sáng xuyên qua đồng tử thì theo Rayleigh ở điều kiện chiếu sáng với λ = 0.5 μm,
mắt còn phân biệt được khoảng cách giữa A và B khi khoảng cách ảnh A’B’ lớn
hơn hoặc bằng bán kính mỗi ảnh tức A’B’ ≥ ρ, ta có:
ρ 2,44 33
α min = '
= 3
= 1,6 .10 − 4 radian = phút
OH 15 .10 60

33 18
α min = phút ứng với thị lực T =
60 10
αmi
Kết quả của nhiều phép đo cho thấy một n ρ
mắt bình thường ở điều kiện chiếu sáng bước
sóng trung bình thì góc phân ly tối thiểu αmin = 1
phút. Khi cho ánh sáng có độ rọi nhỏ, lớn chiếu Hình 16.7
vào mắt và kiểm tra thị lực ở nhiều vùng khác nhau trên võng mạc người ta thấy
rằng tế bào nón có khả năng phân ly tốt hơn tế bào que.

16.3.3. Các tật quang hình của mắt và dụng cụ bổ trợ


16.3.3.1. Hiện tượng quang sai
Nhược điểm cơ bản của loại thấu kính cầu mỏng là sự sai sót về quang hình
khi chùm tia song song đi qua thấu kính là chùm tia rộng, các tia gần trục chính sẽ
hội tụ ở điểm xa quang tâm hơn các tia ở gần mép thấu kính. Hiện tượng này gọi là
cầu sai (hình 16.8).
Vì ánh sáng trắng là ánh sáng hỗn hợp bao gồm các bước sóng từ 0,39 ÷0,76
μm, mặt khác n = f(λ), do đó khi qua thấu kính các tia sáng có bước sóng khác nhau

210
sẽ hội tụ hoặc phân kỳ ở các điểm khác nhau trên trục chính của thấu kính do tán
sắc ánh sáng. Hiện tượng này gọi là sắc sai (hình 16.9).
Để khử bỏ các sai sót về quang hình học này người ta thường sử dụng
phương pháp ghép các thấu kính phân kỳ, hội tụ cùng một trục chính. Sau khi ghép
thích hợp thì tất các tia sẽ hội tụ tại một điểm do đó ảnh sẽ phản ánh đúng tính chất
của vật. Muốn khử bỏ sắc sai phải ghép các loại thấu kính khác nhau về bản chất.

L1 L1

O P' P" O
Ft Fd

Hình 16.8.Hiện tượng cầu sai Hình 16.9. Hiện tượng sắc sai
16.3.3.2. Các tật quang hình của mắt và dụng cụ bổ trợ
Với con mắt bình thường (không có tật) thì ảnh của vật luôn luôn hiện đúng
trên võng mạc ở vùng điểm vàng, ảnh rõ nét và phản ánh đúng bản chất của vật về
cả kích thước, màu sắc, tính chất. Tuy nhiên cấu tạo của mắt có thể không bình
thường do bẩm sinh, do bị chấn thương làm xuất hiện các vết sẹo trên giác mạc, do
bệnh của lưỡng chất cầu, do rối loạn khả năng điều tiết... làm cho ảnh không hiện rõ
trên võng mạc tạo nên các chứng cận thị, viễn thị, loạn thị. Để sửa các tật này phải
dùng các dụng cụ bổ trợ cho mắt, đó là các thấu kính cầu mỏng bổ trợ cho mắt bị
cận thị, viễn thị và thấu kính trụ cho trường hợp mắt bị tật loạn thị.
* Cận thị và cách sửa
Mắt cận thị ở trạng thái nghỉ (không điều tiết) có mặt phẳng tiêu nằm trước
võng mạc do đó khi nhìn vật ở vô cực ảnh của vật ở trước võng mạc (Hình 16.10a)
Viễn cận điểm của mắt gần hơn so với mắt bình thường. Trong khoảng từ
viễn điểm đến cận điểm, mắt cận cũng điều tiết như mắt bình thường và khi vật ở
sau cận điểm mắt cận không còn khả năng điều tiết. Để sửa tật cận thị phải dùng
thấu kính mỏng phân kỳ làm dụng cụ bổ trợ.

211
Khi đó ánh sáng qua hệ quang học gồm thấu phân kỳ ghép đồng trục với mắt
sẽ tác dụng lên võng mạc và ảnh của nó sẽ hiện đúng trên võng mạc (hình 16.10b).
Tác dụng của thấu kính phân kỳ làm giảm độ tụ của mắt cận.

¶nh
0

Vâng
m¹c Vâng
m¹c
Hình 16.10a. Mắt cận thị Hình 16.10b. Tật cận thị đã được sửa
* Viễn thị và cách sửa
Ở trạng thái nghỉ mắt viễn thị có mặt phẳng tiêu nằm sau võng mạc nên khi
nhìn vật mà không điều tiết thì ảnh của vật sẽ hiện ở sau võng mạc. Nếu tiêu điểm
không ở xa võng mạc quá thì mắt tự điều tiết để làm tăng độ tụ sao cho ảnh của vật
hiện rõ nét trên võng mạc. Trường hợp mắt viễn nặng (tiêu điểm ở xa võng mạc
quá) thì có điều tiết cũng không nhìn thấy vật ở xa. Khi đưa vật lại gần thì ảnh càng
lùi xa võng mạc. Như vậy viễn thị sẽ không thấy vật ở xa cũng như gần. Trong
trường hợp các tia sáng có phương thích hợp vẫn hội tụ trên võng mạc lúc đó đường
kéo dài của tia gặp trục chính ở điểm sau võng mạc, điểm này gọi là viễn điểm ảo.
Muốn sửa tật viễn thị phải dùng thấu kính mỏng hội tụ bổ trợ, thấu kính này
sẽ làm tăng độ tụ của mắt làm cho ảnh của vật hiện lên trên võng mạc. Thấu kính
sửa phải có độ tụ thích hợp để cho mặt phẳng tiêu của hệ trùng với võng mạc (Hình
16.11b).

Vâng
Vâng
m¹c
m¹c
Hình 16.11a. Mắt viễn thị Hình 16.11b. Tật viễn thị đã được sửa

Cận, viễn thị có thể do nhiều nguyên nhân gây nên nhưng về cơ bản chúng ta
thấy nếu trục của mắt dài, ngắn hơn mắt bình thường, bán kính cong của lưỡng chất

212
cầu lớn nhỏ hơn so với mắt bình thường và sự thay đổi chiết suất của môi trường và
mắt có thể mắc các chứng cận thị hoặc viễn thị.
Khi bệnh đục thuỷ tinh thể mới phát sinh, môi trường tạo nên thuỷ tinh thể
đặc lại, tỉ trọng, chiết suất tăng làm tăng độ tụ dẫn đến mắt bị cận. Sau khi cắt bỏ
thuỷ tinh thể, độ tụ sẽ giảm đi nhiều dẫn đến mắt bị viễn rất nặng.
* Mắt người già
Khả năng điều tiết của mắt người già kém hơn mắt bình thường, mắt người
già có cận điểm xa hơn và không nhìn rõ vật ở gần. ở tuổi 45 đến 50 khi đọc sách
phải để cách xa mắt từ 30 đến 50 cm mới nhìn rõ nhưng có nhược điểm là ảnh sẽ
nhỏ đi. Để khắc phục mắt người già phải đeo thêm một thấu kính cầu hội tụ, độ tụ
tổng cộng không quá 3,5 điôp, với tuổi 45 cần đeo thêm thấu kính có độ tụ +1 điôp
là vừa. Cứ già thêm 5 tuổi thì độ tụ của thấu kính bổ trợ tăng thêm +0,5 điôp với
tuổi quá già (60 tuổi trở lên) thuỷ tinh thể có bán kính cong lớn do đó khi không
điều tiết mặt phẳng tiêu ở sau võng mạc giống mắt viễn do đó không nhìn được vật
ở xa, muốn nhìn thấy vật phải đeo thêm một thấu kính hội tụ có độ tụ nhỏ. Tóm lại
mắt người già phải dùng hai thấu kính mỏng hội tụ bổ trợ, một thấu kính có độ tụ
lớn để nhìn gần và một thấu kính có độ tụ nhỏ hơn để nhìn xa. Thường độ tụ của
thấu kính nhìn gần gấp 3 lần độ tụ của thấu kính nhìn xa, hai loại thấu kính có độ tụ
khác nhau được ghép trên cùng một giá (khung kính).
Với mắt cận, khi về già bán kính cong của lưỡng chất cầu tăng lên, làm giảm
độ tụ do vậy cận nhẹ đi và ở tuổi 45 đến 50 có thể không phải dùng kính nữa. Ngược lại
mắt viễn càng già càng nặng hơn và mắt viễn già nhanh hơn mắt bình thường.
* Loạn thị
Loạn thị là tật của mắt trong đó độ tụ không
d
đều theo mọi phương do các mặt cầu khúc xạ trong
mắt không phải hoàn toàn hình cầu, do vậy ảnh của b
vật hiện trên võng mạc là ảnh nhoè. o
- Trường hợp độ cong của các mặt cầu khúc a

xạ thay đổi bất kỳ theo mọi phương thì mắt mắc


c
chứng bệnh loạn thị không đều. Trường hợp này là
Hình
H×nh16.12
6.28

213
do giác mạc có sẹo, do hậu quả của đau mắt hột hay bị chấn thương do dị vật bắn
vào. Muốn sửa chỉ cần dùng chất dẻo trong suốt có chiết suất như của thuỷ tinh thể
dán vào giác mạc.
− Trường hợp độ cong của các mặt cầu khúc xạ thay đổi đều theo mọi
phương thì mắt mắc chứng bệnh loạn thị đều. Lúc này mặt cong của lưỡng chất cầu
tổng hợp không phải là chỏm cầu mà là một phần của mặt elipsoid tròn xoay (Hình
16.12). Bán kính cong thay đổi đều từ kinh tuyến AOB đến kinh tuyến COD.

L Ư ỡng chất cầu


LƯ ỡng chất cầu
0
0

Hình 16.13. Mắt loạn thị theo quy tắc

Loạn thị đều lại được chia làm hai loại:


+ Loạn thị đều theo quy tắc:
Loạn thị đều theo quy tắc chiếm 85% tổng số trường hợp loạn thị. ở tật này
kinh tuyến ngang AOB có bán kính cong nhỏ hơn bán kính cong của kinh tuyến
đứng COD. Do vậy độ tụ theo phương ngang lớn hơn độ tụ theo phương đứng. Mắt loạn
thị theo quy tắc tương đương với hệ quang học gồm một lưỡng chất cầu ghép với một
thấu kính trụ hội tụ có trục nằm ngang hoặc tương đương với hệ quang học gồm lưỡng
chất cầu ghép với thấu kính trụ phân kỳ có trục thẳng đứng (Hình 16.13).
Một chùm tia sáng song song sau khi qua mắt sẽ hội tụ trên hai đoạn thẳng,
đoạn nằm ngang ở phía trước đoạn thẳng đứng. Tuỳ theo vị trí của võng mạc mà
mắt có thể nhìn rõ một trong hai đoạn thẳng đó hoặc không nhìn rõ cả hai. Khi võng
mạc ở vị trí 1 mắt mắc chứng loạn cận
đơn, ở vị trí 2 là loạn viễn đơn, ở vị trí 3 là
loạn cận kép, ở vị trí 4 là loạn viễn kép, ở 5 4 2 5 3
1
vị trí số 5 loạn hỗn hợp (Hình 16.14).
+ Loạn thị đều không theo quy tắc Vâng m¹c

Hình 6.14

214
Trường hợp này chỉ chiếm 15% tổng số trường hợp loạn thị đều. ởtrường hợp
này kinh tuyến đứng COD có bán kính cong nhỏ hơn bán kính cong của kinh tuyến
ngang AOB, do đó độ tụ theo phương đứng lớn hơn độ tụ theo phương ngang (Hình
16.15). Loạn thị đều không theo quy
x
tắc tương đương với một lưỡng chất x
cầu ghép với một thấu kính trụ hội tụ
có trục thẳng đứng hoặc tương x'
đương với hệ quang học gồm một x'
lưỡng chất cầu ghép với một thấu Hình 16.15
kính trụ phân kỳ có trục nằm ngang.
Một chùm tia sáng song song sau khi qua hệ quang học này sẽ hội tụ trên hai
đoạn thẳng,đoạn thẳng đứng ở phía trước đoạn nằm ngang. Tuỳ theo vị trí của võng
mạc mà ta cũng có các trường hợp sau (Hình 16.16)
- Võng mạc ở vị trí 1 là loạn cận đơn
- Võng mạc ở vị trí 2 là loạn viễn đơn
- Võng mạc ở vị trí 3 là loạn cận kép
- Võng mạc ở vị trí 4 là loạn viễn kép
- Võng mạc ở vị trí 5 là loạn hỗn hợp.

4 2 5 1 3
Vâng
m¹c

Hình 16.16 Hình 16.17. Loạn cận đơn theo


quy tắc đã sửa

* Cách sửa tật loạn thị


Tất cả các tật loạn thị đã nêu trên đều sửa được bằng cách phối hợp các thấu
kính cầu và trụ thích hợp. Ta xét hai trường hợp cụ thể:
- Sửa loạn cận đơn theo quy tắc:

215
Khi không điều tiết, ảnh của một điểm ở vô cực sẽ hiện trên hai đoạn thẳng
(Hình 16.16). Đoạn đứng ở võng mạc, đoạn ngang ở trước võng mạc. Muốn sửa tật
này phải giảm độ tụ theo phương ngang để cho đoạn ngang lùi về võng mạc. Như
vậy phải đeo cho mắt một thấu kính trụ phân kỳ có trục nằm ngang (Hình 16.17).
- Sửa tật loạn hỗn hợp không theo quy tắc:
Khi không điều tiết, ảnh của vật ở vô cực là hai đoạn thẳng, đoạn đứng ở
phía trước võng mạc còn đoạn ngang ở phía sau võng mạc (Hình 16.18).
Ta có thể dùng thấu kính hội tụ có độ
tụ thích hợp để đưa về trường hợp loạn cận
đơn không theo quy tắc, sau đó dùng một thấu
kính trụ phân kỳ có độ tụ thích hợp, trục thẳng
đứng để sửa tật loạn cận đơn.
Trường hợp này cũng có thể dùng thấu
kính cầu phân kỳ để đưa về loạn viễn đơn, sau Hình 16.18
H×nh 6.35
đó dùng thấu kính trụ hội tụ để sửa tật loạn
viễn đơn. Tất cả các trường hợp loạn hỗn hợp và loạn kép đều có thể dùng thấu kính
cầu để đưa về loạn đơn sau đó tiếp tục dùng thấu kính trụ để sửa tiếp tật loạn đơn.
Thực tế thấu kính cầu và trụ được ghép chung thành một cái.
16.4. LASER VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC
16.4.1. Khái niệm về Laser
Laser, một trong những phát minh vĩ đại của thế kỷ XX bắt nguồn từ luận thuyết
về hiện tượng phát xạ cưỡng bức của nhà Vật lý thiên tài Albert Einstein năm 1917.
Nhưng tới năm 1954 các nhà vật lý Baxốp và Prokhôxốp (Liên xô) Savêlốp
và Taoxơ (Mỹ) đồng thời đã công bố công trình về nguyên lý của Laser và họ cũng
được tặng giải thưởng Nobel vật lý 1964. Laser là viết tắt gồm chữ cái đầu của cụm
từ tiếng Anh: Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation (sự khuyếch
đại ánh sáng bằng phát xạ cưỡng bức). Máy laser đầu tiên được Meiman chế tạo
năm 1960 là laser hồng ngọc (Rubi). Tiếp các năm sau người ta đã tìm ra hàng loạt
các chất khác có khả năng phát tia laser như: hỗn hợp khí Heli-Neon (He-Ne) 1961,
bán dẫn Gallium arsen (Ga-as) 1964, tinh thể yurium Alluminium Garnet (YAG)

216
1964, laser mầu 1966, laser khí Cacbonnic (CO2) 1968... Laser dần dần trở thành
một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành khoa học, đặc biệt công nghiệp
và quốc phòng.
Laser được ứng dụng trong y học từ rất sớm: 1966 laser Argon được dùng
trong nhãn khoa thực nghiệm, 1971 Hall xác định các hiệu ứng laser CO2 trên mô
sống... Đến nay, laser đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trên hai lĩnh vực:
- Chẩn đoán: dựa trên cơ sở nghiên cứu phổ huỳnh quang để đánh giá chức
năng của các tổ chức khác nhau.
- Điều trị: dựa trên hiệu ứng kích thích sinh học (laser công suất thấp), dựa
trên hiệu ứng nhiệt trong phẫu thuật (laser công suất cao).
16.4.2. Nguồn gốc của tia Laser
* Mô hình nguyên tử của Bohr (1913).
Nguyên tử được cấu tạo bởi hạt nhân có kích thước rất nhỏ và các điện tử
quay xung quanh hạt nhân theo quỹ đạo nhất định. Mỗi quỹ đạo điện tử tương ứng
với một năng lượng xác định, điện tử ở lớp quỹ đạo ngoài có năng lượng lớn hơn
quỹ đạo trong. Mức năng lượng thấp nhất gọi là mức cơ bản, các mức năng lượng ở
trên mức cơ bản gọi là mức kích thích.
* Hiện tượng hấp thụ ánh sáng
Giả sử một hệ có hai mức năng lượng và được chiếu một chùm ánh sáng
đơn sắc. Khi photon đi vào môi trường vật chất, nó có thể bị các điện tử ở mức năng
lượng thấp E1 hấp thụ và điện tử này có thể nhảy lên mức năng lượng cao E2. Hiện
tượng này gọi là hiện tượng hấp thụ (16.19.a). Hấp thụ ánh sáng là quá trình các
điện tử ở mức năng lượng thấp hấp thụ photon để nhảy lên mức nang lượng cao,
hấp thụ làm ánh sáng yếu đi.
* Hiện tượng phát xạ tự do
Điện tử sau khi nhảy lên mức kích thích một thời gian nhất định (gọi là thời
gian sống của điện tử ở mức kích thích ≈ 10-8s) lại trở về mức cơ bản. Khi trở về
mức cơ bản nó sẽ giải phóng ra phần năng lượng thừa mà nó nhận được do các
photon truyền cho:

217
- Nếu năng lượng giải phóng ra không đủ lớn thì năng lượng giải phóng ra
dưới dạng nhiệt năng (phonon) làm cho môi trường nóng lên.
- Nếu năng lượng giải phóng ra đủ lớn thì năng lượng được giải phóng ra
dưới dạng các hạt ánh sáng (photon thứ cấp).
ΔE = hλ = E2-E1 (16.21)
Trường hợp phát xạ photon gọi là hiện tượng phát xạ tự do (16.19.b) thông
thường các photon sinh ra do phát xạ tự do đi theo mọi hướng.
* Hiện tượng phát xạ cưỡng bức
Cũng như hiện tượng hấp thụ, khi ta chiếu vào môi trường vật chất một chùm
ánh sáng đơn sắc với năng lượng của mỗi photon = hλ, photon sẽ tương tác với các
điện tử ở mức trên và có khả năng cưỡng bức các điện tử này rời bỏ mức kích thích
sớm hơn thời gian sống của nó (16.19.c). Cùng với sự dịch chuyển này, nguyên tử
sẽ phát xạ ra một photon có cùng năng lượng hλ và có cùngcác tính chấtvới photon
đã gây cưỡng bức như hướng truyền, độ phân cực, pha...
Trong trường hợp này photon gây cưỡng bức không bị mất mát như trong
hiện tượng hấp thụ mà vẫn tồn tại và duy trì hoàn toàn tính năng của nó đến mức ta
không thể phân biệt đâu là photon gây cưỡng bức, đâu là photon sinh ra từ dịch
chuyển cưỡng bức điện tử. Hiện tượng phát xạ cưỡng bức mang tính chất khuyếch
đại theo phản ứng dây chuyền: 1 sinh 2, 2 sinh 4... Như vậy bức xạ cưỡng bức làm
tăng số photon, tác dụng ngược lại với sự hấp thụ và có khả năng khuyếch đại ánh
sáng qua môi trường. Sự phóng photon cưỡng bức là nguồn gốc của chùm tia laser.

c
a b

Hình 16.19. Các hiện tượng quang học: a- hấp thụ; b- phát xạ tự do;
c- phát xạ cưỡng bức

218
16.4.3. Nguyên lý cấu tạo và hoạt động của máy phát tia Laser
16.4.3.1. Cấu trúc điển hình của máy phát tia Laser
Như vậy khi chiếu một chùm ánh sáng vào một môi trường vật chất sẽ có
3 hiện tượng quang học cơ bản xảy ra: hấp thụ, phát xạ tự do và phát xạ cưỡng
bức. Vì thế, muốn tạo được chùm tia Laser thì máy phát tia Laser cần có 3 bộ
phận chính:

Hình 16.20. Cấu trúc điển hình của laser và quá trình hình thành tia laser

* Môi trường hoạt chất:


Bình thường trong cuộc sống hàng ngày hấp thụ ánh sáng và dẫn truyền ánh
sáng là những hiện tượng phổ biến, hiện tượng khuyếch đại ánh sáng rất hiếm thấy
vì các nguyên tử vật chất chủ yếu ở trạng thái cơ bản. Nghĩa là khi môi trường ở
trạng thái cân bằng, số điện tử ở mức thấp (n1) bao giờ cũng lớn hơn số điện tử ở
mức kích thích (n2). Để có hiệu ứng laser (chùm ánh sáng được khuyếch đại) ta phải
tạo môi trường đặc biệt mà ở đấy hiện tượng phát xạ cưỡng bức phải mạnh hơn hiện
tượng hấp thụ. Hiệu ứng này chỉ xảy ra ở môi trường mà các điện tử ở mức trên n2
lớn hơn số điện tử ở mức dưới n1 (n2 > n1). Môi trường đặc biệt như vậy gọi là môi
trường đảo ngược độ tích luỹ. Môi trường này là thành phần cơ bản của mọi máy
laser, có tên là hoạt chất laser.
* Nguồn kích thích (nguồn nuôi, bơm năng lượng):
Ngoài hoạt chất, mỗi laser bất kỳ phải có nguồn nuôi cung cấp năng lượng,
là nơi cung cấp năng lượng cho hoạt chất của laser. Nhờ năng lượng này mà các

219
điện tử di chuyển được lên mức kích thích và duy trì đảo ngược độ tích luỹ của điện
tử trong hoạt chất của laser. Bơm năng lượng có thể là bộ phận phát sáng (đèn
Xênôn cho laser Rubi), là máy phát tần số cao (laser khí), là dòng điện có mật độ
dòng điện lên đến hàng ngàn A/ cm2 (laser bán dẫn).
* Buồng cộng hưởng:
- Buồng cộng hưởng có chức năng tăng cường sự khuyếch đại ánh sáng bằng
cách làm cho ánh sáng phản xạ nhiều lần qua hoạt chất.
- Cấu trúc hình dạng của buồng cộng hưởng rất đa dạng. Loại đơn giản nhất
gồm hai gương ghép đối diện sao cho trục quang học của chúng trùng nhau ở hai
đầu buồng quang học cho phép chùm ánh sáng qua lại hoạt chất nhiều hơn trước khi
đạt trạng thái ổn định và phát ra tia laser qua gương bán mờ (gương phản xạ 70-
98%).Buồng cộng hưởng còn có ý nghĩa chỉ cho phép ánh sáng có bước sóng λ thoả
mãn điều kiện sau:
λ = 2L/m (L: độ dài giữa 2 gương, m: số tự nhiên), vì vậy laser mang tính đơn sắc.
16.4.3.2. Sơ đồ mức năng lượng và nguyên lý hoạt động
* Tập hợp những đường ngang dưới đây là sơ đồ mức năng lượng và việc tạo thành
tia laser:

E4
E3
E2

Tia Laser

E1

Hình 16.21. Sơ đồ mức năng lượng tạo tia laser


Trong đó:
- E1, E2, E3, E4… là các mức năng lượng có thể của các hạt tạo nên môi
trường hoạt động (môi trường laser).
- Sự chuyển E4 → E3 → E2 không kèm theo phát quang, theo xu thế các hạt
muốn chuyển về trạng thái có mức năng lượng thấp.
- Bước chuyển E2 → E1 là bước chuyển phát tia laser.

220
- Bước chuyển từ E1 → E2, E3, E4 thực hiện được là do quá trình cung cấp
năng lượng kích thích môi trường laser (bơm năng lượng).
* Các tia laser đầu tiên sinh ra trong môi trường laser phản xạ đi lại trong môi
trường, kích thích môi trường làm phát ra các tia khác. Khi đạt trạng thái ổn định
các tia laser đi qua gương phản xạ 1 phần đi ra ngoài tạo thành lối ra của chùm laser.
Chùm laser có thể phát liên tục hoặc phát thành xung.
16.4.4. Phân loại Laser
Có nhiều cách phân loại laser: theo môi trường hoạt chất laser, theo phương
pháp bơm năng lượng, theo chế độ hoạt động, theo công suất...Phương pháp phân
loại thông dụng hiện nay là theo môi trường hoạt chất laser:
16.4.4.1. Laser chất rắn
- Laser Rubi (hồng ngọc): hoạt chất là tinh thể Alluminium Al2O3 có gắn ion
Chrôm
- Laser bán dẫn: loại thông dụng nhất hiện nay là laser điôt Gallium arsen
- Laser YAG- Neodym: hoạt chất là ytrium Aluminium Garnet (YAG) và
2-5% nguyên tử Neodym
16.4.4.2. Laser chất khí
- Laser He-Neon: hoạt chất là khí Heli và Neon
- Laser argon: hoạt chất là khí argon ion hoá bằng phương pháp phóng điện
- Laser CO2: hoạt chất là phân tử khí CO2
- Laser Nitơ: hoạt chất là khí Nitơ
- Các loại laser khác: laser hơi đồng, laser hơi vàng, laser excimer…
16.4.4.3. Laser chất lỏng
Laser mầu, với hoạt chất mầu pha lỏng trong môi trường khác nhau. Ví dụ là
rhodamin 6G.
16.4.5. Tính chất của chùm laser
Bản chất của tia laser là ánh sáng, cho nên tia laser có đầy đủ các tính chất
của chùm sáng: giao thoa, nhiễu xạ, phản xạ , khúc xạ...
Với các hoạt chất laser khác nhau, sẽ có λ khác nhau từ miền tử ngoại → ánh
sáng nhìn thấy → hồng ngoại → vi sóng.
Ngoài ra nó còn có những tính chất sau:

221
16.4.5.1. Độ đơn sắc rất cao
Độ rộng phổ của chùm tia laser rất nhỏ (Δλ ≈ 0,1A0) do vậytia laser có độ
đơn sắc rất cao. Laser khác nhau có độ đơn sắc khác nhau, chùm sáng chỉ là một
màu và năng lượng tập trung toàn bộ vào màu đó (hay chùm sáng chỉ có một bước
sóng).
16.4.5.2. Độ kết hợp rất cao
Độ kết hợp được đặc trưng bởi thời gian kết hợp và độ dài kết hợp, các laser
khí cho bức xạ có độ kết hợp cao nhất.
Tính đồng bộ của các photon trong chùm laser là sự kết hợp các photon theo
thời gian. Tia laser phát sinh trên cơ sở phát xạ cưỡng bức, các photon giống hệt nhau
lại hoạt động đồng bộ theo thời gian và không gian nên tạo ra mật độ công suất độc
đáo như khả năng khoan lỗ cực nhỏ, cắt vết nhỏ cực tinh trong thời gian ngắn tới
nanô giây (một phần tỷ giây) và những kỹ thuật đo đạc trong nghành quang phổ.
16.4.5.3. Độ định hướng cao
Độ định hướng được xác định bởi giá trị của góc mở chùm sáng. Do cấu trúc
của buồng cộng hưởng, nên tia laser phát ra hầu như dưới dạng chùm sáng song
song. Tuy vậy, do nhiễu xạ nên tia laser có góc mở đạt giá trị cực nhỏ và có thể
chiếu xa hàng nghìn kilômet rất cần thiết cho kỹ thuật đo xa, định vị chiếu xạ với độ
chính xác rất cao.
16.4.5.4. Phát liên tục và phát xung cực ngắn
Nhờ những thành tựu khoa học và công nghệ, ban đầu laser chỉ phát ở chế độ
liên tục hoặc chế độ xung, ngày nay cho phép tập trung năng lượng tia laser trong
thời gian xung cực ngắn cỡ 1 nanô giây hoặc 1 picô giây (1/ 1000 giây).
Điều này có ý nghĩa lớn trong khoa học và y học. Tới nay chỉ có laser có khả
năng phát ra thời gian ngắn như vậy.
16.4.6. Ứng dụng của Laser trong y học
Ngày nay, laser được dùng vào nhiều mục đích khác nhau trong y học, kỹ
thuật, quân sự, thông tin liên lạc...
Các thiết bị laser y học được chia thành hai nhóm chính là nhóm thiết bị chẩn
đoán bệnh và nhóm các thiết bị laser điều trị.

222
16.4.6.1. Ứng dụng của laser trong chẩn đoán.
Người ta sử dụng laser như nguồn sáng kích thích huỳnh quang của những
chất khác nhau trong các ỏ chức sống. Do đó, nhờ nghiên cứu phổ huỳnh quang, ta có
thể chẩn đoán bệnh một cách chính xác. Thí dụ:
- Máy cắt lớp laser kết hợp với vi xử lý và computer
- Phổ Doppler để đo dòng máu sử dụng trong nghiên cứu vi tuần hoàn
- Phân tích vi phổ phát xạ hoặc kính hiển vi laser…
16.4.6.2. Ứng dụng của laser trong điều trị
Các thiết bị laser điều trị gồm 2 loại:
- Laser công suất thấp (laser mềm): điều trị bằng cách kích thích quang sinh
hoá của tổ chức sống giúp bệnh tự khỏi.
- Laser công suất cao (laser cứng): chùm laser có thể gây hoại tử , quang
đông hoặc bốc bay tổ chức tuỳ thuộc vào công suất, độ hội tụ của laser và khả năng
hấp thụ laser của mô.
Việc sử dụng các loại laser khác nhau cùng với liều chiếu khác nhau cho
phép ta điều trị những căn bệnh khác nhau.
* Laser trong chuyên khoa mắt:
Lĩnh vực chuyên khoa mắt vẫn là lĩnh vực ứng dụng có ý nghĩa lớn nhất của
laser. Công nghệ hàn bong võng mạc và chữa bệnh glaucoma đã giúp cho hàng triệu
người khỏi mù loà.
- Laser Ecimer với bước sóng vùng cực tím xung quanh 200mm để chỉnh độ
cong của giác mạc, tạo cơ sở chữa các bệnh loạn thị, viễn thị và cận thị.
- Laser He-Ne giúp làm giảm nhanh quá trình viêm, đẩy nhanh quá trình biểu
mô hoá, phục hồi sự nhạy cảm của giác mạc vì vậy dùng điều trị bỏng nhiệt, bỏng
hoá chất, loét giác mạc mắt.
* Laser chữa các tổn thương da.
Laser công suất cao đặc biệt là laser CO2 đã điều trị được các u mạch nông
hoàn toàn không sẹo. Nhờ đó, laser trở thành một công cụ không thể thiếu cho
chuyên khoa thẩm mỹ da. Laser CO2, laser Rubi (laser hồng ngọc) với chế độ xung
cực ngắn có thể xoá nếp nhăn, nốt ruồi, mụn cơm, sẹo lồi, các vết săm, tàn nhang,
trứng cá, sạm da, sùi mào gà....

223
Đối với laser công suất thấp (như laser He-Ne) được sử dụng để điều trị các
vết loét loạn dưỡng, các dạng ezema, viêm bì da thần kinh, vẩy nến, trứng cá đỏ...
Để nâng cao hiệu quả điều trị, những năm gần đây người ta phối hợp chiếu laser với
thuốc cảm quang và chống viêm.
* Laser trong lĩnh vực ngoại khoa.
- Trong phẫu thuật: phương pháp mổ bằng laser ngày càng được áp dụng phổ
biến. Người ta dùng chùm tia laser CO2 có mật độ công suất cao thay cho dao mổ
thông thường, chùm laser đó được gọi là dao laser hay dao quang. Sử dụng dao
quang trong phẫu thuật an toàn và chính xác hơn nhiều so với dùng dao thường hay
dao điện. Ngoài ra đường rạch bằng dao quang thì nhỏ hơn các loại dao thường và cầm
máu tốt hơn.
Trong tim mạch: hiện nay, thành tựu lớn nhất về ứng dụng laser trong
chuyên khoa tim mạch là kỹ thuật tạo hình bằng laser Ecimer. Dùng laser kết hợp
với nội soi trong phẫu thuật bằng YAG:Nd có thể tạo hình van và hàn các lỗ thông
nhĩ, thông liên thất. Nhờ đó, laser có thể điều trị được các bệnh nhồi máu cơ tim,
suy mạch vành nhẹ, cao huyết áp và tai biến mạch máu não.
- Trong các trường hợp nhiễm trùng ngoại khoa: Do có tác dụng tốt, laser nội
mạch được sử dụng rộng rãi với mục đích phòng và điều trị nhiều loại nhiễm trùng
ngoại khoa.
- Ngoài ra, laser còn ứng dụng điều trị các bệnh lý về mạch (như xơ vữa, xơ
cứng mạch máu) và điều trị các chứng loạn dưỡng.
* Laser trong lĩnh vực nội khoa.
- Bệnh của cơ quan hô hấp: Phương pháp chiếu laser bên ngoài được thay dần
bằng phương pháp chiếu nội khí quản và nội mạch. Chiếu laser He-Ne phối hợp trong
điều trị viêm phổi mãn làm bệnh khỏi nhanh hơn: làm tăng sinh hồng cầu, làm ổn
định dần các enzym và làm bình thường hoá quá trình trao đổi năng lượng. Chiếu
laser nội khí quản cho trẻ em bị viêm phổi không đặc hiệu mãn tính có tác dụng tăng
chuyển hoá trong tế bào nhờ đó rút ngắn rhời gian điều trị.
- Bệnh của cơ quan tiêu hoá: laser năng lượng thấp có tác dụng kích thích
quá trình tái tạo tổ chức hạt và quá trình biểu mô hoá do đó nó có tác dụng tại chỗ

224
điều trị các tổn thương loét đường tiêu hoá. Ví dụ: điều trị loét dạ dày hành tá tràng
bằng laser năng lượng thấp qua ống nội soi có hiệu quả cao.
- Laser trong các bệnh về khớp: khi chiếu laser ánh sáng đỏ có tác dụng giảm
đau và chống viêm ở các bệnh nhân bị bệnh thấp khớp. Chiếu laser cũng có hiệu
quả khi điều trị những tổn thương thoái hoá nặng của các khớp lớn và sau tổn
thương bộ máy vận động.
* Laser trong đông y và chuyên ngành thần kinh.
Người ta đã phát minh ra một loại thiết bị y tế đặc biệt gọi là laser châm
cứu. Các hệ laser châm cứu có hiệu quả hơn so với các laser châm cũng như các
phương pháp dùng kim thông thường. Đầu bút laser được gắn với hệ thống dò
huyệt và khi tìm đúng huyệt mới bắt đầu chiếu huyệt. Nhờ đó, trường hợp chệch
huyệt là rất hiếm khi xảy ra giúp bệnh nhân không bị đau mà hiệu quả lại cao.
Thiết bị này cũng cho phép chiếu nhiều huyệt cùng một lúc. Dùng laser châm
cứu có thể điều trị được rất nhiều bệnh như là đau dây thần kinh tam thoa, viêm
khớp, đái đường, đái dầm, đau dây thần kinh toạ, đau đầu, mất ngủ cơ năng, đau
lưng cơ năng, hen suyễn, phế quản....
Ngoài ra còn sử dụng laser He- Ne nội mạch để điều trị hiệu quả bệnh thần
kinh như: điều trị đau dây thần kinh toạ, liệt VII, bệnh Parkinson và tai biến mạch
máu não.
* Laser trong điều trị ung thư
Đó là biện pháp điều trị bằng quang động lực, tức là chiếu những chùm laser
có bước sóng thích hợp vào các mô và cơ quan để kích thích (hoạt hoá) các hoá chất
đã được đưa vào trước đó. Khi ấy các hoá chất đó sẽ có tác dụng diệt bào hoặc kìm
hãm sự phát triển của tế bào. ứng dụng phương pháp này trong điều trị bệnh ung thư
(đối với laser màu, laser hơi vàng).
Ngoài ra, laser còn được sử dụng trong nhiều chuyên ngành khác như sản
khoa và bệnh học giới tính, răng hàm mặt, tai mũi họng....
Tóm lại, laser được ứng dụng rộng rãi trong y học, tuỳ vào mục đích điều trị
mà ta có thể lựa chọn các loại laser khác nhau.

225
Chương 17
Y HỌC PHÓNG XẠ VÀ HẠT NHÂN

17.1. TIA PHÓNG XẠ


- Bức xạ ion hoá là hiện tượng môi trường vật chất bức xạ ra các ion âm, ion
dương và các điện tử tự do một cách trực tiếp hay gián tiếp do sự tương tác giữa các
nguyên tử, phân tử của môi trường đó với các nguồn chiếu xạ có năng lượng cao.
- Nguồn gây ra bức xạ ion hoá có thể có sẵn trong tự nhiên (bức xạ tự nhiên)
hoặc do con người tạo ra (bức xạ nhân tạo).
Trong y sinh học, người ta quan tâm đến hai loại nguồn bức xạ:
+ Các tia phóng xạ.
+ Tia Rơnghen (tia X).
Bức xạ ion hoá có thể gây nên những tác động ảnh hưởng đến cấu trúc, chức
năng sinh lý của các cơ thể sống.
17.1.1. Hiện tượng phóng xạ
17.1.1.1. Khái niệm
Hiện tượng phóng xạ là hiện tượng hạt nhân của nguyên tử tự biến đổi (tự
phân rã) để trở thành hạt nhân của nguyên tố khác hoặc từ 1 trạng thái có mức năng
lượng cao về trạng thái có mức năng lượng thấp hơn. Trong quá trình biến đổi đó
hạt nhân phát ra tia có năng lượng cao gọi là tia phóng xạ hay bức xạ hạt nhân.
17.1.1.2. Các dạng phân rã phóng xạ thường gặp
* Phân rã bêta âm (negatron β-): Trong điều kiện nhất định, một số nguyên tố
hoá học nhất định trong hạt nhân có số nơtron nhiều hơn số proton có thể xảy ra hiện
tượng biến một nơtron thành một proton đồng thời phát ra một hạt electron (hạt β-).
Sơ đồ phân rã negatron (β-) Sơ đồ phân rã phóng xạ của P32
A 32
ZX 15P (14,2 ngày)
β- β- (1,71MeV)
100%

A 32
Z+1Y 16S

226
Phương trình biến đổi của phân rã β-:
A
ZX → Z+1YA + β- + Q (17.1)
Bản chất của phân rã này là:
n →p + β- + Q (17.2)
Bức xạ β- dẫn đến tăng điện tích hạt nhân lên một đơn vị nhưng không làm
thay đổi số khối của nó.
* Phân rã bêta dương (Pozitron β)
Trong những điều kiện nhất định, một số nguyên tố hoá học có số proton
nhiều hơn số nơtron có thể xảy ra hiện tượng biến một proton thành một nơtron
đồng thời phát ra hạt pozitron (β+). Hạt pozitron có khối lượng đúng bằng khối
lượng của điện tử, điện tích bằng điện tích của điện tử nhưng trái dấu, vì vậy nó
được gọi là điện tử dương.
Sơ đồ phân rã β+ Sơ đồ phân rã N13
A 13
ZX 7N (10 phút)

β+ β+(1,20MeV)
100%

A 13
Z-1Y 6C

Phương trình biến đổi phân rã β+:


A
ZX → Z-1YA + β+ + Q (17.3)
Bản chất của phân rã này là:
p → n + β+ + Q (17.4)
Bức xạ β+ dẫn đến việc giảm điện tích hạt nhân đi một đơn vị nhưng không
làm thay đổi số khối của nó.
* Phân rã anpha (α).
Loại phân rã này chỉ xảy ra trong phạm vi các hạt nhân của những nguyên tố
có khối lượng nguyên tử lớn. Trong quá trình này, hạt nhân phát ra hạt anpha. Hạt α
chính là hạt nhân của nguyên tử Heli. Sự phân rã này làm giảm khối lượng và điện
tích của hạt nhân một cách đáng kể (khối lượng giảm 4, điện tích giảm 2).

227
Sơ đồ phân rã α Sơ đồ phân rã α của 88Ra226
A 226
ZX 88Ra

α α1 α2
4,61 MeV
4,79MeV 6 5%
γ 93,5%
0,18MeV

A-4 222
Z-2Y 86Rn

Phương trình biến đổi của phân rã α:


A
ZX →Z-2YA-4 + 2He4 + Q (17.5)
Các hạt anpha phát ra từ cùng một loại phân rã của cùng một loại hạt nhân có
năng lượng giống nhau. Đó là đặc điểm đơn năng của chùm tia anpha.
* Phát xạ tia gamma (γ) từ hạt nhân
Trường hợp hạt nhân chuyển từ trạng thái bị kích thích về trạng thái cơ bản
hay về trạng thái bị kích thích ứng với mức năng lượng thấp hơn, từ hạt nhân sẽ
phát ra tia gamma. Bản chất tia gamma là sóng điện từ có bước sóng cực ngắn. Vì
vậy quá trình phát xạ tia gamma không làm thay đổi thành phần cấu tạo của hạt
nhân mà chỉ làm thay đổi trạng thái năng lượng của nó.
Sơ đồ phân rã phóng xạ của Co và Th.
60 228
27Co (5,2 năm) 90Th (1,9 năm)
β-(0,31 MeV) α1
100% 5,17MeV(0,2%)
α2 (5,21 MeV)
2,50 MeV 0,25MeV 0,4%
γ1
0,22MeV
γ11,33 MeV α3(5,34MeV)
88%
γ2 γ2 γ3
0 MeV 0,08MeV α4(5,42MeV)
28NI
60 71%
0 MeV γ4
224
88Ra

228
Đa số các hạt nhân mới được tạo thành sau các phân rã β±, α… đều ở trạng
thái bị kích thích. Vì vậy sau phân rã này thường có phát ra tia gamma. Do đó cần
lưu ý rằng khi có hiện tượng phóng xạ xảy ra ở một hạt nhân, hạt nhân đó có thể bị
biến đổi nhiều hơn một lần, do đó có thể phát ra nhiều tia phóng xạ.
Như vậy tia phóng xạ là những tia được phát ra từ hạt nhân bị biến đổi phóng
xạ, có năng lượng cao. Bản chất tia phóng xạ có thể là hạt vi mô tích điện (có khối
lượng tĩnh) như các tia β± hay α, có thể là lượng tử năng lượng cao - sóng điện từ
với bước sóng cực ngắn như tia gamma.
17.1.1.3. Quy luật phân rã phóng xạ
Trong một nguồn phóng xạ số hạt nhân có tính phóng xạ sẽ giảm dần theo
thời gian. Số hạt nhân có tính phóng xạ ở thời điểm t là:
N = No . e-λ.t (17.6)
Trong đó: N = số nhân phóng xạ ở thời điểm t.
N0 = số nhân phóng xạ ở thời điểm ban đầu.
λ = hằng số phân rã; t = thời gian.
Người ta còn dùng một số đại lượng khác để biểu diễn quy luật phân rã
phóng xạ, như:
- Chu kỳ bán rã: chu kỳ bán rã của một nguồn phóng xạ, ký hiệu là T1/2 (thời
gian bán rã), là thời gian cần thiết để số hạt nhân có tính phóng xạ của nguồn đó
giảm xuống một nửa so với ban đầu.
T1/2 = ln2/λ = 0,693/λ (17.7)
Như vậy, thời gian bán rã của nguồn chỉ phụ thuộc vào bản chất của hạt nhân
131
có tính phóng xạ của nguồn đó. Ví dụ: T1/2 của I là 8,04 ngày, của 60Co là 5,26
năm, của 99mTc là 6,04 giờ...
- Tốc độ phân rã phóng xạ hay hoạt độ phóng xạ: Để biểu thị một cách định
lượng về một chất đồng vị phóng xạ, người ta dùng khái niệm hoạt độ (activity),
thường ký hiệu bằng chữ A. A = λN (17.8)
Đơn vị đo hoạt độ là curie (Ci), millicurie (mCi), microcurie (μCi) hoặc theo
quy định của SI (system international), đơn vị đo là becquerel (Bq). Đơn vị Bq rất
nhỏ, vì vậy thường dùng kilobecquerel (kBq), megabecquerel (MBq).

229
1Ci=3,7x1010phân rã /giây; 1mCi=3,7x107phân rã /giây.
1μCi =3,7x104phân rã /giây; 1Bq=1phân rã /giây.
Cần lưu ý rằng A không phải là số tia phóng xạ phát ra từ nguồn trong một
đơn vị thời gian, vì khi một hạt nhân phân rã có thể phát ra nhiều hơn một tia
phóng xạ.
- Mật độ bức xạ: Mật độ bức xạ tại 1 điểm trong không gian là số tia phóng
xạ truyền qua một đơn vị diện tích đặt vuông góc với phương truyền của tia tại điểm
đó trong một đơn vị thời gian.
Giả sử rằng một nguồn phóng xạ nào đó cứ mỗi đơn vị thời gian phát ra n tia
phóng xạ. Nguồn phóng xạ là nguồn điểm. Vì các tia phát đều trên mọi hướng nên
mật độ tia phóng xạ tại một điểm cách nguồn một khoảng R là:
J = n/S = n/4πR2 (17.9)
Ta thấy ngay là mật độ bức xạ tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách tới
nguồn.
- Cường độ bức xạ: Cường độ bức xạ tại một điểm nào đó trong không gian
là năng lượng bức xạ truyền qua một đơn vị diện tích vuông góc với phương truyền
của tia tại điểm đó trong một đơn vị thời gian. Ký hiệu cường độ bức xạ là I, ta có:
I = J.E (17.10)
Trong đó E là năng lượng của mỗi tia phóng xạ. Tất nhiên, nếu các tia phóng
xạ có năng lượng không đồng nhất thì I được tính theo công thức:
I = ΣEi (17.11)
Đơn vị cường độ bức xạ là oát trên mét vuông (W/m2).
17.1.2. Liều lượng bức xạ
Những biến đổi xảy ra trong môi trường vật chất nói chung và cơ thể sống
nói riêng khi bị chiếu xạ bởi tia....đều phụ thuộc vào năng lượng bức xạ bị hấp thụ,
số điện tích được tạo ra trong quá trình ion hóa. Để đặc trưng định lượng cho những
thuộc tính này người ta đưa ra khái niệm liều bức xạ.
* Liều hấp thụ Dh
Liều hấp thụ Dh là một đại lượng vật lý cho biết năng lượng của bức xạ bị
hấp thụ trong một đơn vị khối lượng của môi trường bị chiếu xạ.

230
ΔE
Dh = (17.12)
Δm
Đơn vị đo liều hấp thụ là Jun/kilogam (J/kg). Một đơn vị khác đo liều hấp thụ
là rad (Roentgen Absorbed Dose)
1 rad = 0,01 J/kg.
Trong hệ SI, đơn vị đo liều hấp thụ J/kg được gọi là Gray (Gy).
1 rad = 0,01Gy hay 1Gy = 100 rad
* Liều chiếu
Chỉ áp dụng cho các bức xạ sóng điện từ (tia X và gamma), cho biết số điện
tích cùng dấu của các ion được tạo ra trong một đơn vị khối lượng không khí khô
dưới tác dụng của tia X hay tia gamma.
ΔQ
Dc = (17.13)
Δm
ΔQ: tổng số điện tích cùng dấu sinh ra trong khối lượng Δm
Trong hệ SI, đơn vị đo liều chiếu là C/kg. Đơn vị thông dụng là Roentgen (R).
Giữa C/kg và R có mối liên hệ như sau: 1R = 2,58x10-4 C/kg hay 1C/kg = 3876R
Roentgen là liều chiếu của tia gamma hay tia X sinh ra trong 1cm3 không khí
ở điều kiện tiêu chuẩn một lượng điện tích âm và dương bằng 1 đơn vị điện tích. Ta
biết điện tích của 1 ion bằng 4,8x10-10 đơn vị tĩnh điện, do đó muốn tạo 1 đơn vị
tĩnh điện cần: 1/4,8x10-10 = 2.083x109 cặp ion. Mối quan hệ giữa liều chiếu Dc (R)
và liều hấp thụ Dn (rad) được thể hiện qua hệ thức:
Dn = f. Dc (17.14)
f phụ thuộc vào nguyên tử số, mật độ chất bị chiếu xạ. Với nước và mô tế bào cơ
thể người có thể lấy f=1. Đối với mô xương f= 2-5.
* LiÒu t−¬ng ®−¬ng

Ng−êi ta quan s¸t thÊy cïng mét liÒu hÊp thô cña c¸c lo¹i bøc x¹ kh¸c nhau l¹i g©y
ra nh÷ng tæn th−¬ng kh¸c nhau. V× vËy ®−a thªm hÖ sè chÊt l−îng tia Q ®Ó nãi nªn
®Æc ®iÓm nμy tõ ®ã ta cã liÒu t−¬ng ®−¬ng.

LiÒu t−¬ng ®−¬ng = LiÒu hÊp thô x Q (17.15)

Tr−íc ®©y liÒu t−¬ng ®−¬ng cã ®¬n vÞ th−êng dïng lμ Rem. Nh−ng hiÖn nay trong
hÖ SI liÒu t−¬ng ®−¬ng tÝnh b»ng Sievert (viÕt t¾t lμ Sv) víi c¸c −íc sè mSv, μSv.

231
D−íi ®©y lμ gi¸ trÞ Q cña mét vμi lo¹i bøc x¹:

− Tia X, γ, ®iÖn tö: 1


− N¬tron nhiÖt: 5
− Proton vμ neutron nhanh: 20
− C¸c h¹t anpha: 20
* LiÒu hiÖu dông
C¸c m« kh¸c nhau nhËn cïng mét liÒu t−¬ng ®−¬ng nh− nhau l¹i cã tæn
th−¬ng sinh häc kh¸c nhau. §ã lμ do ®é nh¹y c¶m phãng x¹ cña c¸c m« kh¸c nhau,
®Ó ®Æc tr−ng cho tÝnh ch©t nμy ng−êi ta ®−a ra kh¸i niÖm träng sè cña m«. LiÒu hiÖu
dông ®−îc tÝnh:

LiÒu hiÖu dông = LiÒu t−¬ng ®−¬ng . W (17.16)


§¬n vÞ cña liÒu hiÖu dông còng lμ Sv
D−íi ®©y lμ mét vμi gi¸ trÞ W cña c¸c m«: ThËn: 0,20; phæi: 0,12; gan: 0,05; da:
0,01…
17.1.1.2. Tính chất của tia phóng xạ
Tia phóng xạ bao gồm những hạt vi mô tích điện (hạt α, hạt β+, β-) và bức xạ điện
từ (tia γ) được sinh ra do sự biến đổi của hạt nhân nguyên tử.
* Tính chất hạt α
- Chùm hạt α phát ra từ một chất phóng xạ thì có năng lượng như nhau, nên
người ta nói chùm hạt α có tính chất đơn năng, hạt α phát ra từ các nguyên tố phóng xạ
khác nhau có năng lượng từ 4-9 Mev.
- Khả năng đâm xuyên của hạt α không cao. Quãng chạy (đoạn đường thực
hiện quá trình oxy hoá) trong chất khí khoảng 2,5-9 cm, trong cơ thể khoảng 0,04
mm. Vì vậy chỉ cần một lớp giấy mỏng có thể cản lại tia α
- Hạt α có khả năng ion hoá rất lớn, trên quãng chạy của nó trong chất khí có
thể tạo ra từ 100000 đến 250000 cặp ion, trung bình tạo ra 40000 cặp ion/ 1 cm,
càng về cuối quãng chạy khả năng ion hoá càng tăng lên.
- Năng lượng của hạt tới sẽ giảm đi sau mỗi lần ion hoá và cuối cùng nhận
thêm 2 điện tử để biến thành nguyên tử Heli.- Hạt α là hạt mang điện nên quỹ đạo
của nó trong từ trường là một đường cong.

232
* Tính chất hạt β
- Hạt β có vận tốc khoảng (1-3). 108 m/s, tia có năng lượng lớn nhất đạt tới
90% vận tốc ánh sáng. Hạt β của các chất phóng xạ có giá trị năng lượng cực đại
trong khoảng 1,1-3 Mev.
- Do khối lượng của hạt β nhỏ nên khi tương tác với vật chất quỹ đạo của hạt
β là một đường gấp khúc. Vì thế không xác định được quãng chạy của tia β mà chỉ
xác định được chiều dày của lớp vật chất mà nó đi qua.
- Khả năng đâm xuyên của hạt β tốt hơn hạt α. Trong không khí hạt β có
quãng chạy từ 10 cm đến vài mét, trong cơ thể nó đi được khoảng 5 mm. Do chùm
β không đơn năng nên khi sử dụng người ta chỉ cần dùng một miếng nhôm có độ
dày mỏng khác nhau để lọc bớt nhằm thu được mức năng lượng mong muốn.
- Khả năng ion hoá môi trường kém hơn so với hạt α, trong không khí hạt
β tạo ra từ 10000 đến 25000 ion, trung bình nó tạo ra khoảng 75 cặp ion/ 1 cm
quãng chạy.
- Năng lượng của hạt tới sẽ giảm đi sau mỗi lần ion hoá và cuối cùng đạt tới
mức năng lượng của chuyển động nhiệt thì không còn khả năng gây ion hoá và kích
thích nguyên tử. Hạt β- sẽ trở thành một điện tử tự do hoặc kết hợp với một ion
dương hay một nguyên tử nào đó trong vật chất. Hạt β+ sẽ kết hợp với một điện tử
tự do để biến thành 2 lượng tử gamma.
- Hạt β bị tác dụng trong từ trường, quỹ đạo của hạt β- là một đường cong
ngược chiều với quỹ đạo của hạt β+ và hạt α.
17.1.2.3. Tính chất tia γ
- Tia γ là dòng photon có năng lượng lớn, bước sóng ngắn. Năng lượng cực
đại trong khoảng 1,1-3,5 Mev.
- Tia γ có khả năng đâm xuyên rất lớn, trong không khí có thể đi được từ 10
đến hàng trăm mét, trong chất hữu cơ nó xuyên vào được rất sâu, nó dễ dàng xuyên
qua cơ thể con người. Thực tế người ta dùng vật liệu là chì và bêtông có độ dày lớn
để cản lại tia γ.
- Khả năng ion hoá của tia γ không cao, trên quãng đường trong không khí
chỉ tạo ra từ 10 đến 250 cặp ion.

233
- Khi tác động vào môi trường vật chất thì truyền hết năng lượng qua một
lần tương tác, sản phẩm của quá trình tương tác là các hạt vi mô tích điện có năng
lượng lớn lại tiếp tục ion hoá vật chất. Vì vậy tia γ có tác dụng ion hoá gián tiếp
vật chất.
- Tia γ có bản chất là sóng điện từ nên trong từ trường nó không bị tác dụng,
đường đi của tia là một đường thẳng.
17.2. TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA BỨC XẠ ION HOÁ
17.2.1. Cơ chế tác dụng của bức xạ ion hoá lên cơ thể sống
17.2.1.1. Cơ chế trực tiếp
Năng lượng của bức xạ trực tiếp truyền cho các phân tử cấu tạo nên các tổ
chức sống mà chủ yếu là các đại phân tử hữu cơ. Năng lượng đó gây nên:
+ Các quá trình kích thích và ion hoá các nguyên tử, phân tử.
+ Các phản ứng hoá học xảy ra giữa các phân tử mới tạo thành sau khi bị
kích thích hoặc ion hoá.
Hậu quả là các phân tử hữu cơ quan trọng trong tổ chức sống bị tổn thương
gây nên các tác dụng sinh học tiếp theo như tổn thương chức năng hoạt động, gây
đột biến gen, huỷ diệt tế bào...
Các quá trình kích thích và ion hoá các nguyên tử, phân tử, các phản ứng hoá
học xảy ra giữa các phân tử trước hết gây nên các tổn thương tại đó và sau có thể
lan truyền ra các phân tử khác ở xung quanh.
17.2.1.2. Cơ chế tác dụng gián tiếp
Bức xạ ion hoá tác dụng lên các phân tử nước gây nên những biến đổi ở đó
tạo ra các sản phẩm hoá học mới là các ion dương hoặc âm (H2O-, H2O+, H+, OH-)
và các phân tử ở trạng thái kích thích (H2O*, H*, OH*, HO2*....).
Các sản phẩm mới này sẽ gây nên các phản ứng hoá học với các phân tử hữu
cơ của tổ chức sinh học và làm biến đổi chúng.
Như vậy, năng lượng của chùm tia đã tác dụng lên các phân tử hữu cơ của tổ
chức sống, gián tiếp thông qua phân tử nước có trong đó.
Hai cơ chế tác dụng trực tiếp và tác dụng gián tiếp đều có giá trị quan trọng
của nó. ở mọi lúc, mọi chỗ, cả 2 cơ chế đó đều tồn tại nhưng tuỳ thuộc vào môi
trường và điều kiện mà có lúc cơ chế này có vị trí và vai trò lớn hơn cơ chế kia. Hai

234
cơ chế đó hỗ trợ cho nhau và giúp chúng ta hiểu được sâu sắc hơn bản chất của các
quá trình phóng xạ sinh học.
17.2.2. Tác dụng của bức xạ ion hoá lên cơ thể sống
Bức xạ ion hoá tác dụng lên các cơ thể sống sẽ gây ra những thương tổn
và các hiệu ứng làm rối loạn chức năng sinh lý của chúng. Tuy nhiên độ nhạy
cảm của các cơ thể sống trước bức xạ ion hoá và khả năng hồi phục sau chiếu xạ
không giống nhau.
17.2.2.1. Các tổn thương sớm
Các tổn thương sớm thường xuất hiện khi cơ thể bị chiếu những liều cao
trong một khoảng thời gian ngắn. Biểu hiện của tổn thương sớm ở một số cơ quan:
- Thần kinh trung ương
Với liều chiếu rất cao gây chết ngay trong vài phút hay vài giờ sau chiếu xạ
chủ yếu do các rối loạn của hệ thần kinh trung ương.
-Máu và cơ quan tạo máu
Mô lympho và tuỷ xương là những tổ chức nhạy cảm cao với bức xạ. Sau
chiếu xạ liều cao chúng có thể ngừng hoạt động và số lượng tế bào trong máu ngoại
vi giảm xuống nhanh chóng. Mức độ tổn thương và thời gian kéo dài tổn thương
phụ thuộc vào liều chiếu và thời gian chiếu. Biểu hiện lâm sàng ở đây là các triệu
chứng xuất huyết, phù, thiếu máu. Xét nghiệm máu cho thấy giảm số lượng limpho,
bạch cầu hạt, tiểu cầu và hồng cầu. Xét nghiệm tuỷ xương thấy giảm sinh sản cả 3
dòng, sớm nhất là dòng hồng cầu.
- Hệ tiêu hoá
Chiếu xạ liều cao làm tổn thương niêm mạc ống vị tràng gây ảnh hưởng đến
việc tiết dịch của các tuyến tiêu hoá với các triệu chứng như ỉa chảy, sút cân, nhiễm
độc máu, giảm sức đề kháng của cơ thể. Những thay đổi trong hệ thống tiêu hoá
thường quyết định hậu quả của bệnh phóng xạ.
- Da
Sau chiếu xạ liều cao thường thấy xuất hiện các ban đỏ trên da, viêm da, xạm
da. Các tổn thương này có thể dẫn tới viêm loét, thoái hoá, hoại tử da hoặc phát
triển các khối u ác tính ở da.

235
- Cơ quan sinh dục
Các tuyến sinh dục có độ nhạy cảm cao với bức xạ. Cơ quan sinh dục nam
nhạy cảm với bức xạ cao hơn cơ quan sinh dục nữ. Liều chiếu 1Gy lên cơ quan
sinh dục có thể gây vô sinh tạm thời ở nam, liều 6 Gy gây vô sinh lâu dài ở cả nam
và nữ.
- Sự phát triển ở phôi thai
Những bất thường có thể xuất hiện trong quá trình phát triển phôi thai và thai
nhi khi người mẹ bị chiếu xạ trong thời gian mang thai, đặc biệt trong giai đoạn đầu,
với các biểu hiện như xẩy thai, thai chết lưu, hoặc sinh ra những đứa trẻ bị dị tật
bẩm sinh.
17.2.2.2. Các hiệu ứng muộn
Hiệu ứng muộn thường gặp ở những người bị chiếu xạ thấp và trường diễn
do nghề nghiệp phải thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ. Các hiệu ứng muộn chia
làm 2 loại:
- Hiệu ứng sinh thể: giảm tuổi thọ, đục thuỷ tinh thể, tần số xuất hiện các bện
ung thư cao hơn bình thường. Các bệnh ung thư thường gặp là ung thư máu, ung
thư xương, ung thư da, ung thư phổi…
- Hiệu ứng di truyền: tăng tần số xuất hiện các đột biến về di truyền, dị tật
bẩm sinh, quái thai.
17.2.3. Tác dụng của bức xạ ion hóa lên tế bào
Dưới tác dụng của Bức xạ ion hoá, tế bào có thể lâm vào tình trạng:
- Chết do tổn thương nặng ở nhân và nguyên sinh chất.
- Ngừng phân chia do tổn thương chất liệu di truyền.
- Tế bào không phân chia được nhưng số nhiễm sắc thể vẫn tăng lên gấp đôi
và trở thành tế bào khổng lồ.
- Tế bào vẫn phân chia thành hai tế bào mới nhưng có sự rối loạn trong cơ
chế di truyền.
Trong tế bào, những thành phần nhạy cảm nhất với bức xạ ion hoá là Màng,
ty lạp thể và lưới nội nguyên sinh.
Trên cùng một cơ thể, các tế bào khác nhau có độ nhạy cảm phóng xạ cũng
khác nhau. Độ nhạy cảm của tế bào thường không cố định mà thay đổi tuỳ thuộc

236
vào rất nhiều yếu tố. Qua nghiên cứu thực nghiệm, hai nhà bác học Bergonir và
Tribondeau đã đưa ra định luật sau:" Độ nhạy cảm của tế bào trước bức xạ tỷ lệ
thuận với khả năng sinh sản và tỷ lệ nghịch với mức độ biệt hoá của chúng". Như
vậy những tế bào non đang trưởng thành (tế bào phôi), tế bào sinh sản nhanh, dễ
phân chia (tế bào của cơ quan tạo máu, niêm mạc ruột, tinh hoàn, buồng trứng…)
thường có độ nhạy cảm phóng xạ cao. Tế bào ung thư có khả năng sinh sản mạnh,
tính biệt hoá kém nên cũng nhạy cảm cao hơn so với tế bào lành xung quanh.
Tuy nhiên, trong cơ thể không phải tất cả các tế bào đều tuân theo định luật
trên, cũng có một số trường hợp ngoại lệ: tế bào thần kinh thuộc loại không phân
chia, phân lập cao nhưng cũng rất nhạy cảm với phóng xạ, hoặc tế bào limpho
không phân chia, biệt hoá hoàn toàn nhưng nhạy cảm cao với phóng xạ.
17.3. ỨNG DỤNG CỦA TIA PHÓNG XẠ TRONG Y HỌC VÀ AN TOÀN
PHÓNG XẠ
17.3.1. Ứng dụng của tia phóng xạ trong chẩn đoán
- Cơ sở: dựa trên cơ sở phương pháp nguyên tử đánh dấu và sự hấp thụ bức
xạ khác nhau giữa các tế bào và mô cũng như mô lành và mô bệnh.
- Yêu cầu: lựa chọn các đồng vị phóng xạ có độc tính phóng xạ thấp, dễ thu
nhận bằng các máy đo xạ, chu kỳ bán rã không ngắn quá hoặc dài quá, thải trừ khỏi
cơ thể trong một thời gian không dài.
Ví dụ: P32 có T= 14,5 ngày, phát tia β có năng lượng 1,7 MeV. Dùng để chẩn
đoán và điều trị bệnh về máu, điều trị giảm đau do di căn ung thư xương,...
I131 có T= 8,05 ngày, phát tia β có năng lượng 0,2 MeV và tia γ có
năng lượng 0,008; 0,282; 363; 0,637 MeV. Dùng để chẩn đoán chức năng tuyến
giáp, chức năng thận, hấp thụ ở đường tiêu hoá...
- Phân loại: phương pháp chẩn đoán bằng đồng vị phóng xạ được phân thành
2 nhóm chính:
+ Chẩn đoán trên toàn bộ cơ thể bệnh nhân (in vivo).
+ Chẩn đoán bằng các dịch thể sinh vật như nước tiểu, máu hay tổ chức tế
bào (in vitro).
- Các phương pháp chẩn đoán: dựa theo tính chất kỹ thuật và phương tiện
nghiên cứu người ta chia thành 4 phương pháp sau:

237
+ Xạ kế trên ống nghiệm: Là phương pháp xác định độ phóng xạ trên các mẫu
(xạ kế in vitro). Tuỳ theo yêu cầu chẩn đoán mà người ta đưa các đồng vị phóng xạ
vào cơ thể, sau đó lấy ra các mẫu máu, nước tiểu, dịch thể sinh vật... Căn cứ vào trang
bị máy móc có thể đo được toàn bộ khối lượng dịch thể hoặc chỉ đo 1 phần nhỏ rồi
tính ra độ phóng xạ toàn bộ (Ví dụ: xác định lượng máu lưu hành trong cơ thể).
+ Xạ kế lâm sàng: Dùng để theo dõi sự tích tụ chất phóng xạ ở một tổ chức
cơ quan nào đó của cơ thể. Ví dụ: Đo độ tập trung Iode tại tuyến giáp, mức độ hấp
thụ Na ở các tổ chức và mô,... Thường dùng trong các trường hợp cần đo xạ một lần
hoặc nhiều lần cách nhau những khoảng thời gian nhất định. Giá trị đo được biểu thị
bằng tỷ số phần trăm so với tổng số lượng chất phóng xạ đưa vào hoặc so với độ
phóng xạ ở khu vực lành cần đối chứng.
+ Xạ ký lâm sàng: ở phương pháp này sau khối khuyếch đại người ta thay bộ
tự ghi cho bộ đếm xung do đó kết quả do hoạt tính phóng xạ được biểu diễn thành
một đường cong liên tục theo thời gian như xạ thận đồ, xạ tâm đồ, xạ não đồ....
+ Xạ hình: là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố của phóng xạ ở bên
trong các phủ tạng bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể.
Phương pháp này được tiến hành qua 2 bước:
- Đưa dược chất phóng xạ (DCPX) và DCPX đó phải tập trung được ở những
mô, cơ quan định nghiên cứu và phải được lưu giữ ở đó một thời gian đủ dài.
- Sự phân bố trong không gian của DCPX sẽ được ghi thành hình ảnh. Hình
ảnh này được gọi là xạ hình đồ, ghi hình nhấp nháy.
Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình
thái mà nó còn giúp ta hiểu và đánh giá được chức năng của cơ quan, phủ tạng và
một số biến đổi bệnh lý khác.
17.3.2. Ứng dụng của tia phóng xạ trong điều trị
- Cơ sở: của việc dùng đồng vị phóng xạ trong điều trị là hiệu ứng sinh vật
học của các bức xạ ion hoá trên cơ thể sống. Độ nhạy cảm phóng xạ của các loại tế
bào và mô rất khác nhau, đặc biệt tế bào ung thư là những tế bào đang phát triển
mạnh rất nhạy cảm với tia xạ. Do vậy nếu chiếu cùng một liều bức xạ thì tiêu diệt
được mô ung thư còn mô bình thường không có biến đổi gì nguy hiểm. Đó cũng
chính là nguyên tắc điều trị bằng tia phóng xạ.

238
- Các phương pháp điều trị:
+ Điều trị chiếu ngoài: Sử dụng máy phát tia γ cứng và các máy gia tốc để huỷ
diệt các tổ chức bệnh. Đây là phương pháp chủ yếu trong điều trị ung thư. Mục tiêu là
phải đưa được một liều xạ mạnh để tiêu diệt tế bào ung thư mà không ảnh hưởng đến
tế bào lành, do vậy phải chiếu phân đoạn thành nhiều liều nhỏ và chiếu từ nhiều phía.
Ví dụ: Sử dụng tác dụng sinh học của tia Gamma từ nguồn Co60 hay tia X từ
máy gia tốc vòng,...để điều trị nhiều loại ung thư như ung thư vòm họng, ung thư vú,
ung thư bàng quang...
+ Điều trị áp sát: Dùng dao Gamma để điều trị các bệnh máu hay điều trị các
tổ chức ngoài da (u máu nông) bằng tấm áp P32. Phương pháp đưa nguồn tới sát vị trí
cần chiếu qua một hệ thống ống dẫn gọi là phương pháp điều trị áp sát nạp nguồn sau.
Ví dụ: điều trị áp sát để điều trị nhiều loại ung thư, đặc biệt ung thư ở các
hốc tự nhiên của cơ thể như ung thư trực tràng, ung thư cổ tử cung,...
+ Điều trị chiếu trong (điều trị bằng nguồn hở).
Nguyên lý của phương pháp: dựa trên định đề Henvesy (1934): Cơ thể sống
không phân biệt các đồng vị của cùng một nguyên tố. Điều đó có nghĩa là khi đưa
vào cơ thể sống các đồng vị của cùng 1 nguyên tố thì chúng cùng tham gia vào các
phản ứng sinh học và cùng chịu chung 1 số phận chuyển hoá. Vì vậy, khi biết 1
nguyên tố hoá học hoặc 1 chất nào đó tham gia vào quá trình chuyển hoá ở 1 tổ
chức hoặc 1 cơ quan nào đó của cơ thể, thuốc phóng xạ tập trung tại tổ chức bệnh sẽ
phát huy tác dụng điều trị.
Ví dụ:
- Điều trị các bệnh lý tuyến giáp trạng (Basedow, ung thư,....) bằng I-131.
Phương pháp này sử dụng tác dụng sinh học của bức xạ β của nguồn phóng xạ để
tiêu diệt tế bào tuyến giáp. Do tuyến giáp háo iode, nên khi bệnh nhân được uống
iode phóng xạ, thuốc sẽ tập trung tại tuyến giáp và tổ chức di căn để diệt tế bào
bệnh. Bức xạ β có quãng đường đi trong mô ngắn cỡ vài cm, do đó chỉ có tác dụng
tại chỗ mà không ảnh hưởng đến tế bào lành xung quanh.
- Điều trị giảm đau do di căn ung thư xương bằng P-32, Sr-89, Sm-153....
Đây là phương pháp điều trị giảm đau hiệu quả, không gây nghiện, tác dụng của
thuốc kéo dài.

239
- Ngoài ra, dược chất phóng xạ còn được dùng để điều trị nhiều bệnh lý khác.
Như các bệnh máu (đa u tuỷ,bệnh bạch huyết, bệnh đa hồng cầu...) hay một số ung
thư không có chỉ định phẫu thuật và hoá trị liệu...
17.3.3. An toàn phóng xạ
Nhiệm vụ cơ bản của công tác an toàn phóng xạ là đảm bảo an toàn cho
người sử dụng, người được sử dụng cũng như đảm bảo sự trong sạch của môi
trường về phương diện phóng xạ.
Tại các cơ sở điều trị ung thư bằng tia xạ, nguồn phóng xạ chủ yếu là nguồn
kín (nguồn Coban-60, máy gia tốc...) thì vấn đề an toàn là đề phòng nguy cơ bị
chiếu ngoài.
Tại các cơ sở y học hạt nhân, chúng ta tiếp xúc chủ yếu với các nguồn phóng
xạ hở (dạng nước, dạng bột hay dạng khí). Khi làm việc với các nguồn phóng xạ hở,
ngoài việc đề phòng nguy cơ bị chiếu ngoài như khi làm việc với các nguồn phóng
xạ kín còn phải đề phòng nguy cơ bị các chất phóng xạ xâm nhập vào bên trong cơ
thể (nhiễm xạ trong).
17.3.3.1. Các nguyên tắc làm việc với nguồn phóng xạ kín
Nguồn phóng xạ kín là nguồn có kết cấu kín và chắc chắn không để chất
phóng xạ lọt ra ngoài môi trường khi sử dụng, bảo quản và cả khi vận chuyển các
nguồn bức xạ kín như các nguồn Co60 , Cs137 , kim Radi để điều trị ung thư. Vì vậy
khi làm việc với nguồn kín cần tuân thủ các biện pháp chống chiếu ngoài sau:
* Giảm thời gian tiếp xúc với bức xạ.
Rút ngắn thời gian tiếp xúc với phóng xạ là biện pháp đơn giản nhưng rất có
hiệu quả để giảm liều chiếu. Vì vậy nhân viên thạo nghề là yếu tố quan trọng để giảm
thời gian tiếp xúc với phóng xạ. Muốn vậy, nhân viên phải luyện tập thao tác rất thành
thạo và chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi bắt đầu công viêc tiếp xúc với phóng xạ.
* Tăng khoảng cách từ nguồn tới người làm việc
Đây là một biện pháp đơn giản và đáng tin cậy vì cường độ bức xạ giảm tỷ lệ
nghịch với bình phương khoảng cách. Thường dùng các thiết bị thao tác từ xa.
Trong những cơ sở đặc biệt có sử dụng nguồn bức xạ có hoạt tính cao, thường dùng
người máy hoặc các thiết bị điều khiển tự động (máy xạ trị).

240
* Che chắn bức xạ
Khi không thể kéo dào khoảng cách hơn nữa hoặc thấy chưa an toàn người ta
dùng các tấm chắn để hấp thụ một phần năng lượng của bức xạ. Thông thường,
người ta chia làm 5 loại tấm chắn như sau:
- Tấm chắn dạng bình chứa (côngtennơ): chủ yếu dùng để bảo quản và vận
chuyển chất phóng xạ trong trạng thái không làm việc.
- Tấm chắn là thiết bị (glove box, tủ hoot): bao bọc toàn bộ nguồn phát trong
trạng thái làm việc của nhân viên và thường di động trong một vùng hoạt động lớn
(tấm chì di động, gạch chì,...).
- Tấm chắn bộ phận của các công trình xây dựng: tường, trần, cửa nhà của
phòng máy phải được thiết kế đặc biệt để bảo vệ cho các phòng lân cận.
- Màn chắn bảo hiểm cá nhân: như áo chì, kính chì, quần áo, găng tay, ủng
pha chì để bảo vệ nhân viên và bệnh nhân trong quá trình chẩn đoán và điều trị
bằng tia xạ.
Nguyên liệu dùng che chắn phóng xạ
- Với tia γ, nguyên liệu tốt nhất để giảm năng lượng là chì. Nhưng có thể
dùng gang, bêtông trộn Barit, bêtông cốt sắt để giảm giá thành.
Ngoài ra, nước và gạch có thể dùng để cản tia nhất là chùm hạt nơtron.
- Với tia β, vật liệu thường dùng ở đây là thuỷ tinh thường, thuỷ tinh hữu cơ
pha chì, chất dẻo, nhôm.
Suất liều và các dạng bức xạ quyết định việc lựa chọn nguyên liệu và chiều
dày màn chắn.
17.3.3.2. Các nguyên tắc làm việc với nguồn bức xạ hở
* Kỹ thuật an toàn bức xạ đối với nhân viên làm việc
Nhân viên làm việc tại các cơ sở y học hạt nhân cần hết sức chú trọng tránh
nguy cơ nhiễm xạ nhỏ nhưng thường xuyên. Cần tuân theo những quy tắc sau:
- Giữ sạch sẽ tuyệt đối các diện tích làm việc.
Rải giấy thấm trên mặt bàn khi thao tác với phóng xạ, để thấm ngay được
chất phóng xạ rơi rớt.

241
- Tuyệt đối không ngậm miệng hút các pipet, phải dùng một cách có hệ
thống quy trình thao tác có khoảng cách.
- Thao tác với phóng xạ phải giữ khoảng cách thích hợp, tận dụng các
phương tiện cản tia và cất ngay nguồn vào kho sau khi thao tác xong.
- Thay quần áo trong phòng sạch (không có hoạt tính) đã quy định. Không
mang các đồ dùng cá nhân vào phòng thao tác với phóng xạ.
- Không hút thuốc, không ăn uống tại các phòng có thao tác với chất phóng
xạ, vì đây là một cách gây nhiễm xạ quan trọng.
- Thực hiện các biện pháp kiểm tra: đếm số lượng các tế bào máu 6 tháng
một lần; mang liều lượng kế cá nhân (phim hoặc bút), kiểm tra cách thao tác, kiểm
tra mức độ sạch phóng xạ của quần áo, dụng cụ….
* Bảo vệ bệnh nhân
Mục tiêu chính là tránh cho bệnh nhân những chiếu xạ không cần thiết và
hạn chế liều ở mức thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu chẩn đoán và điều
trị. Nguyên tắc:
- Chỉ định đúng: cân nhắc kỹ, tránh những kiểm tra không cần thiết, tránh
dùng chất phóng xạ cho phụ nữ có thai, nghi có thai hoặc đang cho con bú trừ khi
có chỉ định lâm sàng bắt buộc. Chỉ dùng cho trẻ em khi không có biện pháp khác
thay thế và hoạt tính phóng xạ phải giảm theo quy định.
- Tận giảm liều chiếu: máy móc thiết bị chụp chiếu phải đảm bảo thông số kỹ
thuật, đảm bảo chất lượng phim chụp, khư trú trường nhìn trong chụp chiếu ở mức
tối thiểu cần thiết.
- Bảo vệ các cơ quan nhạy cảm với phóng xạ của cơ thể (tuyến sinh dục,
thuỷ tinh thể, tuyến giáp, tuyến vú…) cần được che chắn bằng dụng cụ bảo vệ
thích hợp (tạp dề cao su chì, găng tay cao su chì, áo choàng bảo vệ, bình phong
chì) khi chụp chiếu.
- Bệnh nhân được dùng phóng xạ để điều trị cần nằm trong phòng riêng,
buồng bệnh được rải chất liệu dễ tẩy rửa phòng khi bệnh nhân nôn hoặc đánh đổ
chất phóng xạ ra nền nhà hoặc bàn ghế.
- Bệnh nhân được phép ngoại trú, nếu:
+ Tổng liều đưa vào dưới 30 mCi.
+ Đo xạ cách bệnh nhân 1 m, suất liều dưới 5 mR/h.

242
Chương 18
BỨC XẠ RƠNGHEN (TIA X) VÀ ỨNG DỤNG

18.1. HIỆN TƯỢNG BỨC XẠ TIA X VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC


18.1.1. Khái niệm
Năm 1895 nhà bác học Rơnghen người Đức trong quá trình nghiên cứu sự
phóng điện trong khí kém đã phát hiện một tia có khả năng đâm xuyên qua lớp vật
chất mỏng, làm đen kính ảnh, trong khi mắt người lại không nhận biết được. Lúc
đầu do chưa hiểu rõ bản chất của tia này nên Rơnghen đặt tên cho nó là tia X, sau
này để ghi nhớ công lao người đã phát hiện ra, người ta gọi đó là tia Rơnghen.
Quá trình nghiên cứu Rơnghen và cộng sự nhận thấy: tia X được phát ra từ
vật rắn khi vật đó bị bắn phá bởi một chùm electron có năng lượng lớn và có bản
chất là sóng điện từ có bước sóng trong khoảng 10-12- 10-8m.
Ngoài ra, các nghiên cứu tiếp theo còn cho thấy: ngoài tính chất sóng như
ánh sáng tia X còn có tính chất hạt qua các quá trình tương tác của nó với vật chất.
Cho đến nay tia X được hỉểu là một loại ánh sáng bao gồm hai thuộc tính
sóng và hạt, bản chất là sóng điện từ với bước sóng trong khoảng 10-12- 10-8m.
18.1.2. Nguồn phát xạ tia X
Có 2 loại bóng phát tia X:
- Bóng khí kém (Crooker) hay ion điện tử:
Điện tử phát sinh do một số ion của khí còn lại trong bóng đánh vào âm cực.
Như vậy bóng này khi nào cũng phải có một ít khí, nếu khí còn quá ít bóng sẽ
không sử dụng được.
Hạn chế của bóng này là cường độ của bóng thấp và khi hết khí người ta phải
bơm khí vào.
- Bóng chân không (Cooligde) hay bóng âm cực cháy đỏ:
Điện tử phát sinh khi âm cực được đốt nóng ở nhiệt độ cao. Nhiệt độ tại âm cực
càng cao thì nhiệt điện tử sinh ra càng nhiều, do đó cường độ chùm tia X càng lớn.
Điện thế giữa 2 cực càng cao thì tốc độ nhiệt điện tử càng lớn, bước sóng
chùm tia X càng nhỏ hay độ đâm xuyên của chùm tia càng lớn. Do có thể dễ dàng
điều chỉnh được cường độ và độ đâm xuyên của chùm tia X nên ngày nay tất cả các
máy X quang trong y tế đều sử dụng nguồn phát tia là bóng chân không.

243
18.1.2.1. Cấu tạo của máy phát tia X
Gồm 4 bộ phận chính như sau:
* Bóng phát tia X
- Là một bóng thuỷ tinh đã rút
gần hết không khí, trong bóng có:
+ Katot (K): là một sợi dây
Vonfram sẽ được đốt nóng bằng dòng
điện hạ thế có I= 3-5A, khi Katot nóng ≥
20000 C thì sẽ trở thành nguồn phát nhiệt
điện tử.
+ Anot (A): là một tấm kim loại, Hình 18.1
thường làm bằng Tungsten có nhiệt độ nóng chảy cao, có vai trò kìm hãm các điện
tử đã được gia tốc từ Katot bắn sang.
- Bóng phát tia X được đựng trong một vỏ bằng chì, chỉ có một “cửa sổ’’ để
cho chùm tia X cần dùng đi qua.
* Nguồn điện
Nguồn điện là một máy biến thế gồm 2 phần:
+ Cuộn sơ cấp: nối vào điện lưới 220v
+ Cuộn thứ cấp: gồm 2 cuộn, một cuộn tạo nên điên thế ≈ 6v dùng để đốt
nóng Katot, một cuộn tăng thế > 100 kv (có thể đến 300kv) tác dụng vào Anot và
K.atot.
* Các thiết bị điều khiển điện thế và cường độ dòng điện
+ K1: điều chỉnh cường độ dòng điện đốt nóng Katot
+ K2: điều chỉnh điện áp tác dụng vào Anot và Katot.
* Bộ phận lọc và định hướng tia X
- Bộ phận lọc tia X:
+ Được làm bằng một tấm kim loại pha chì gắn vào bóng X quang, phía
trước cửa sổ có tia X phát ra.
+ Tác dụng: để có chùm tia X tương đối đơn sắc. Tia X càng đơn sắc, khi
chiếu chụp thì hình ảnh càng rõ nét hơn.
- Bộ phận định hướng tia X:
+ Được làm bằng những ống kim loại có hình trụ hoặc hình nón, thường
được kết hợp với bộ phận lọc tia X đặt trong một hộp trước bóng X quang.
+ Tác dụng: khu trú, hướng chùm tia X vào đúng bộ phận cần chụp và giảm
diện tích của cơ thể bị chiếu.

244
18.1.2.2. Nguyên lý phát xạ tia X
Chùm tia X phát ra từ Anot của bóng phát tia X theo hai cơ chế: phát bức xạ
hãm và bức xạ đặc trưng.
- Bức xạ hãm: xuất hiện khi có một chùm electron có động năng đủ lớn đến
đập lên Anot. Do tác dụng bởi trường giữa hạt nhân và các lớp vỏ electron của
nguyên tử chất làm Anot nên các electron bị làm chậm lại (bị hãm). Vì bị hãm các
electron mất một phần năng lượng, phần năng lượng mất đi đó được phát ra dưới
dạng sóng điện từ đó chính là tia X hãm.
- Bức xạ đặc trưng: tia X đặc trưng xuất hiện khi các electron bắn ra từ Catot
có động năng khá lớn xuyên sâu vào những lớp bên trong của vỏ nguyên tử làm bật
các electron từ các lớp vỏ bên trong ra khỏi nguyên tử thì lập tức có các electron ở
mức năng lượng cao hơn nhảy về chiếm chỗ đồng thời phần năng lượng dư thừa
phát ra dưới dạng sóng điện từ đó chính là tia X đặc trưng.
18.1.3. Tính chất của tia X
- Tia X có đầy đủ tính chất của ánh sáng như truyền thẳng, phản xạ, nhiễu xạ,
khúc xạ và giao thoa...
- Tia X có cường độ lớn do đó có khả năng đâm xuyên qua môi trường vật chất.
- Tia X có khả năng ion hoá các chất khí.
- Tia X có khả năng gây phát quang một số muối.
Ví dụ: muối NaCl, KCl, Platino cyanua Bari…vì vậy các muối này được sử
dụng trong việc chế tạo màn huỳnh quang, bìa tăng quang.
- Tia X có khả năng gây ra các phản ứng hỗn hợp làm biến màu một số muối.
Ví dụ muối bạc (màu trắng) dưới tác dụng của tia X chuyển thành màu đen.
Người ta sử dụng tính chất này làm phim chụp.
18.1.4. Ứng dụng của tia X trong y học
18.1.4.1. Trong chẩn đoán
* Có 2 phương pháp:
- Chiếu X quang: hình ảnh của tổ chức được phản ánh trên màn huỳnh quang. Trong
phương pháp này nhân viên X quang ngồi sau màn hình và quan sát hình ảnh phủ
tạng bệnh nhân trên màn hình. Hình ảnh cần phải liên tục trong khoảng 30 s hoặc
hơn nữa.

245
Ngày nay với việc áp dụng màn tăng sáng, hình ảnh sẽ được tăng độ đậm
nhạt, hình ảnh rõ nét hơn và giảm được liều chiếu xạ cho bệnh nhân và cho nhân
viên. Đặc biệt, khi hình ảnh truyền qua một máy thu hình, cán bộ X quang có thể
ngồi tại một phòng khác, được che chắn tốt mà vẫn chẩn đoán được qua hình ảnh.
- Chụp X quang: hình ảnh của tổ chức được phản ánh trên phim X quang.
Thường có 2 phương pháp được ứng dụng trên lâm sàng: Chụp X quang thường và
chụp cắt lớp vi tính (CT scanner).
+ Chụp X quang thường: hình ảnh của các bộ phận được phản ánh một cách
đơn giản hoặc bị chồng lấp, không thấy hết được kích thước,chiều sâu,độ lớn của
các bộ phận và các tổn thương trong cơ thể,thường để phát hiện các tổn thương
xương và tổ chức cản quang.
+ Chụp cắt lớp:
Một nguồn X quang chiếu qua người bệnh tới hệ thống các đầu dò có định
hướng. Hệ thống đầu dò được quay quanh cơ thể, hình ảnh thu được sẽ là hình ảnh
cắt lớp, phương pháp này làm rõ được các chi tiết mà trong chụp X quang thông
thường bị chồng lấp, vì vậy có thể phát hiện được những khối u ở sâu.
* Nguyên tắc tạo hình ảnh: trên màn huỳnh quang và trên phim được trình bày qua
mô hình sau:

1 2 3

Hình 18.2

Trong đó: (1) là máy phát tia X.


(2) là bộ phận cần chụp chiếu.
(3) là bộ phận hiện hình ảnh.
- Chùm tia X do máy (1) phát ra xuyên qua một bộ phận của người bệnh (2)
sẽ đập vào màn chắn (3) (màn huỳnh quang hoặc tấm phim).

246
- Do hiện tượng hấp thụ, khi qua (2) chùm tia X sẽ bị tổ chức hấp thụ không
đồng đều kết quả là các điểm khác nhau trên màn chắn (3) sẽ bị chùm tia X tác động
với một cường độ khác nhau do vậy sẽ tạo nên những vùng sáng tối khác nhau.
- Ngoài ra, trong kỹ thuật X quang người ta còn sử dụng các chất tăng quang
và cản quang để làm tăng hiệu quả của hình ảnh thu được.
Từ nguyên tắc trên ta thấy:
+ Trong chiếu X quang: khối (3) là màn huỳnh quang thì vùng nào hấp thụ
nhiều tia X ảnh vùng đó sẽ tối; cụ thể xương, tim đen hơn vùng phổi, cơ.
+ Trong chụp X quang: khối (3) là tấm phim chụp được kẹp giữa hai màn
tăng quang trong một hộp dẹt được gọi là Cát-xét. Trên phim chụp X quang, những
vùng hấp thụ nhiều tia X sẽ có hình trắng (như xương, tim) còn những vùng hấp thụ
ít tia X sẽ có hình đen (như phổi, cơ).
18.1.4.2. Trong điều trị
Tia X được ứng dụng chủ yếu trong điều trị những bệnh nhân bị ung thư.
Dựa vào tác dụng sinh vật của tia X có khả năng diệt bào mà người ta áp dụng vào
một phương pháp điều trị có tên: Xạ trị.
Xạ trị được dùng chủ yếu trong điều trị ung thư. Do tế bào ung thư có độ
nhạy cảm phóng xạ lớn hơn tế bào lành, do đó dùng tia X chiếu vào các khối u ác
tính để làm biến đổi trạng thái hoạt động, hạn chế sự phát triển dẫn đến tiêu diệt
hoàn toàn các tế bào ung thư. Mục tiêu là phải đưa được một liều xạ mạnh vào nơi
ung thư mà không gây thương tổn cho mô lành xung quanh.
Yêu cầu phải đạt tới liều hấp thu vài chục Gray và phải chiếu phân đoạn thành
nhiều liều nhỏ. Chiếu phân đoạn là rất cần thiết, vừa ít gây tai biến, vừa nâng cao hiệu
lực điều trị. Phương pháp đơn giản là dùng X quang khoảng 200 kV, nhưng khi khối
u ở hơi sâu thì phần da sẽ bị chiếu với liều cao hơn ở khối u. Trong trường hợp này
nên dùng bức xạ mạnh có khả năng xuyên sâu, ví dụ: X quang năng lượng cao
khoảng 6 MeV.
Bên cạnh việc chọn năng lượng thích hợp, cần giảm bớt liều chiếu xạ ở mô
lành bằng cách chiếu từ nhiều phía, hướng vào khối u. Với những máy hiện đại, có
thể dùng nguồn xạ quay liên tục quanh khối u để điều trị. Như vậy khối u bị chiếu
liên tục nhưng liều ở phần mềm lành bên ngoài được dàn trải nên liều xạ từng chỗ
không lớn.

247
18.2. KỸ THUẬT CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ ỨNG DỤNG
18.2.1. Đại cương về kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính
Máy chụp cắt lớp vi tính (Computer Tomography Scanner) do nhà vật lý
người Mĩ A.M. Cormark và kỹ sư người Anh G.M. Hounsfield phát minh năm
1971. Đến năm 1979 phát minh của 2 ông được nhận giải Nobel về y học.
Hình chụp sọ não đầu tiên bằng kỹ thuật chụp cắt lớp được tiến hành năm
1971 tại một bệnh viện ở Luân đôn với thời gian chụp và tính toán một quang ảnh
khoảng 2 ngày. Đến năm 1974 Ledley (Mĩ) hoàn thành chụp cắt lớp vi tính toàn
thân đầu tiên với thời gian có một quang ảnh là vài phút. Hiện nay, có nhiều máy
chụp cắt lớp hiện đại với thời gian cho một quang ảnh từ 1/10 đến 1/30 giây.
Tại Việt Nam, máy chụp cắt lớp đầu tiên được lắp đặt vào tháng 2 năm 1991
tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô (Hà Nội). Hiện nay, có rất nhiều máy chụp cắt lớp
được lắp đặt trong các cơ sở y tế khắp cả nước giúp cho các thầy thuốc dễ dàng hơn
trong chẩn đoán bệnh tật.
18.2.2. Nguyên lý tạo hình trong chụp cắt lớp
Mục đích của phương pháp này là làm rõ nét hình ảnh của một lớp mỏng nào
đó của một bộ phận trong cơ thể, còn các lớp khác thì bị xoá nhoà đi.
Hình bên trái bố trí thiết bị đứng yên, ta đứng nhìn bệnh nhân từ phía đầu
bệnh nhân: S là nguồn phát tia
(thí dụ bóng phát tia X), F là
hộp phim, BN là bệnh nhân. S
và F được gắn vào hai đầu
thanh kim loại PP. Thanh này
có thể quay quanh một trục ở
B’, khi ấy S sẽ di chuyển sang
trái (hoặc sang phải), còn hộp
Hình 18.3
phim F sẽ di chuyển theo
chiều ngược lại, khoảng cách h1 và h2 không đổi. Bệnh nhân nằm yên.
Trong hình 18.3, khi S bắt đầu phát tia, ở vị trí S1, lớp cắt cần chụp là lớp
LL’, C nằm ngoài. Hình ảnh tạo ra tương ứng là A1, B1, C1 trên phim. Khi nguồn S

248
di chuyển đến vị trí S2, các tia cho ta hình ảnh A2, B2, C2 nhưng bây giờ A2, B2 vẫn
trên phim, đúng vị trí cũ A1, B1 còn C2 đi ra ngoài phim.
Thật vậy:
Do Δ S1AB - Δ S1A1B1 và Δ S2AB - Δ S2A2B2 ta có:
AB h1 AB
= = -> A1B1 = A2B2 (18.1)
A1B1 h1 +h 2 A 2 B2

Tại mọi vị trí của S khi di chuyển từ S1đến S2 ta đều có hình ảnh AB (của lớp
cắt LL’) đúng một vị trí trên phim, còn các hình ảnh của các phần tử khác không
nằm trên LL’ sẽ di chuyển , tạo hình ảnh mờ nhạt lam nền phim, kết quả là ta có
hình ảnh rõ nét của một lớp cắt trên phim.
18.2.3. Chụp cắt lớp dùng vi tính (CTS - Computer Tomography Scanner)
Trong CT Scanner, thay cho hộp phim X quang F ở hình 8.3 là một hộp đầu
dò (detector) có hàng vạn đầu dò nhỏ sắp xếp thành các ô nhỏ, mỗi ô nhỏ có một đầu
dò khi bị chiếu tia sẽ cho tín hiệu điện truyền về bộ xử lý. Người ta có thể thay các
đầu dò này bằng tinh thể nhấp nháy lỏng. Các hệ thồng này có độ nhạy rất cao, được
khuyếch đại, đưa vào bộ nhớ máy tính, xử lý rồi đưa sang phần hiện hình (tương tự
nhờ camera thu hình, khuyếch đại, xử lý rồi truyền đến máy thu hình gia đình).
Để trợ giúp cho tạo hình cắt lớp rõ nét, người ta làm phần mềm máy vi tính
bằng cách thu thập số liệu từ việc chiếu một số mô hình người với các giả định khác
nhau như khối u ở dạ dày, có khối u ở não, hang lao ở phổi... Nhờ xử lý hình ảnh
bằng máy vi tính mà ta có các hình ảnh của các lớp theo những lớp cắt ngang, cắt
dọc khác nhau, ta có thể thấy rõ ràng những điểm bất thường trong cơ thể mà với
phương pháp X quang thường không thấy được. Nhờ bộ nhớ của máy vi tính mà
người thầy thuốc dễ dàng tái hiện lại các hình ảnh cần khảo sát.
* Đặc điểm hình ảnh trong kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính:
- Máy chụp cắt lớp vi tính cho phép phân biệt được sự khác biệt rất nhỏ của
những tổ chức có tỷ trọng khác nhau. Ví dụ: khi chụp sọ não có thể phân biệt được
rất rõ chất trắng, chất xám, buồng não thất, các khối u, các ổ apxe, các ổ chảy máu...
à phim Xquang thông thường không phân biệt được
- Nếu mở cửa sổ rộng tối đa thì xương có hình trắng, không khí có hình đen,
nước có hình xám và có độ tương phản hình của CTS tốt dễ phân tích.

249
- Đối với máy Xquang thường qui, tất cả thông tin nằm trên phim, còn trong
CTS thì toàn bộ thông tin trong bộ nhớ và người điều khiển chỉnh lý máy để chọn
hình ảnh có ý nghĩa chẩn đoán. Khi cần thiết, người thầy thuốc có thể làm hiện lại
hình ảnh của các bộ phận chụp của bệnh nhân.
- Giống trong Xquang, đôi khi trong CTS bệnh nhân còn được uống hoặc
tiêm thuốc cản quang để làm nổi bật sự đối quang.
18.2.4. An toàn bức xạ đối với tia X
18.2.4.1. Bảo vệ cho cán bộ nhân viên
* Giảm tối đa sự tiếp xúc với bức xạ:
- Trước khi tiến hành chụp chiếu, phải chắc chắn là các cửa phòng X quang
đã được đóng kín.
- Không để chùm tia X rọi vào các cửa sổ của phòng, hoặc trực tiếp rọi vào
tường, trừ trường hợp đặc biệt.
- Tất cả nhân viên khi làm việc nếu không đứng sau tấm chắn thì phải mặc áo
bảo vệ và khi cần thiết phải đeo găng tay.
- Các thiết bị che chắn của máy X quang cố định cũng như X quang cơ động
đều phải bố trí sao cho có thể che chắn tốt nhất chống bức xạ khuếch tán.
- Cán bộ nhân viên X quang nếu cần giữ bệnh nhân trong khi chiếu chụp, cần
mặc áo bảo vệ, đeo găng tay, đứng sang một bên tránh bị máy phát tia X rọi vào
trực tiếp.
- Thiết bị X quang đã bị hư hỏng thì không được dùng, chỉ khi nào kiểm tra
lại thấy đạt tiêu chuẩn mới được sử dụng.
* Yêu cầu đặc biệt với máy X quang cơ động:
Khi máy X quang cơ động được đưa ra khỏi khoa X quang đến một buồng
bệnh nào đó thì phải tuân theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải kiểm tra hướng và kích cỡ của chùm tia X.
- Phải thiết kế che chắn ngay tại nơi máy sẽ hoạt động.
- Phải đảm bảo tia X không chiếu vào những bệnh nhân khác trong buồng
bệnh (trực tiếp hoặc tán xạ).
- Người điều khiển máy phải cách xa nguồn bóng phát xạ tối thiểu 2 mét và
phải mặc quần áo bảo vệ.

250
* Chế độ kiểm tra theo dõi:
Nhân viên cần đeo phim hoặc một thiết bị đo liều (bút đo, các thiết bị đo
bằng nhiệt huỳnh quang...) trong tất cả thời gian làm việc.
Khi mặc quần áo bảo vệ, thiết bị đo liều cần phải đo cài đặt ở phía trong của
áo bảo vệ. Nếu nhân viên làm việc phải kiểm tra X quang cho bản thân thì phải tháo
thiết bị đo liều ra khỏi người.
Nếu là nhiệt huỳnh quang thì phải gửi về trung tâm kiểm tra đọc kết quả theo
định kỳ, nếu là loại bút đo liều tự đọc được thì cần ghi chép từng tháng sau đó lại
đưa về số không để tiếp đo cho tháng sau.
18.2.4.2. Bảo vệ cho bệnh nhân
* Nguyên tắc chung:
Điểm khác nhau cơ bản giữa người bệnh và nhân viên là người bệnh được
nhiều ích lợi trong khi chiếu chụp X quang: hiểu được bệnh tật ở trong cơ thể để có
phương hướng xử lý điều trị và như vậy X quang mang lại lợi ích cho người bệnh
nhiều hơn là gây hại.
Nếu thấy chiếu chụp X quang không cần thiết bằng các xét nghiệm khác thì
không nên dùng X quang. Chỉ dùng X quang khi nào thấy tốt hơn các biện pháp
chẩn đoán khác đối với trường hợp bệnh lý đó. Cần cân nhắc lợi hại đối với trẻ em
và phụ nữ có thai khi dùng X quang.
* Biện pháp cụ thể.
+ Giảm thiểu sự tiếp xúc với phóng xạ:
- Nên dùng những biện pháp và kỹ thuật tốt nhất để hạn chế mức chiếu xạ cho
bệnh nhân.
- Nên chụp ít phim nhất. Chụp với diện tích càng nhỏ càng tốt.
+ Phải hướng chùm tia X vào đúng chỗ cần thiết: tránh chiếu vào ngực và bộ
phận sinh dục.
+ Che chắn: nếu có thể được phải dùng chì (khoảng 1mm) che chắn vùng sinh
dục nếu phải khám xét ở những bộ phận lân cận. Trường hợp bị đa chấn thương, lần
khám đầu tiên không được che chắn vì nó có thể làm cho không phát hiện được gẫy
xương ở khu vực liên quan.

251
+ Khoảng cách tiêu cự tối đa: ít nhất là 30 cm, càng xa càng tốt.
+ Chất lượng bức xạ: tăng điện thế sẽ tăng sức đâm xuyên của tia X và như
vậy mức chiếu xạ sẽ giảm đi.
+ Lọc: là một biện pháp giảm những bức xạ năng lượng yếu và tăng được
năng lượng trung bình của chùm tia X, giảm được mức chiếu xạ cho bệnh nhân.
+ Chiếu tia X với bệnh nhân có thai:
Chỉ sử dụng phương pháp X quang cho bệnh nhân có thai khi không còn
phương pháp nào thay thế, nếu phải chiếu chụp X quang thì cố gắng che chắn và
giảm thiểu sự chiếu xạ vào thai.

252
Chương 19
PHƯƠNG PHÁP CỘNG HƯỞNG TỪ HẠT NHÂN

19.1. C¬ së vËt lý cña ph−¬ng ph¸p céng h−ëng tõ h¹t nh©n


19.1.1. M« men tõ h¹t nh©n
H¹t nh©n nguyªn tö gåm cã hai lo¹i h¹t: proton vμ neutron. Proton lμ h¹t
mang ®iÖn tÝch d−¬ng, vÒ gi¸ trÞ th× b»ng ®iÖn tÝch cña electron, nh−ng cã khèi l−îng
lín h¬n cì hai ngh×n lÇn khèi l−îng electron. Proton t−¬ng tù nh− mét h¹t mang
®iÖn d−¬ng tù quay trßn, cã m«men tõ. Neutron còng cã spin, còng cã m«men tõ, cã
thÓ xem neutron nh− mét qu¶ cÇu cã ®iÖn tÝch ph©n bè, tÝnh chung ra th× ®iÖn tÝch
b»ng kh«ng (neutron trung hßa ®iÖn) nh−ng
khi quay vÉn t¹o ra m«men tõ. H¹t nh©n Sè proton Sè neutron
M«men tõ cña proton vμ cña neutron cã 1
H 1 0
12
chªnh lÖch nhau chót Ýt, nh−ng rÊt nhá, vμo cì C 6 6
13
10-27 A.m2. H¹t nh©n cã thÓ cã nhiÒu proton vμ C 6 7
14
neutron, m«men tõ cña h¹t nh©n lμ tæng hîp N 7 7
23
(theo nh÷ng quy t¾c l−îng tö) cña m«men tõ Na 11 12
31
P 15 16
c¸c h¹t proton vμ neutron. Cã h¹t nh©n cã 39
K 19 20
m«men tõ lín, cã h¹t nh©n cã m«men tõ nhá ,
cã h¹t nh©n kh«ng cã m«men tõ. Nh−ng nãi
chung, m«men tõ cña h¹t nh©n nhá, chØ vμo
cì phÇn ngh×n m«men tõ cña vá electron →

nguyªn tö. V× vËy ®iÒu kiÖn ®Ó cã céng


B0
h−ëng tõ h¹t nh©n rÊt kh¸c víi ®iÒu kiÖn ®Ó
cã ®−îc céng h−ëng tõ electron. →
μ
Kh«ng nh÷ng thÕ, ng−êi ta cã thÓ thùc
hiÖn céng h−ëng tõ ®èi víi tõng lo¹i h¹t nh©n
nguyªn tö. ThÝ dô ®èi víi c¬ thÓ, ng−êi ta
th−êng ®Æc biÖt chó ý lμ h¹t nh©n cña nguyªn H×nh 19.1. D−íi t¸c dông cña tõ
→ →
tö hi®ro v× hi®ro lμ mét trong hai nguyªn tè tr−êng B0 m«men tõ μ thùc hiÖn
cÊu t¹o thμnh n−íc (H2O), mμ n−íc nãi chung chuyÓn ®éng Larmor.
lμ trong c¬ thÓ chç nμo còng cã. H¬n n÷a h¹t
nh©n cña nguyªn tö hi®ro cho tÝn hiÖu céng h−ëng tõ rÊt m¹nh.

253
H¹t nh©n cña nguyªn tö hi®ro rÊt ®¬n gi¶n: chØ cã mét h¹t proton, m«men tõ
cña h¹t nh©n hi®r« chÝnh lμ m«men tõ cña proton.
19.1.2. Céng h−ëng tõ h¹t nh©n
→ →
H¹t nh©n cã m«men tõ lμ μ khi n»m trong tõ tr−êng B0 , sÏ thùc hiÖn chuyÓn

®éng tuÕ sai (chuyÓn ®éng Larmor), tøc lμ ®Çu mót cña vect¬ μ v¹ch nªn nh÷ng

®−êng trßn quanh ph−¬ng cña B0 . Trªn h×nh →
B0
19.2 biÓu diÔn: d−íi t¸c dông cña tõ tr−êng
→ → →
B0 m«men tõ μ thùc hiÖn chuyÓn ®éng B1
Larmor.

§©y lμ chuyÓn ®éng tuÇn hoμn, tÇn sè μ

phô thuéc vμo B0 vμ μ. Trong tr−êng hîp H×nh 19.2. Tõ tr−êng xoay chiÒu

proton, tÇn sè ®ã ®−îc tÝnh theo c«ng thøc B1 vu«ng gãc víi Bo, quay quanh

f 0 = g p .μ p .B0 (h×nh 19.1) Bo víi tÇn sè gãc ω: B1 t¸c dông
lªn m«men tõ m lùc tuÇn hoμn tÇn
TÝnh ra nÕu B0 b»ng 1T (Tesla) th×
sè gãc ω, khi ω = ωo x¶y ra hiÖn
proton cã tÇn sè Larmor lμ 42,58 MHz. Chó ý t−îng céng h−ëng.
lμ sãng v« tuyÕn cã tÇn sè 42,58 MHz lμ øng
víi b−íc sãng 7 m, cßn tõ tr−êng ë gi÷a hai cùc cña mét nam ch©m vÜnh cöu m¹nh
chØ vμo cì 0,2 T.

Nh− vËy h¹t nh©n n»m trong tõ tr−êng B0 trë thμnh mét hÖ dao ®éng víi tÇn

sè dao ®éng riªng lμ f 0 phô thuéc B0 . NÕu chiÕu thªm mét sãng ®iÖn tõ tÇn sè
ra®i« thÝch hîp, th× biÕn thiªn tõ tr−êng do sãng ra®i« t¹o ra cã thÓ lμm cho h¹t nh©n

dao ®éng céng h−ëng Trªn h×nh 19.2 biÓu diÔn tõ tr−êng xoay chiÒu B1 vu«ng gãc

víi Bo, quay quanh Bo víi tÇn sè gãc ω: B1 t¸c dông lªn m«men tõ μ lùc tuÇn hoμn

tÇn sè gãc ω, khi ω = ωo x¶y ra hiÖn t−îng céng h−ëng.

254
Cô thÓ trong tr−êng hîp tõ tr−êng
B0 = 1T , ®Çu mót cña m«men tõ cña h¹t N2

nh©n hi®ro sÏ quay trßn víi tÇn sè


N1 > N 2
f 0 = 42,58MHz , nÕu chiÕu thªm vμo ®ã

sãng ra®i« víi b−íc sãng 7m (tøc lμ tÇn


sè 42,58 MHz) th× ®Çu mót cña m«men H×nh 19.3. Trong tõ tr−êng Bo, N1

tõ cña h¹t nh©n hi®ro sÏ quay còng víi proton cã μ song song víi tõ tr−êng,

tÇn sè nh− tr−íc nh−ng biªn ®é lín h¬n,
N2 proton cã μ ®èi song víi tõ tr−êng
m«men tõ cña pr«t«n nghiªng xa h¬n so ΔN μB0

→ N kT
víi phu¬ng cña B0 , tøc lμ nghiªng

nhiÒu vÒ ph−¬ng vu«ng gãc víi ph−¬ng cña B0 .
Nh−ng thùc tÕ, kh«ng ph¶i lμ thùc hiÖn céng h−ëng tõ dèi víi tõng h¹t nh©n
hi®ro riªng lÎ mμ lμ céng h−ëng tõ ®èi víi c¶ mét tËp hîp h¹t nh©n hi®ro trong mét
thÓ tÝch nμo ®ã, thÝ dô trong 1mm3 ë vá n·o. Do ®ã ta xÐt c¶ mét tËp hîp h¹t nh©n
trong tõ tr−êng vμ xÐt hiÖn t−îng céng h−ëng ®èi víi c¶ tËp hîp ®ã.
19.1.3. M«men tõ cña tËp hîp c¸c h¹t nh©n trong mét thÓ tÝch
NÕu xÐt mét tËp hîp c¸c nam ch©m nhá n»m trong tõ tr−êng cã chiÒu x¸c
®Þnh th× c¸c nam ch©m sÏ n»m quay däc theo tõ tr−êng, m«men tõ cña c¸c nam
ch©m nμy sÏ song song cïng chiÒu víi tõ tr−êng.
Nh−ng tËp hîp c¸c h¹t nh©n lμ tËp hîp c¸c h¹t vi m«, tu©n theo nh÷ng quy
luËt l−îng tö : khi n»m trong tõ tr−êng th× ®a sè c¸c h¹t nh©n sÏ cã m«men tõ quay
song song cïng chiÒu víi tõ tr−êng nh−ng vÉn cã nh÷ng h¹t nh©n cã m«men tõ song
song nh−ng ng−îc chiÒu víi tõ tr−êng, ng−êi ta gäi ®ã lμ nhòng m«men tõ ®èi song.

C¸c phÐp tÝnh to¸n cho thÊy nÕu trong tõ tr−êng B0 tæng céng cã N h¹t nh©n
th× sÏ cã N1 h¹t nh©n cã m«men tõ song song vμ N2 h¹t nh©n cã m«men tõ ®èi song.
→ →
(Trong tõ tr−êng Bo, N1 proton cã μ song song víi tõ tr−êng, N2 proton cã μ ®èi
ΔN μB0
song víi tõ tr−êng ≈ , h×nh 19.3), N1 lu«n lín h¬n N2 vμ tØ sè chªnh lÖch
N kT
ΔN N1 − N 2
= cã thÓ tÝnh theo c«ng thøc gÇn ®óng :
N N

255
ΔN μB0 →
≈ víi B0 lμ c−êng ®é tõ tr−êng t¸c dông, μ lμ m«men tõ cña h¹t
N kT
nh©n, k lμ h»ng sè Boltzmann, T lμ nhiÖt ®é tuyÖt ®èi.
TÝnh ra, ë nhiÖt ®é phßng T = 25°C , khi B0 = 1T ®èi víi h¹t nh©n hi®r«, tØ sè
ΔN
vμo cì 10-6. Nãi c¸ch kh¸c nÕu cã N h¹t nh©n, th× N1 h¹t nh©n cã m«men tõ
N

h−íng song song víi tõ tr−êng B0 , N2 h¹t nh©n cã m«men tõ song song nh−ng
h−íng theo chiÒu ng−îc l¹i. NÕu hai m«men tõ ng−îc nhau bï trõ cho nhau th× thËt
ra trong N h¹t nh©n thùc chÊt chØ cßn l¹i
ΔN = N1 − N 2 chiÕm tØ lÖ cì mét phÇn Z Bo

triÖu lμ h−íng theo chiÒu B0 . ThËt ra c¸c → →
μ // μ
m«men tõ nμy ®Òu cã chuyÓn ®éng
Larmor, nh−ng còng v× khö nhau tõng cÆp
nªn cuèi cïng cã thÓ xem chØ cã ΔN h¹t

nh©n ®ãng gãp vμo m«men tõ M tæng μ⊥
céng. Tõ c¸c c«ng thøc t×m ®−îc ta cã :

B0 H×nh 19.4. Ph©n tÝch vect¬ μ thμnh
M = ΔN × μ = Nμ 2 (19.1) → →
kT 2 thμnh phÇn μ // vμ μ ⊥
VËy khi xÐt chuyÓn ®éng Larmor

trong tõ tr−êng B0 cña N h¹t nh©n trong thÓ tÝch V cña vËt chÊt, thÝ dô cña vá n·o,
ta chØ xÐt ®Õn m«men tõ M tæng céng ®ã.
19.1.4. Céng h−ëng tõ trong mét thÓ

tÝch cã nhiÒu h¹t nh©n vμ nh÷ng hiÖn B0
t−îng liªn quan
Ta xÐt mét thÓ tÝch cã N h¹t →
→ M
nh©n, m«men tõ cña mçi h¹t nh©n lμ μ


vμ tõ tr−êng ngoμi t¸c dông lμ B0 . B1
Ta ®· thÊy trong N h¹t nh©n cã
H×nh 19.4. Khi t¾t sãng ra®i«, ®Çu mót cña
N1 h¹t nh©n cã m«men tõ song song vect¬ tõ ho¸ M v¹ch nªn®−êng xo¾n èc nhá dÇn

256
→ →
víi B0 vμ N2 h¹t nh©n cã m«men tõ ®èi song víi B0 , vÒ mÆt tõ tÝnh xem nh− chóng
khö nhau tõng ®«i mét, chØ cßn N1 − N 2 = ΔN ~ 10 −6 h¹t nh©n cã ®ãng gãp vμo
m«men tõ tæng céng. C¸c m«men tõ kh«ng ph¶i n»m hoμn toμn song song víi tõ
tr−êng ngoμi, chóng ®¶o rÊt nhanh quanh ph−¬ng tõ tr−êng nh−ng gãc nghiªng rÊt

nhá. Ph©n tÝch m«men tõ μ cña h¹t nh©n ra thμnh hai vect¬ : mét vect¬ song song
→ → → →
víi B0 , ta kÝ hiÖu lμ μ // vμ mét vect¬ vu«ng gãc víi B0 , kÝ hiÖu lμ μ ⊥ . Khi chØ cã
→ → →
B0 , cã thÓ xem cã ΔN h¹t nh©n cã m«men tõ h−íng vÒ B0 vμ ®¶o quanh B0 .
→ → →
Vect¬ tæng ∑ μ p kh¸ lín, cì gÇn b»ng ΔN . μ . Nh−ng vect¬ tæng ∑ μ ⊥ xem nh−
b»ng kh«ng kh«ng ph¶i chØ lμ do gi¸ trÞ cña μ ⊥ nhá mμ lμ do c¸c m«men tõ ®¶o
→ →
quanh B0 , tuy cïng tÇn sè nh−ng kh«ng ®ång pha, c¸c vect¬ μ ⊥ cã thÓ h−íng tr−íc,
sau, ph¶i, tr¸i mét c¸ch lén xén, céng vect¬ l¹i chóng triÖt tiªu lÉn nhau. Nh− vËy,

khi chØ cã tõ tr−êng ngoμi B0 , vect¬ tõ ho¸ däc theo ph−¬ng cña tõ tr−êng ngoμi
→ → → →
M // = ∑ μ // cùc ®¹i, cßn vect¬ tõ ho¸ ngang M ⊥ = ∑ μ ⊥ b»ng kh«ng (h×nh 19.3).

f0
Khi chiÕu sãng ra®i« cã tÇn sè b»ng tÇn sè ®¶o f 0 (hay tÇn sè gãc ω 0 = )


theo ph−¬ng vu«ng gãc víi B0 , nh− ta ®· thÊy, cã céng h−ëng x¶y ra: vect¬ tõ
→ →
tr−êng B1 do sãng ra®i« (sãng ®iÖn tõ) t¹o ra, quay quanh B0 víi tÇn sè gãc ω0 t¸c
→ →
dông lªn m«men tõ μ cña h¹t nh©n mét lùc tuÇn hoμn, lμm cho μ nghiªng m¹nh
→ →
vÒ phÝa B1 vμ quay quanh B0 mét c¸ch ®ång pha víi nhau. KÕt qu¶ lμ khi céng
→ →
h−ëng vect¬ tõ hãa ngang M ⊥ = ∑ μ ⊥ cùc ®¹i.
→ → →
Cßn vect¬ tõ hãa däc, mét mÆt do μ nghiªng vÒ B1 nªn gi¸ trÞ cña μ // nhá
®i, mÆt kh¸c do hÊp thô céng h−ëng n¨ng l−îng sãng ra®i« cã thªm mét sè m«men
tõ cña h¹t nh©n quay vÒ phÝa ®èi song song, do ®ã N2 t¨ng lªn, N1 gi¶m xuèng,

257
ΔN = N1 − N 2 gi¶m ®¸ng kÓ. KÕt qu¶ lμ khi céng h−ëng vect¬ tõ ho¸ däc
→ →
M // = ∑ μ // b»ng kh«ng.
Khi t¾t sãng ra®i«, tËp hîp c¸c h¹t nh©n ®ang tõ tr¹ng th¸i céng h−ëng
chuyÓn vÒ tr¹ng th¸i b×nh th−êng ban ®Çu. Ng−êi ta gäi ®ã lμ qu¸ tr×nh håi phôc.

Trong qu¸ tr×nh nμy, vect¬ tõ ho¸ däc M // cã ®é lín tõ gi¸ trÞ kh«ng trë vÒ gi¸ trÞ

cùc ®¹i, vect¬ tõ ho¸ ngang cã ®é lín tõ gi¸ trÞ cùc ®¹i M ⊥ trë vÒ gi¸ trÞ kh«ng. Tuy
nhiªn thêi gian trë vÒ, tøc lμ thêi gian håi phôc T1 ®èi víi vect¬ tõ ho¸ däc vμ thêi
gian håi phôc T2 ®èi víi vect¬ tõ ho¸ ngang kh«ng nh− nhau, nãi chung T1 > T2.
NÕu quanh h¹t nh©n cã nhiÒu ph©n tö nhá (nhÑ), nh− ph©n tö n−íc H2O, viÖc
h¹t nh©n truyÒn n¨ng l−îng ®· hÊp thô sÏ l©u h¬n so víi khi quanh h¹t nh©n lμ
nh÷ng ph©n tö lín, cång kÒnh, thÝ dô víi ph©n tö cña c¸c chÊt mì, chÊt bÐo… Víi
c¸c tÕ bμo sinh häc, tïy theo chøa Ýt n−íc, nhiÒu n−íc, Ýt mì hay nhiÒu mì… T1 thay
®æi tõ 300 ®Õn 2000 miligi©y.
Thêi gian håi phôc T2 còng sÏ cã trÞ sè lín khi quanh h¹t nh©n lμ n−íc vμ cã
trÞ sè nhá khi quanh h¹t nh©n lμ dÞch chøa c¸c ph©n tö lín hoÆc nhiÒu chÊt mì.
Nh−ng nãi chung, T2 nhá h¬n T1, th−êng thay ®æi tõ 30 miligi©y ®Õn 150 miligi©y vμ
so víi T1 th× nh¹y c¶m víi cÊu tróc sinh häc h¬n.
→ → →
Tãm l¹i nÕu xÐt vect¬ tõ hãa tæng céng M = M // + M ⊥ th× khi céng h−ëng
→ → →
( M // = 0 , M ⊥ cùc ®¹i) ®Çu mót cña M v¹ch nªn vßng trßn trong mÆt ph¼ng vu«ng
→ → →
gãc B0 . Khi t¾t sãng ra®i«, M ⊥ võa quay trßn, võa co nhá l¹i, trong lóc ®ã M // tõ

gi¸ trÞ b»ng kh«ng, lín dÇn lªn. Do ®ã ®Çu mót cña M v¹ch nªn mét ®−êng xo¾n èc
nhá dÇn (H×nh 19.4).
VÒ nguyªn t¾c, nÕu ®Ó mét cuén d©y ®iÖn gÇn ®Êy th× biÕn thiªn tõ tr−êng do

M g©y ra sÏ lμm thay ®æi tõ th«ng qua cuén d©y vμ sinh ra dßng ®iÖn c¶m øng
trong cuén d©y. Trong kÜ thuËt céng h−ëng tõ, ng−êi ta bè trÝ ¨ngten ®Ó ph¸t sãng
ra®i« theo tõng xung, khi xung t¾t, qu¸ tr×nh håi phôc nh− ®· m« t¶ ë trªn x¶y ra vμ

¨ngten còng thu dßng ®iÖn c¶m øng sinh ra khi vect¬ tõ ho¸ M biÕn thiªn theo
®−êng xo¸y tr«n èc.

258
TÝn hiÖu ¨ngten thu ®−îc nμy cã tªn lμ tÝn hiÖu c¶m øng suy gi¶m tù do FID
(free induction decay). B¶n th©n tÝn hiÖu FID nμy m¹nh hay yÕu lμ do vect¬ tõ ho¸
→ →
M lín hay nhá, mμ ®é lín cña M l¹i phô thuéc vμo sè h¹t nh©n trong phÇn tö thÓ
tÝch, cô thÓ ë ®©y lμ sè pr«t«n. V× vËy tÝn hiÖu FID cho biÕt mËt ®é proton. Ph©n tÝch
kÜ d¹ng cña tÝn hiÖu FID cã thÓ t×m ®−îc thêi gian håi phôc tõ hãa ngang T2 v.v…
Nh− vËy nÕu chia c¾t c¬ thÓ ng−êi ra tõng thÓ tÝch nhá cã täa ®é x, y, z t−¬ng øng,
lμm cho c¸c h¹t nh©n trong thÓ tÝch ®ã dao M¸y ph¸t RF vμ m¸y ®o
®éng céng h−ëng vμ thu tÝn hiÖu céng
h−ëng tõ thÓ tÝch ®ã göi ®i, thÝ dô tÝn hiÖu MÉu
FID, thêi gian håi phôc T1, thêi gian håi
N S
phôc T2 v.v… vμ quy ®Þnh ®é ®Ëm, nh¹t,

tr¾ng ®en hoÆc mμu s¾c xanh ®á tÝm vμng B0
øng víi tÝn hiÖu m¹nh, yÕu, dμi, ng¾n thu →
Cuén RF B1
®−îc, trªn c¬ së sè liÖu c¸c täa ®é x, y, z
cña phÇn tö thÓ tÝch vμ tÝn hiÖu céng H×nh 19.5 S¬ ®å m¸y céng h−ëng tõ
h¹t nh©n ë phßng thÝ nghiÖm.
h−ëng thu ®−îc tõ phÇn tö ®ã, th× m¸y
tÝnh cã thÓ vÏ ra trªn mμn h×nh ¶nh c¾t líp
hai chiÒu hoÆc ¶nh ba chiÒu cña c¬ thÓ. Tïy theo tÝn hiÖu thu ®Ó t¹o ¶nh m¹nh hay
yÕu ¶nh nμy cã thÓ cho biÕt ®©u lμ n−íc, ®©u lμ chÊt mì, m¸u, x−¬ng v.v…
19.2. Chôp ¶nh c¾t líp céng h−ëng tõ h¹t nh©n
Tr−íc hÕt ta xÐt c¸ch thùc hiÖn céng h−ëng tõ h¹t nh©n ë phßng thÝ nghiÖm
nghiªn cøu tÝnh chÊt vËt liÖu. ThiÕt bÞ gåm mét nam ch©m vÜnh cöu ®Ó t¹o ra tõ

tr−êng ®Òu B0 gi÷a hai cùc (h×nh 19.5). Gi¶ sö mÉu nghiªn cøu ®Æt trong mét èng
→ →
h×nh trô chung quanh cã cuén d©y ®iÖn, hai ®Çu cuén d©y B1 vu«ng gãc víi B0 .

Ng−êi ta ®iÒu khiÓn tÇn sè cña B1 sao cho cã hiÖn t−îng céng h−ëng tõ x¶y ra. Lóc
®ã c«ng suÊt cña m¸y ph¸t v« tuyÕn t¨ng vät h¼n. Nh− vËy, theo dâi c«ng suÊt ë
m¸y ph¸t phô thuéc vμo tÇn sè, ta x¸c ®Þnh ®−îc nh÷ng tÇn sè øng víi cã céng

h−ëng tõ x¶y ra trong mÉu. Mäi biÕn thiªn cña m«men tõ tæng céng M cña mÉu
®Òu cã thÓ g©y nªn dßng c¶m øng trong cuén d©y ®Æt chung quanh mÉu theo nguyªn

259

t¾c: M biÕn thiªn lμm biÕn thiªn tõ th«ng di qua cuén d©y, biÕn thiªn tõ th«ng sinh

ra dßng ®iÖn c¶m øng. NÕu bè trÝ cuén d©y vu«ng gãc víi B0 ta ®o ®−îc biÕn thiªn
→ →
cña thμnh phÇn M song song víi song song víi B0 tøc lμ M // . Tõ ®ã ta ®o ®−îc

thêi gian håi phôc däc. NÕu bè trÝ cuén d©y song song víi B0 ta ®o ®−îc biÕn thiªn

cña thμnh phÇn vu«ng gãc M ⊥ , tõ ®ã x¸c ®Þnh ®−îc thêi gian håi phôc ngang. C¸c
tÝn hiÖu mμ c¸c cuén d©y thu ®−îc rÊt nhá, rÊt ng¾n nh−ng kÜ thuËt xö lÝ tÝn hiÖu
ngμy nay cho phÐp ®o kh¸ chÝnh x¸c.
Gi¶i ph¸p kÜ thuËt quan träng nhÊt ®Ó cã ®−îc ¶nh c¾t líp céng h−ëng tõ h¹t

nh©n lμ do Lauterbur ®−a ra n¨m 1973. §ã lμ thªm vμo tõ tr−êng m¹nh B 0 c¸c tõ
tr−êng yÕu nh−ng biÕn thiªn ®Òu theo kho¶ng c¸ch, nãi c¸ch kh¸c lμ t¹o ra c¸c
gradien tõ tr−êng.
Tr−íc hÕt ta xÐt c¸ch t¹o ra tõ tr−êng cã

gradien theo z vμ t¸c dông cña tõ tr−êng nμy. B 0 = 1T
→ z
Cuén d©y siªu dÉn t¹o ra mét tõ tr−êng B 0 Bo + Bz
1,02 T
rÊt m¹nh vμ rÊt ®Òu. Ng−êi ta bè trÝ thªm mét cuén 1,01 T
→ 1,00 T
d©y t¹o ra mét tõ tr−êng yÕu song song víi B0 0,99 T
nh−ng biÕn thiªn ®Òu theo z, tøc lμ cã d¹ng 0,98 T
→ →
Bz = (α + β z ) B0 . (19.2)
VËy thªm cuén d©y t¹o gradien nμy, tõ H×nh 19.6. Do Bz cã gradien
theo z kh«ng gian trong h×nh trô
tr−êng tæng céng bªn trong cuén d©y siªu dÉn lμ: ®−îc chia thμnh nh÷ng líp c¾t
→ → → máng vu«ng gãc víi z, tõ tr−êng
B0 + Bz = (1 + α + β z ) B0 . (19.3) Bo +Bz trong mçi líp cã thÓ xem
lμ kh«ng ®æi.
Tõ tr−êng nμy rÊt m¹nh, biÕn thiªn ®Òu theo
z: tõ tr−êng bªn trong h×nh trô bÞ chia thμnh tõng líp máng, vu«ng gãc víi trôc z.
Trong ph¹m vi mét líp, tõ tr−êng cã thÓ xem lμ kh«ng thay ®æi . Khi ®i tõ líp nμy
®Õn líp kia tõ tr−êng t¨ng dÇn, thÝ dô nh− ë h×nh vÏ 10.35 lμ 0,97T, 0,98T, 0,99T, 1T,
1,01T, 1,02T, 1,03T, … C¬ thÓ ng−êi ®−îc ®Æt trong h×nh trô rçng, xÐt vÒ mÆt tõ cã

260
thÓ chia ra lμm nhiÒu líp: líp n»m trong tõ tr−êng 0,97T, líp n»m trong tõ tr−êng
0,98T v.v… TÇn sè cña chuyÓn ®éng ®¶o cña m«men tõ h¹t nh©n phô thuéc vμo tõ
tr−êng ngoμi, thÝ dô ®èi víi h¹t nh©n nguyªn tö hi®ro, khi tõ tr−êng ngoμi lμ 1T, tÇn
sè chuyÓn ®éng ®¶o lμ 42,58 MHz.

Khi c¬ thÓ n»m trong tõ tr−êng ngoμi cã gra®ien theo z, nÕu chiÕu sãng ra®io
cã tÇn sè 42,58 MHz vμo c¶ c¬ thÓ th× chØ cã c¸c h¹t nh©n nguyªn tö hidro n»m
trong tõ tr−êng 1T míi bÞ céng h−ëng. Nh− vËy nhê cuén d©y t¹o ra gradien tõ
tr−êng theo trôc z ta cã thÓ t¹o ra céng h−ëng tõ h¹t nh©n chØ trong mét líp vu«ng
gãc víi z. Líp nμy dμy hay máng lμ tuú thuéc vμo tõ tr−êng biÕn thiªn nhanh hay
chËm, tøc lμ phô thuéc ®é lín dH/dz cña tõ tr−êng. Cã thÓ dÞch chuyÓn vÞ trÝ céng
h−ëng b»ng hai c¸ch:

C¸ch 1 : gi÷ nguyªn tÇn sè cña sãng radio, dÞch chuyÓn gradien tõ tr−êng.
C¸ch 2 : gi÷ nguyªn gradien tõ tr−êng, thay ®æi tÇn sè cña sãng radio.
ë m¸y t¹o ¶nh c¾t líp céng h−ëng tõ cã tÊt c¶ ba cuén t¹o gradien tõ tr−êng
theo ph−¬ng x, ph−¬ng y vμ ph−¬ng z. Phèi hîp sö dông c¶ ba cuén, vÒ nguyªn t¾c
cã thÓ t¹o ra ®−îc céng h−ëng tõ trong mét phÇn tö thÓ tÝch cã to¹ ®é x, y, z cña c¬
thÓ vμ thu lÊy tÝn hiÖu céng h−ëng tõ tõ thÓ tÝch ®ã ph¸t ra. Cã thÓ ®iÒu khiÓn ®Ó
chän mét líp c¾t vμ lÇn l−ît quÐt phÇn tö thÓ tÝch céng h−ëng theo toμn bé diÖn tÝch
cña líp c¾t. Tõ tËp hîp c¸c sè liÖu vÒ tÝn hiÖu céng h−ëng vμ vÞ trÝ t−¬ng øng m¸y
tÝnh cã thÓ t¹o ra ¶nh céng h−ëng tõ cña líp c¾t. Thu thËp sè liÖu tõ c¸c líp c¾t liªn
tiÕp nhau, m¸y tÝnh cã thÓ dùng l¹i ¶nh ba chiÒu trong kh«ng gian cña ®èi t−îng.
Tuú thuéc vμo viÖc lÊy tÝn hiÖu
céng h−ëng nμo ®Ó t¹o ¶nh vμ céng h−ëng
x¶y ra ®èi víi h¹t nh©n nμo, ¶nh c¾t líp céng MËt ®é proton
chÊt tr¾ng

ChÊt x¸m

h−ëng tõ sÏ cho ta c¸c th«ng tin t−¬ng øng.


x−¬ng

C¬ b¾p
gan
da

ThÝ dô, tÝn hiÖu c¶m øng tõ do suy gi¶m FID


phô thuéc vμo ®é lín cña vect¬ tõ ho¸ M cña
phÇn tö thÓ tÝch mμ M l¹i phô thuéc vμo sè
H×nh 19.7. So s¸nh mËt ®é proton ë
m«men tõ cña proton, do ®ã tÝn hiÖu nμy c¸c bé phËn trong c¬ thÓ.
m¹nh hay yÕu phô thuéc vμo mËt ®é proton lín hay nhá, tõ ®ã ta cã thÓ lý gi¶i nh÷ng chç
®Ëm nh¹t trªn ¶nh cã thÓ t−¬ng øng víi nh÷ng chÊt nμo (h×nh 19.7).

261
Th«ng th−êng ng−êi ta hay sö dông tÝn hiªu liªn quan ®Õn thêi gian håi phôc
däc vμ ngang. Nh− ®· nªu trªn, c¸c thêi gian håi phôc T1 vμ T2 rÊt phô thuéc phÇn tö
thÓ tÝch chøa chÊt g× : chÊt n−íc, chÊt dÞch, n·o tuû, ung th−… Do ®ã ë ¶nh c¾t líp
sö dông c¸c lo¹i tÝn hiÖu T1, T2 dÔ thÊy râ ®©u lμ m¸u, ®©u lμ mì, ®©u lμ n·o… vμ cã
thÓ ph©n biÖt m¸u ®ang ch¶y dÒu trong m¹ch m¸u hay m¹ch m¸u bÞ vì, m¸u ch¶y
ngÇm ra ngoμi. B»ng kü thuËt xö lý ¶nh, nh÷ng chç cã tÝn hiÖu céng h−ëng øng víi
x−¬ng ng−êi ta cho mμu tr¾ng ®ôc, chç øng víi m¸u cã mμu ®á, chç øng víi mì cã
mμu vμng nh¹t v.v…do ®ã ng−êi b¸c sÜ dÔ dμng nhËn ®Þnh khi chÈn ®o¸n bÖnh.
So víi chôp ¶nh c¾t líp b»ng tia X (X-ray computed tomography) vμ mét vμi
c¸ch chôp ¶nh dïng h¹t nh©n phãng x¹, ph−¬ng ph¸p chôp ¶nh c¾t líp céng h−ëng
tõ h¹t nh©n cã −u ®iÓm lín lμ kh«ng ®−a vμo c¬ thÓ ng−êi bÊt cø bøc x¹ i«n hãa nμo.
Khi chôp ¶nh, c¬ thÓ ng−êi chØ chÞu ba t¸c dông vËt lÝ: tõ tr−êng tÜnh rÊt m¹nh

B0 , biÕn thiªn cña gradien tõ tr−êng vμ sãng radi«.

Tõ tr−êng tÜnh B0 ®−îc sö dông th−êng vμo cì 1 Tesla trë lªn, m¹nh gÊp
20.000 lÇn tõ tr−êng Tr¸i §Êt. Theo nhiÒu kÕt qu¶ nghiªn cøu tõ tr−êng m¹nh vμo cì
®ã thËm chÝ ®Õn 2,5 Tesla vÉn ch−a cã t¸c h¹i g× ®Õn c¬ thÓ. Cßn gradien tõ tr−êng
khi biÕn thiªn m¹nh còng chØ g©y ra trong c¬ thÓ dßng ®iÖn c¶m øng víi mËt ®é
dßng vμo cì 1μA/cm2. Gi¸ trÞ nμy còng qu¸ nhá kh«ng g©y h¹i g×. D−íi t¸c dông
cña sãng ra®io chiÕu vμo, c¬ thÓ chØ hÊp thô hÕt 0,7 W, t−¬ng øng chØ cã thÓ lμm
nhiÖt ®é c¬ thÓ t¨ng cì 0,1-0,2o C.
§iÒu h¹n chÕ cña ph−¬ng ph¸p céng h−ëng tõ h¹t nh©n lμ trong c¬ thÓ kh«ng
®−îc cã m¶nh kim lo¹i, vËt liÖu tõ, thÝ dô m¶nh bom, viªn ®¹n cßn sãt l¹i nÕu cã
d−íi t¸c dông cña tõ tr−êng c¸c lo¹i vËt liÖu tõ nμy sÏ bÞ hót m¹nh vμ nãng lªn. §Æc
biÖt lμ nh÷ng ng−êi dïng m¸y trî tim, nÕu ®−a vμo tõ tr−êng m¹nh, m¸y bÞ háng
ngay vμ ng−êi mang m¸y khã tr¸nh khái tö vong.
Ph−¬ng ph¸p chôp ¶nh c¾t líp céng h−ëng tõ h¹t nh©n cã nhiÒu −u ®iÓm so
víi c¸c ph−¬ng ph¸p chôp ¶nh c¾t líp kh¸c trong y häc. TÝn hiÖu céng h−ëng ®Ó t¹o
ra ®é ®Ëm, nh¹t, ®en, tr¾ng hay mμu s¾c trªn ¶nh rÊt nh¹y c¶m víi cÊu t¹o, tæ chøc
sinh häc cña c¬ thÓ. Trªn ¶nh c¸c tæ chøc, c¸c chç bÊt th−êng nh− m¹ch m¸u bÞ r¹n
nøt, m¸u rØ ra ngoμi, khèi u nhá chÌn d©y thÇn kinh… rÊt dÔ ph©n biÖt vμ ph¸t hiÖn.

262
H×nh 19.8. M¸y chôp h×nh b»ng céng h−ëng tõ h¹t nh©n (h×nh trªn). H×nh ¶nh mÆt
c¾t däc cña vïng ®èt sèng cæ (h×nh d−íi, bªn tr¸i) vμ h×nh ¶nh mÆt c¾t ngang cña
tuû sèng (h×nh d−íi, bªn ph¶i)

263
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Jay Newman (2008), Physics of the life sciences, Springer


2. Nico A.M Schellart (2009), Compendium of Medical physics, Medical
technology and Biophysics, Dept of Medical physics, University of
Amsterdam.
3. Paul Davidovits (2008), Physics in Biology and Medicine (Third Edition),
Academic Press
4. Phan Sỹ An – Nguyễn Văn Thiện (Chủ biên) (2006), Vật lý - Lý sinh y học,
NXB Y học.
5. Phan Sỹ An (Chủ biên) (2005), Lý sinh y học, NXB Y học.
6. Lương Duyên Bình (Chủ biên) (2001), Vật lý đại cương (3 tập), NXB Giáo dục .
7. Lương Duyên Bình (Chủ biên) (2001), Bài tập vật lý đại cương (3 tập), NXB
Giáo dục.
8. Lương Duyên Bình (Chủ biên) (2005), Giải bài tập và bài toán Cơ sở vật lý
(5 tập), NXB Giáo dục.
9. Phan Văn Duyệt (1979), Phóng xạ y học, NXB Yhọc Hà Nội.
10. David Halliday và các tác giả (2001), Cơ sở vật lý (6 tập), NXB Giáo dục
11. Dương Xuân Đạm (2004), Vật lý trị liệu đại cương, NXB Văn hoá thông tin.
12. Nguyễn Thị Kim Ngân (2001), Lý sinh học, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
13. Lê Văn Trọng (2001), Giáo trình lý sinh học, NXB Đại học Huế.
14. Trần Đỗ Trinh (1994), Hướng dẫn đọc điện tim, NXB Y học Hà Nội.
15. Vật lý đại cương, Bộ môn Vật lý - Toán, Đại học Dược Hà Nội - 2000.

264

You might also like