You are on page 1of 3

Cuộc đời tác giả dường như tải ta, tâm trạng của người viết cũng được

phơi bày một cách


trung thực nhất không giấu giếm, không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca có thể tác động đến trái tim
người đọc khi nó đi xa từ chính trái tim của người viết. Phải tin mới có thể đi đến trái tim.
Nếu như những gì anh biết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể
cung tên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Nguyễn Trãi, ta cảm
nhận được rất rõ nét trái tim đang tung lên bởi cái đẹp trước thiên nhiên, từ đó bộc lộ được
tấm lòng trung dân ái quốc của chính tác giả.
Ngay phần mở đầu của bài thơ, Nguyễn Trãi đã thể hiện được tâm hồn thanh thản khi đã
bỏ lại được sau lưng cái bụi hồng trần, cái cuộc sống xô bồ chốn quan trường và cái hư
danh của chức tước.
“Công danh đã được hợp về nhàn
Lành dữ âu chi thế nghị khen”
Công danh là cái đích cũng là niềm mơ ước mà bao nhiêu nhà Nho xưa hướng đến, tu luyện phẩm
chất, chăm chỉ học hành để cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước, nhân dân, và cũng là để
nhận được sự đánh giá và công nhận của bề trên. Thời nào cũng vậy, việc nam nhi tử hán đặt công
danh lên làm gánh nặng là lẽ thường tình, kẻ không có công danh sự nghiệp, không làm trọn bổn
phận của một đấng nam nhi với đất nước, cũng chẳng đáng nhắc đến làm gì. Nói về vấn đề công
danh, nhà thơ Nguyễn Công Trứ cũng đã từng khẳng định: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có
danh gì với núi sông”. Thế nhưng, Nguyễn Trãi lại thể hiện được sự nhẹ nhõm, thanh nhàn khi trút
bỏ được gánh nặng của công danh. Bỏ qua tất cả cái ồn ào, đầy ghen tị của lũ tiểu nhân trong chốn
quan trường, Nguyễn Trãi tìm về một cuộc sống thanh nhàn, yên bình trong chính cái tâm của mình,
rút khỏi những cuộc đấu đá quyền lực, tranh giành vinh hoa hèn mọn, đáng khinh bỉ bằng những
hành động ghê tởm “Lành dữ âu chi thế nghị khen”. Bao giờ cũng vậy, làm chức quan trong triều
đình cũng gặp rất nhiều cám dỗ, nếu xuôi theo bọn nịnh thần thì sẽ có vinh hoa phú quý, nhưng lại
vô tình đánh mất đi chính mình. Còn nếu sống đúng với chính mình, trong sạch, liêm khiết như áo
trắng chẳng vết nhơ thì lại được cho rằng chống đối với cả một tập đoàn gian thần phía sau vỏ bọc
tưởng chừng đẹp đẽ, thánh thần của áo quan. Chúng luôn sống trong sự tung hô của những kẻ hầu
mọn thân cận, cậy quyền cậy thế làm càn, nhấn cuộc sống nhân dân xuống bùn lầy nhơ nhớn, ngông
cuồng tạo nên những nỗi đau bất hạnh cho chúng sinh. Nguyễn Trãi là một vị quan liêm chính, có lối
sống trong sạch quyết không chịu đầu hàng cái xấu xa, luôn hết mình cống hiến và phò tá vua trị vì
đất nước, vì vậy ông là đối tượng mà bọn gian thần này muốn hãm hại, diệt trừ.
Giờ đây, ông đã trút bỏ được hết thứ hư danh ấy để về với cuộc sống bình dị, ông sống cuộc sống
như của một ẩn sĩ thực sự, vui với những thú vui giản dị:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống


Đìa thanh phát cỏ ương sen”
Là một vị quan tài giỏi nhưng khi đã về ở ẩn thì cuộc sống của Nguyễn Trãi cũng giản dị, mộc mạc
như bao người Nho sĩ khác, sống bầu bạn với thiên nhiên, làm những công việc dung dị, “vớt bèo”
để cấy muống, đó là những loài thực vật trong tự nhiên nhưng trong cuộc sống ở ẩn đấy thì nó lại là
những nguồn thức ăn, nguồn thực phẩm mà nhà thơ sử dụng nó hàng ngày. Cuộc sống nơi hoang
dã không có những sơn hào hải vị mà chỉ có “muống”, “ương sen”, nhưng cũng chỉ cần như vậy thôi,
cuộc sống cũng đã vô cùng ý nghĩa, mãn nguyện. Bởi cái nhà thơ có được là sự thanh thản trong
tâm hồn, được sống ở một môi trường trong sạch, không vướng bụi trần. Đó chính là tinh thần nhập
thế rất tích cực của các bậc đại ẩn. Thật khó có thể tìm thấy dấu vết của lối sống quan trường cao
sang trong những câu thơ như vậy. Tuy nhiên, liệu ông trở về quê trồng rau muống, ương sen như
một lão nông tri điền đã đúng với tinh thần của bài thơ này? Phải đặt hai câu thơ đó vào trong toàn
bài thơ. Nguyễn Trãi chỉ nói “hợp về nhàn”, chứ tuyệt nhiên không nói đến việc ông về quê hay về
đâu. Cái sự công danh đã được rồi, nên về nhàn là cái nhàn tư tưởng, cái nhàn đầu óc. Hai câu này
như là một tuyên bố cách ứng xử của nhà Nho, nhằm mục tiêu “chỉ có lòng trung hiếu mài chẳng
khuyết, nhuộm chẳng đen”. Đó là phương châm ứng xử, trong mọi trường hợp cũng mềm dẻo, linh
hoạt để giữ lại cái căn cốt, ở đây là trung và hiếu. Ao cạn thì không thất vọng mà bỏ, vẫn có thể
thành ruộng trồng rau muống. Đầm trong, không còn nuôi tôm cá được nữa thì trồng sen. Đó là hai
câu như là tục ngữ kinh nghiệm sống, dù hoàn cảnh nào thì người nông dân vẫn tìm ra cách để làm
cho ao đầm có ích, “giữ mầm sống” trường tồn. Cái mầm sống muống và sen ấy, với Nguyễn Trãi
muốn nói đến, chính là lòng trung hiếu. Hai câu thơ này đặt trong toàn bài, truyền thông điệp tư
tưởng, chứ không phải dụng công tả cái hình tướng một cách thô mộc.
Về ở ẩn nơi quê nhà, tâm hồn yêu thiên nhiên của nhà thơ càng được thể hiện rõ nét, mang đậm
màu sắc ước lệ cổ điển đầy thi vị:
“Kho thu phong nguyệt chở đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vậy then”
Những câu thơ này thể hiện được lối sống thanh bạch của nhà thơ Nguyễn Trãi khi lấy “phong”,
“nguyệt” tức gió trăng là người bầu bạn, cảm nhận nhịp sống nơi dân dã, tâm hồn thanh bạch của
con người vĩ đại này dường như đã được tỏa rạng. Đối với ông thiên nhiên quả là báu vật, là nguồn
của kho vô tận mà chỉ có ở những người như ông – yêu thiên nhiên hết mực mới cảm nhận được cái
tuyệt mĩ. hoàn hảo của nó. “Một câu thơ đẹp, rất ảo, tràn đầy mỹ cảm, hình như chưa thấy ở đâu,
chưa thấy ai sáng tạo được như thế. Ức Trai quả thật là vị tiên trong thơ, từ trong thơ mà lừng lững
đi ra, rồi cùng với thơ đi vào bất tử”. Hình ảnh ở đây rất ảo diệu. “Kho” là hữu hạn, thu vào gió trăng
vô hạn. “Thuyền” là hữu hạn, chở khói sông là vô hạn. Gió trăng dĩ nhiên đầy vượt qua nóc. Còn khói
sông tưởng nhẹ mà nặng vạy cả then thuyền. Điều tất nhiên đối với điều huyền ảo. Đây là 2 câu thơ
thần tình trong bài thơ này. Con người nhàn vượt lên thực tại, đó là cái chất trong tâm trí, cái kỳ diệu,
mầu nhiệm của phẩm chất trung hiếu. Dù cho hoàn cảnh thực tại phải ứng xử như cấy muống, trồng
sen, thì tâm hồn và trí tuệ vẫn là cái kho phong nguyệt và thuyền yên hà kia. Tâm hồn trăng gió vẫn
phóng khoáng vượt ra ngoài mái kho sống. Trí tuệ khói sông thế mà còn nặng lẽ thuyền đời. Hai câu
này bổ sung và nâng đỡ, hiệp cùng hai câu trên, để nói về lòng trung hiếu. Thế mới là “mài chăng
khuyết, nhuộm chăng phai”.
Tuy đã lui về ở ẩn nhưng với tấm lòng của Nho sĩ yêu nước, luôn hướng về dân về nước thì ông vẫn
mang nặng nỗi lòng về vận sự của đất nước:
Bui có một lòng trung lẫn hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.
Nguyễn Trãi được biết đến là người luôn đau đáu trong lòng về vận sự đất nước, về đời sống của
nhân dân. Nếu như nhân dân còn khổ cực thì Nguyễn Trãi cũng chẳng thể ngồi yên mà hưởng
“nhàn” nơi vùng quê thanh vắng, bầu bạn cùng thiên nhiên. Con người Nguyễn Trãi là thế, luôn
mang trong mình trách nhiệm lo cho dân cho nước, răn mình phải tìm mọi cách khiến cho thái bình
thịnh trị, vận nước an yên, nhân dân no đủ. Một người “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu/ Hậu thiên hạ chi
lạc nhi lạc” thì làm sao có thể thản nhiên hưởng “nhàn” trong khi đất nước đang loạn lạc, công thần
sa đọa như thế. Hai câu kết khép lại những suy tư cảm xúc về lạc thú thanh nhàn và nhìn lại định
hưởng cho cả một đời người, ở đây, tự đáy lòng nhà thơ, vượt lên trên cái thú “phong nguyệt, yên
hủ” vẫn tâm niệm “một lòng trung lẫn hiếu”. Niềm trung hiếu này thể hiện một quan niệm sống của
một con người có nhân cách vĩ đại, tiết tháo cao cả: trung hiếu với vua, với nước, với dân. Đó là khao
khát sâu kín và cháy bỏng suốt một đời của Nguyễn Trãi. Tấm lòng Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau
đáu hướng về đất nước, nhân đân. Ông gọi đó là lòng ưu ái, lòng trung hiếu không lúc nào phôi phai
được. Quả là một nhà ái quốc vĩ đại.
Việt hóa thể thơ Đường luật, sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, viết bằng chữ Nôm.
Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân, sử dụng những từ ngữ
thuần Việt. Hình ảnh thơ quen thuộc, gần gũi. Cách ngắt nhịp linh hoạt, vượt ra khỏi tính
quy phạm của thơ Đường luật->Thể hiện ý thức việt hoá, trân trọng văn hoá dân tộc
Nguyễn Đình Thi từng nói rằng: "Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật
vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy". Quả thực, một tác
phẩm đích thực luôn đốt lửa trong lòng người đọc bởi giá trị tư tưởng của chúng. “Thuật hứng” bài
24 đã khắc họa một ẩn sĩ giã từ chốn quan trường thị phi về nơi quê nhà sống cuộc sống dân dã,
thanh bạch. Tuy lui về ở ẩn nhưng Nguyễn Trãi không lúc nào không lo tới vận mệnh đất nước, cuộc
sống của người dân. Thật khó để tìm thấy một vị quan có suy nghĩ nhân n

You might also like