You are on page 1of 9

BẢN CHẤT VÀ NGUỒN CỦA

LUẬT HỒI GIÁO


15 năm trước

Advertisements

 THS. ÐỖ THỊ MAI HẠNH – ÐẠI HỌC


LUẬT TPHCM

Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp


luật cùng tồn tại. Ðó là hệ thống pháp
luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Thông luật, hệ thống
pháp luật Xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật Tôn giáo
(hay còn gọi là hệ thống Luật Hồi giáo). So với các hệ thống
pháp luật khác, hệ thống Luật Hồi giáo luôn là một bí ẩn đối
với giới luật gia. Hiện nay, ở Việt Nam, các thông tin về nguồn
gốc và đặc điểm nguồn luật của hệ thống pháp luật này qua
các tài liệu còn tương đối hiếm và không thống nhất. Vì vậy,
trong bài viết, tác giả muốn giới thiệu thật cô đọng về hệ
thống Luật Hồi giáo, đặc biệt là xác định bản chất và nguồn
của hệ thống pháp luật này.

I. Về bản chất của Luật Hồi giáo

Trước hết cần hiểu đúng về Ðạo Hồi và Luật Hồi giáo. Cũng như
Ðạo Phật, Ðạo Chúa,… Ðạo Hồi là một tín ngưỡng tôn giáo. Ðạo
Hồi khuyên các tín đồ sống, làm việc thiện để sau này có một cuộc
sống tươi đẹp, hạnh phúc ở cõi vĩnh hằng. Các tín đồ theo Ðạo Hồi
phải thực hiện những nghĩa vụ như: ăn chay, cầu nguyện, bố thí,
hành hương và sống theo những lời răn dạy của thánh Alla trong
Kinh Qu’ran (Koran).1 Nếu làm được như vậy, họ sẽ có một cuộc
sống vĩnh hằng hạnh phúc ở thiên đường.
:
Luật Hồi giáo, theo nghĩa gốc bằng tiếng Arập được phiên âm
sang tiếng Latinh, là Luật Shari’ah – nghĩa là “con đường đúng”
(the right path) hoặc là “sự hướng dẫn” (guide)2. Ðây là các quy
phạm tôn giáo được nâng lên thành quy phạm pháp luật được các
quốc gia trong hệ thống Luật Hồi giáo (điển hình như Afghanistan,
Pakistan, Kowait, Bahrain, Quatar, Arập Xêut)3 áp dụng để điều
chỉnh các vấn đề phát sinh trong xã hội.

Hai yếu tố cơ bản, tiên quyết để xác định một quốc gia thuộc hệ
thống Luật Hồi giáo bao gồm: Ðạo Hồi là quốc đạo của quốc gia,
quốc gia lấy các quy định trong Kinh Thánh của Ðạo Hồi làm luật.
Chính vì vậy mà Thổ Nhĩ Kỳ, dù là nước có Ðạo Hồi là quốc đạo,
nhưng vẫn là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa vì
ở quốc gia này Ðạo Hồi chỉ được coi là tôn giáo4 chứ không phải là
luật.

Ðặc điểm mấu chốt của sự khác biệt giữa hệ thống Luật Hồi giáo
với các hệ thống pháp luật thế giới khác là ở các quốc gia áp dụng
Luật Hồi giáo không có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước
(church and state). Ở đây, chính trị thần quyền (chế độ cai trị của
các tăng lữ, trong đó các luật lệ của nhà nước được tin tưởng là
luật lệ của Chúa Trời) bao trùm và điều chỉnh các vấn đề mang
tính chất công và tư. Cũng chính từ học thuyết này, Shari’ah là luật
Thánh Alla ban hành, không biến đổi và được nhà nước áp dụng
cho mọi thời đại; nói khác đi, nhà nước, luật pháp và tôn giáo chỉ là
một. Khái niệm này có thể hiểu ở mức độ khác nhau giữa các quốc
gia, nhưng luật pháp, chính quyền đều dựa vào khái niệm đó và là
một phần của tôn giáo Ðạo Hồi5.

Hiện nay có trên 1.2 tỉ người theo Ðạo Hồi (chiếm khoảng 20% dân
số thế giới).6 Ða số những người theo Ðạo Hồi sống ở hơn 50
quốc gia có luật pháp là Luật Hồi giáo hoặc ảnh hưởng chủ yếu bởi
Luật Hồi giáo.7 Số còn lại, là các tín đồ của Ðạo Hồi nhưng sống ở
:
những quốc gia chỉ coi Ðạo Hồi thuần túy là một hình thức tôn
giáo. Tuy không thể nói một cách chính xác có bao nhiêu người
thực sự bị ảnh hưởng bởi Luật Hồi giáo, nhưng rõ ràng đó là một
con số đáng kể.

Do đó hệ thống Luật Hồi giáo bao gồm những quốc gia theo Luật
Hồi giáo, cũng là một hệ thống pháp luật thế giới lớn, tồn tại và
phát triển và tương tác cùng các hệ thống pháp luật thế giới khác.

II. Về nguồn của Luật Hồi giáo

Như đã đề cập ở trên, Luật Hồi giáo chính là Luật Shari’ah. Luật
này điều chỉnh, đưa ra nguyên tắc và quy định hành vi của người
dân, hoạt động của các cơ quan tổ chức, đưa ra các quy phạm để
áp dụng trong đời sống của một con người như: ăn kiêng, cách
nuôi dạy con cái, đồng thời cũng quy định và miêu tả những
nguyên tắc dành cho người tu hành, việc bố thí cho người nghèo
và những vấn đề tôn giáo khác. Bên cạnh đó Luật Shari’ah cũng
được sử dụng như những hướng dẫn đối với các hoạt động của
con người trong xã hội cũng như đối với những tác động qua lại
giữa các nhóm dân tộc. Ở phạm vi rộng hơn, Luật Shari’ah được áp
dụng để giải quyết những tranh chấp trong phạm vi quốc gia và
giữa các quốc gia với nhau, đồng thời giải quyết những tranh
chấp, xung đột quốc tế và vấn đề chiến tranh8. Do đó nguồn luật
của Luật Hồi giáo cũng chính là các thành tố của Luật Shari’ah.
Luật này gồm 4 thành tố sau: Kinh Qu’ran (hay còn gọi là Koran),
Kinh Sunna, Idjmá và Qiyás.9

Thành tố đầu tiên mang tính chất chủ đạo của Luật Hồi giáo là
Kinh Qu’ran. Ðây cũng là nguồn luật với những quy định mang giá
trị chung thẩm khi được áp dụng10. Kinh Qu’ran là nguồn luật cao
nhất của Luật Hồi giáo, được coi là những lời của Thánh Alla tiết lộ
cho tiên tri Muhammed (570-632)11. Sự hình thành và phát triển
:
của Qu’ran với tư cách vừa là Kinh Thánh vừa là luật xuất hiện ban
đầu bởi sự truyền đạo của nhà tiên tri (Prophet) Mohammad tại
thành phố Madinah, sau đó đã đồng loạt xuất hiện ở mọi nơi cùng
với sự gia tăng những tín đồ của Ðạo Hồi. Nhà tiên tri vừa là chỗ
dựa tinh thần vừa là người tạm thời đứng đầu cộng đồng. Về cấu
trúc Kinh Qu’ran được chia thành 30 phần và 114 chương và được
sắp xếp theo ý của nhà tiên tri12 . Các chương lại chia nhỏ thành
6.200 khổ thơ (verse), các luật gia Ðạo Hồi gọi chúng là “Những
khổ thơ pháp luật”13. Chỉ có khoảng 3% các khổ thơ đó là liên
quan đến pháp luật. Ví dụ, Luật Gia đình được quy định trong
khoảng 70 khổ thơ; các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực luật tư
khác được quy định trong 70 khổ thơ; khoảng 30 khổ thơ được coi
là đặc trưng cho Luật Hình sự; các vấn đề về tài chính và hiến
pháp thì được đề cập trong khoảng 20 khổ thơ; các vấn đề liên
quan đến Luật Quốc tế thì cũng được quy định trong khoảng 20
khổ thơ14.

Cách thức thể hiện những điều răn dạy và điều cấm trong Kinh
Qu’ran bao giờ cũng theo cùng một công thức: điều răn dạy đều
bắt đầu bằng lời giới thiệu, sau đó kết thúc bằng một lời cấm
đoán. Ðơn cử như điều răn sau15:

Ðoạn đầu tiên, lời giới thiệu là: “Người dân hỏi nhà tiên tri về rượu
và bài bạc. Hãy nói rằng, cả hai thứ đó đều xấu xa, dù rằng nó có
một thuận lợi nào đó cho đàn ông, nhưng sự xấu xa của nó thì to
lớn hơn sự thuận lợi đó nhiều lần”.

Ðoạn thứ hai, lời giới thiệu hướng đến điều cấm đoán: “Hỡi những
tín đồ, không được cầu nguyện khi người đang say”.

Ðoạn thứ ba, lời giới thiệu đã chuyển thành điều cấm hoàn toàn: “
Hỡi những tín đồ, uống rượu và chơi cờ bạc là những hành động
xấu xa, là công việc của quỷ dữ, vì vậy phải tránh xa nó”.
:
Trong Kinh Qu’ran, tín ngưỡng tồn tại bên cạnh một số nguyên tắc
pháp lý và hầu hết các nguyên tắc pháp lý liên quan đến luật gia
đình (kết hôn, ly dị và thừa kế), một số liên quan đến  Luật Hình sự
(ngoại tình, vu khống, uống rượu), một số liên quan đến hợp đồng
(hình thức hợp đồng, phương thức thanh toán), một số liên quan
đến vấn đề pháp luật về tài chính, hiến pháp, tòa án, tranh chấp
quốc tế… Các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nghi lễ, nghi thức và
luật pháp rất ngắn gọn trong Qu’ran và hầu như mang tính nguyên
tắc, không cụ thể. Hơn thế nữa, vẫn có một số vấn đề bỏ ngỏ,
chưa được đề cập. Vì vậy, về nguyên tắc, vẫn rất cần sự giải thích
và mô tả từ nhà tiên tri, hay nói cách khác, bên cạnh Kinh Qu’ran
vẫn cần có nguồn luật bổ trợ; đây chính là tiền đề để nguồn luật
quan trọng thứ hai của Luật Hồi giáo ra đời, đó là Kinh Sunna.

Kinh Sunna chứa đựng những lời dạy bảo của tiên tri Mohamed và
những giai thoại, những câu chuyện (gọi là Hadith) về nhà tiên tri
và các tín đồ của mình đã sống một cuộc sống phù hợp với trật tự
tôn giáo được quy định trong Kinh Qu’ran16. Những câu chuyện và
giai thoại đó đã chi tiết hóa những vấn đề được đề cập mang tính
nguyên tắc, hoặc chưa rõ ràng trong Kinh Qu’ran. Cuộc sống của
Mohamad và tín đồ của ông dần được xem là khuôn mẫu cho cuộc
sống của người dân trong xã hội. Nội dung của Sunna gồm 3 loại:
lời nói của tiên tri về tôn giáo; hoạt động và hành vi của nhà tiên tri
và sự chấp nhận của tiên tri đối với một số hành vi nhất định của
con người. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong một chừng mực
nhất định, các nguyên tắc của Ðạo Hồi, Luật Hồi giáo cũng được
rút ra từ nguồn Sunna này. Bởi vì Qu’ran nhìn chung chỉ giải quyết
những nguyên tắc lớn về pháp luật, những vấn đề cốt yếu về tôn
giáo và đi sâu vào chi tiết một số ít trường hợp. Ðiển hình như:
Kinh Qu’ran cấm uống ruợu, nhưng lại không nói gì về chế tài đối
với hành vi này; chế tài này lại được tìm thấy trong Kinh Sunna
bằng việc miêu tả rằng nhà tiên tri đã ra chế tài và bản thân ông là
:
người thực thi hình phạt đánh roi đối với hành vi uống rượu này17.
Như vậy, Kinh Sunna đã chi tiết hóa những vấn đề đó bằng lời giải
thích và hành động của nhà tiên tri và của những tín đồ ngoan đạo
đi theo ông.

Khác biệt hẳn so với Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật
của Luật Hồi giáo mang tính thần thánh, tự nhiên thì thành tố thứ
ba của Luật Hồi giáo là Idjimá lại được ra đời trên cơ sở sự thống
nhất về quan điểm pháp luật của các học giả pháp lý Ðạo Hồi18.
Những vấn đề mà các nhà học giả pháp lý Ðạo Hồi bàn luận là
những vấn đề về con người và cả chính trị nữa. Khi những vấn đề
đó đạt được sự thống nhất, chúng được giải thích là Idjimá. Những
khái niệm và ý kiến trong Idjimá thì không tìm thấy trong Kinh
Qu’ran và Kinh Sunna. Ðơn cử như một quy định được đề cập
trong Idjimá, phụ nữ không thể trở thành thẩm phán. Quy định này
không hề được đề cập trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna mà lại
được rút ra từ quan điểm thống nhất của các học giả pháp lý Ðạo
Hồi.19 Trong thực tiễn, các thẩm phán có thể kiểm tra trong Idjmá
để tìm kiếm nhiều giải pháp khả thi để áp dụng trong xã hội hiện
đại. Và họ hoàn toàn tự do sáng tạo phương pháp mới để giải
quyết các vấn đề tội phạm và vấn đề xã hội dựa trên cơ sở những
quan điểm được đề cập trong Idjimá. Do vậy thẩm phán có quyền
quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào trong Idjmá
để giải quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.

Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, là án lệ được tuyên bởi
thẩm phán cấp cao20. Nói một cách khác, Qiyas có thể gọi là
“phương pháp suy xét theo sự việc tương tự”21. Các thẩm phán
của các nước theo Luật Hồi giáo có thể sử dụng tiền lệ pháp đó để
giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà hướng giải quyết
vụ việc đó không được đề cập trong Kinh Qu’ran, Kinh Sunna và
Idjmá. Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần
mềm máy tính, trong Kinh Qu’ran và Sunna không đề cập đến loại
:
tội phạm này. Hành vi này là cần thiết bị cấm nên thẩm phán phải
dựa trên lý lẽ và logic để sáng tạo ra án lệ, hay còn gọi là Qiyas.

Vậy ở các nước theo Luật Hồi giáo có tồn tại nguồn luật là các văn
bản pháp luật hay không? Có thể nói rằng, có văn bản pháp luật ở
các quốc gia theo Luật Hồi giáo cũng như việc có tồn tại án lệ
trong hệ thống pháp luật của những quốc gia này. Nhưng đây là sự
chuyển hóa những quan điểm pháp luật, ý kiến pháp luật được
thống nhất bởi các học giả pháp lý Ðạo Hồi vào các văn bản pháp
luật22. Và sự chuyển hóa này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 19, thời
điểm lịch sử các quốc gia theo Luật Hồi giáo có một sự thay đổi rất
lớn lao, khi các quốc gia Phương Tây tăng cường quyền lực toàn
cầu và chinh phục một phần rộng lớn của thế giới, trong đó có các
vùng lãnh thổ của Luật Hồi giáo23.

Như vậy có thể khẳng định rằng những quốc gia nằm trong hệ
thống Luật Hồi giáo là những quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ
pháp luật phát sinh trong xã hội bằng Luật Shari’ah – hay còn gọi
là Luật Hồi giáo. Luật này bao gồm bốn thành tố, nói khác đi là bốn
nguồn luật: Kinh Qu’ran, Kinh Sunna, Idjmá và Qiyas; trong đó
Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật chủ đạo nhất, có giá
trị pháp lý cao nhất đồng thời thể hiện là nguồn luật mang tính
thần thánh và tự nhiên, còn Idjmá và Qiyas đóng vai trò là nguồn
luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng không thể thiếu được
trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Luật Hồi giáo và là
nguồn luật thể hiện cho sự điều chỉnh pháp luật bằng việc kết hợp
những tư tưởng thần thánh tự nhiên với lý trí và sự thông thái của
con người.

Chú thích:

1 Lê Phụng Hoàng chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo
dục, năm 2000, tr. 73 – 74.
:
2 Michael Bogdan, Comparative Law, Nxb Kluwer Law and
Taxation, năm 1994, tr. 227.

3 Réne David (Người dịch: Nguyễn Sĩ Dũng và Nguyễn Đức Lâm),


Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr . 341.

4 Michael Bogdan, sđd, tr. 228.

5 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

6 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

7 Michael Bogdan, sđd, tr . 220.

8 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

9 Các nguồn này được thừa nhận thống nhất bởi nhiều nhà
nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 221 – 223) và Réne
David (sđd, tr. 342 – 345).

10 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

11 Michael Bogdan, sđd, tr. 221.

12 Dr. Ahmad A. Galwash, Handbook of Muslim Belief, năm 2001,


tr. 169.

13 Réne David, sđd, tr. 343.

14 Michael Bogdan, sđd, tr. 221.

15 Dr. Ahmad A. Galwash, sđd, tr. 166

16 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

17 Michael Bogdan, sđd, tr. 222.


:
18 Về điểm này có được sự thống nhất của các nhà nghiên cứu
như Michael Bogdan (sđd, tr. 222) và Réne David (sđd, tr. 344) và
cũng là ý kiến được trình bày trong trang web http://muslim-
canada.org/Islam_myths.htm.

19 Michael Bogdan, sđd, tr. 222.

20 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

21 Réne David, sđd, tr. 345.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3 (34) NĂM 2006


:

You might also like