You are on page 1of 30

HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

KHOA HOÁ –LÝ KỸ THUẬT


BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC

CHỦ ĐỀ: QUÁ TRÌNH SƠN ĐIỆN DI VÀ PHOSPHATE


HÓA TRONG CÔNG NGHỆ Ô TÔ

Hà Nội
MỞ ĐẦU

Công nghiệp sản xuất ô tô là nền công nghiệp đã phát triển từ rất lâu và
ngày càng có triển vọng. Trong đó, xử lý bề mặt là một khâu quan trọng trong
quá trình sản xuất ô tô. Để đảm bảo sản phẩm chống bị ăn mòn trong điều kiện
khí hậu khắc nghiệt, bền đẹp và đảm bảo tính thẩm mĩ thì đòi hỏi kỹ thuật công
nghệ cao. Vì thế, khung xe sau khi được tạo hình sẽ được xử lý bề mặt sau đó
tiến hành phosphate hóa, cromat hóa và sơn phủ.
Vì vậy nhóm em đã chọn tìm hiểu về chủ đề “ quá trình sơn điện li và
phosphate hóa trong công nghiệp ô tô”. Để hiểu rõ hơn về quy trình tiến hành,
cơ chế và biết ứng dụng của mạ điện bằng công nghệ nêu trên.
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT Ô TÔ VÀ
PHƯƠNG PHÁP PHOSPHATE HÓA , SƠN ĐIỆN DI

1. Tổng quan về tình hình sản xuất ô tô


1.1. Lịch sử ra đời ngành ôtô thế giới
Từ những chiếc xe đầu tiên chạy bằng hơi nước ở thế kỷ 18, đến nay làng
ôtô thế giới đã cho ra đời những chiếc xe động cơ điện sang trọng, hiện đại.

Cho đến nay để nhận định chiếc xe hơi đầu tiên ra đời khi nào vẫn còn
nhiều luồng ý kiến khác nhau trên thế giới.

Tên gọi ô-tô được nhập từ tiếng Pháp (automobile), tên tiếng Pháp xuất
phát từ từ auto (tiếng Hy Lạp, nghĩa là tự thân) và từ mobilis (tiếng La Tinh,
nghĩa là vận động). Từ automobile ban đầu chỉ những loại xe tự di chuyển được
gồm xe không ngựa và xe có động cơ. Còn từ ô tô trong tiếng Việt chỉ dùng để

chỉ các loại có 4 bánh. Chữ "Xe Hơi" bắt nguồn từ chữ Hoa 汽车, phát âm theo

Hán Việt là Khí Xa. Còn người Nhật gọi Xe hơi là 自動車 (Tự động xa) nghĩa

là Xe tự động. Các kiểu khác nhau của xe hơi gồm các loại xe, xe buýt, xe tải.

Tới năm 2005 có khoảng 600 triệu xe hơi trên khắp thế giới (0,074 trên
đầu người). Chiếc xe hơi đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1770 do Nicolas
Joseph Cugnot chế tạo chạy bằng động cơ hơi nước.
Hình 1: Chiếc xe hơi ba bánh đầu tiên do Karl Benz chế tạo
được cấp bằng sáng chế năm 1886

Tuy Đức là đất nước đầu tiên đưa ôtô vào sản xuất hàng loạt nhưng Mỹ
mới là nơi chứng kiến công nghiệp xe hơi lên ngôi.
Trong bối cảnh ngành còn sơ khai, người dẫn đất nước cờ hoa chỉ hào
hứng vào những chiếc xe hơi xa hoa, đắt tiền mang thương hiệu Cadillac, Pascal
thì xuất hiện một nhân vật đi ngược xu hướng, đó là Henry Ford. Người sau này
trở thành nhân vật tên tuổi nhất nền công nghiệp xe hơi Mỹ.

1.2. Sự phát triển của ngành sản xuất ô tô

Tổng sản lượng ô tô trên thế giới theo tài liệu của OICA qua một số năm
được thể hiện dưới bảng 1.

Bảng 1: Đây là danh sách sản lượng ô tô của các quốc gia dựa trên tài liệu
của OICA năm 2008
Xếp hạng Nước/Khu vực 2007 2005 2000

— Thế giới 73.101.695 66.482.439 58.374.162

— Khối EU 19.717.643 18.176.860 17.142.142

1 Nhật Bản 11.596.327 10.799.659 10.140.796

2 Mỹ 10.780.729 11.946.653 12.799.857

3 Trung Quốc 8.882.456 5.708.421 2.069.069

4 Đức 6.213.460 5.757.710 5.526.615

5 Hàn Quốc 4.086.308 3.699.350 3.114.998

6 Pháp 3.019.144 3.549.008 3.348.361

7 Brasil 2.970.818 2.530.840 1.681.517

8 Tây Ban Nha 2.889.703 2.752.500 3.032.874

9 Canada 2.578.238 2.687.892 2.961.636

10 Ấn Độ 2.306.768 1.638.674 801.360


Xếp hạng Nước/Khu vực 2007 2005 2000

11 México 2.095.245 1.684.238 1.935.527

12 Vương Quốc Anh 1.750.253 1.803.109 1.813.894

13 Nga 1.660.120 1.354.504 1.205.581

14 Ý 1.284.312 1.038.352 1.738.315

15 Thái Lan 1.238.460 1.122.712 411.721

16 Thổ Nhĩ Kỳ 1.099.414 879.452 430.947

17 Iran 997.240 817.200 277.985

18 Cộng Hòa Séc 938.527 602.237 455.492

19 Bỉ 844.030 926.528 1.033.294

20 Ba Lan 784.700 613.200 504.972

21 Slovakia 571.071 218.349 181.783

22 Argentina 544.647 319.755 339.632


Xếp hạng Nước/Khu vực 2007 2005 2000

23 Nam Phi 534.490 525.227 357.364

24 Indonesia 419.040 500.710 292.710

25 Malaysia 413.440 563.408 282.830

26 Ukraina 402.591 215.759 31.255

27 Thụy Điển 366.020 339.229 301.343

28 Australia 334.617 394.713 347.122

29 Hungary 292.027 152.015 137.398

30 Đài loan 283.039 446.345 372.613

31 România 241.712 194.802 78.165

32 Áo 228.066 253.279 141.026

33 Philippines 213.402 187.247 98.953

34 Bồ Đào Nha 176.242 226.834 245.784


Xếp hạng Nước/Khu vực 2007 2005 2000

35 Venezuela 172.418 135.425 123.324

36 Pakistan 169.861 153.393 102.578

37 Hà Lan 138.568 102.204 98.823

38 Uzbekistan 135.400 94.437 52.264

39 Ai Cập 103.552 123.425 78.852

40 Colombia 73.667 75.539 87.342

41 Slovenia 68.492 64.492 38.877

42 Maroc 36.671 33.992 31.314

43 Belarus 27.708 26.995 19.324

44 Ecuador 26.338 32.254 41.047

45 Phần Lan 24.303 21.644 38.926

46 Việt Nam 23.478 31.600 6.862


Xếp hạng Nước/Khu vực 2007 2005 2000

47 Chile 10.804 6.660 5.245

48 Serbia 9.903 14.179 12.740

49 Nigeria 3.072 2.937 7.834

50 Zimbabwe 1.611 960 792

51 Kenya 705 405 288

2. Tổng quan về phương pháp phosphate hóa


2.1. Khái niệm
Phosphate hoá là một phương pháp gia công bề mặt kim loại được áp
dụng rộng rãi trong công nghiệp để xử lý bề mặt kim loại, được coi là một trong
những phương pháp chuẩn bị bề mặt kim loại tốt nhất trước khi sơn phủ hoặc
nhúng dầu mỡ nhằm bảo vệ các chi tiết kim loại đen.
Màng phosphate hoá chuyển hoá bề mặt kim loại thành một lớp bề mặt
mới không còn tính dẫn điện và tính kim loại, có khả năng chống ăn mòn. Nhờ
các tính chất đó người ta tạo ra công nghệ phosphate hoá để sử dụng trong các
nhà máy xử lý bề mặt kim loại.
2.2. Mục đích
 Cải thiện bề mặt kim loại trước khi sơn phủ, sơn lót chống ăn mòn.
 Tạo sự bám dính cho lớp phủ nhựa, cao su.
 Để xử lý bề mặt kim loại trước khi gia công cơ khí như là cán nguội, kéo
dây...
 Để tăng khả năng chống ăn mòn của các lớp dầu mỡ, sáp....

2.3. Tác dụng


Tác dụng phổ biến nhất của nó trong thực tiễn là nhằm kéo dài tuổi thọ
màng sơn phủ. Nếu nền kim loại khá trơ với các vật liệu sơn phủ thì lớp phốt
phát hoá tạo ra lớp màng có nhiều lỗ xốp bám rất chắc với nền kim loại. Lớp này
lại "thấm" sơn và như thế tạo thành lớp phủ đặc chắc gắn rất tốt với nền.
Trong trường hợp này chức năng của màng phosphate hoá là:
 Liên kết với nền kim loại
 Lớp nền của màng sơn
 Làm tăng độ bền bám của màng sơn
 Chống ăn mòn dưới lớp sơn

Khi sử dụng màng phốtphát hóa làm lớp nền cho chất dẻo thì màng phốt
phát hóa có tính năng và cơ chế tương tự như trên.
2.4. Ứng dụng
Ở các nước công nghiệp phát triển việc xử lý bề mặt trước khi sơn phủ là việc
làm theo tiêu chuẩn bắt buộc để tăng cường độ bám của màng sơn cũng như
tăng cường khả năng bảo vệ của màng trong điều kiện khí quyển.
Trong công nghiệp được sử dụng phổ biến nhất là màng phốtphát hoá của các
kim loại nặng như kẽm, sắt, măng gan. Các chế phẩm để xử lý bề mặt đều ở
dạng thương phẩm rất thuận tiện cho người sử dụng.
3. Công nghệ sơn điện ly
3.1. Khái niệm sơn điện ly
Sơn điện ly (ED) hay còn tên gọi khác là sơn điện di là chất polymer hữu
cơ được tạo ra bám vào bề mặt thân xe dưới một hiệu điện thế trung bình
(khoảng 250- 350 V) và dòng điện tương đối cao (800- 1000 A).
Lớp sơn điện di có tác dụng chống ăn mòn rất tốt và là lớp sơn đầu tiên
trong số vài lớp phủ trên xe ô tô. Trong quy trình sơn ED, thân xe được nhúng
hoàn toàn xuống bể sơn. Dòng điện một chiều sẽ chạy qua hệ thống và tạo ra lớp
sơn mỏng bao phủ toàn bộ các chi tiết thân xe kể cả những khu vực ngóc nghách
nhất. Cũng như quy trình mạ điện phân, dung dịch sơn chính là dung dịch điện
ly và thân xe chính là cực âm của quá trình mạ đó.
3.2. Quá trình hình thành và phát triển của sơn điện ly
3.2.1. Lịch sử của sơn điện ly
Những nghiên cứu phát triển của sơn điện ly được hãng Ford Motor bắt
đầu từ năm 1957 dưới sự lãnh đạo của tiến sĩ George Brewer. Mục đích của
những nghiên cứu này là để tìm ra 1 phương pháp chống ăn mòn tốt nhất cho
các chi tiết, bộ phận của thân xe ô tô.
Các nhà chế tạo ô tô đã nhận thức rõ ràng rằng quá trình rỉ sét xảy ra bên
trong sẽ dần phá hỏng các cấu kiện của khung xe. Mặc dù lớp sơn thông thường
đã có thể thâm nhập vào tận cùng các hốc của khung xe nhưng chúng lại thường
bị tẩy bởi hơi của dung môi trong khi sấy sơn. Vì vậy, nhóm của Tiến sĩ Brewer
đã cố gắng tạo nên 1 lớp sơn mà dung môi không thể tẩy chúng được trong suốt
quá trình. Những công việc này dẫn đến sự phát triển của sơn điện ly.
Bể sơn đầu tiên của hãng Ford hoạt động vào 4/ 7/ 1961 dùng để sơn
Lagiang của bánh xe. Bể sơn nhúng cho thân xe được lắp đặp vào năm 1963. Cả
2 bể này đều sử dụng kiểu kết tủa dương cực.
Mặc dù thị trường của sơn điện ly sau khi ra đời phát triển một cách vững
chắc, nhưng cho đến tận năm 1973, sơn điện ly kiểu kết tủa âm cực ra đời, thị
trường mới thực sự bùng nổ. Vào năm 1965, chỉ có 1/100 xe được sơn lót bằng
sơn điện ly; đến năm 1970, đã có 10/100 xe và đến nay, hầu hết các xe đều được
sơn lót bằng phương pháp sơn điện ly.
3.2.2. Ưu nhược điểm của sơn điện ly
- Tạo màng bảo vệ để chống rỉ sét tại tất cả các hốc, các vùng bên trong thân xe.
- Hiệu quả sử dụng sơn cao, lên đến 95%. Giảm thiểu lượng sơn thất thoát, đặc
biệt nếu đem so sánh với phương pháp sơn phun.
- Do độ nhớt của bể sơn thấp (ngang bằng với nước) cho nên dễ dàng cho việc
bơm và xả trong quá trình sơn.
- Do lớp sơn mới không hòa tan trong nước nên cho phép rửa và thu hồi được
cặn sơn.
- Sơn chưa sấy đủ khô để có thể sờ tay được, dễ dàng cho thao tác bằng tay.
- Khác với sơn bằng phương pháp phun, sơn điện ly không bị chảy trong khi
sấy.
- Khác với sơn phun, sơn điện ly không bị tẩy bởi hơi dung môi trong khi sấy.
- Lớp kết tủa được sinh ra một cách liên tục từ phần này đến phần kia.
- Từ khi quá trình là tự động hóa, nhân công lao động trực tiếp giảm rõ rệt.
PHẦN 2: CƠ CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH PHOSPHATE HÓA VÀ
SƠN ĐIỆN DI

1. Cơ chế của quá trình phosphate hóa


Phosphate là quá trình hình thành trên bề mặt kim loại 1 lớp photphat kim
loại không tan trong nước. Quá trình này thường sử dụng đề phủ cho kim loại
đen như sắt, thép hay thép tráng kẽm.
Màng được tạo thành dựa trên phản ứng giữa kim loại với dung dịch
dihidrophotphat dẫn tới sự kết tủa của muối phosphate ít tan trên bề mặt kim
loại. Hiện nay, các quá trình phosphate hóa thường tiến hành bằng phương pháp
phun trực tiếp lên bề mặt kim loại dung dịch muối dihydrophosphat của kim loại
như Zn2+, Mn2+, Fe2+, Ca2+, Na2+,… hoặc nhúng kim loại trong những dung dịch
này.
1.1. Sự hình thành lớp phủ phosphate trên bề mặt kim loại

Như đã trình bày ở trên, các quá trình phosphat hóa thường tiến hành
trong dung dịch muối dihydrophosphat của kim loại hóa trị 2. Trong dung dịch
này luôn tồn tại các cân bằng sau:
3M(H2PO4)2 ↔ 3MHPO4 + 3H2PO4 (1)
3MHPO4 ↔ M3(PO4)2 + H3PO4 (2)
3M(H2PO4)2 ↔ M3(PO4)2 + 4H3PO4 (3)
Theo Machu, quá trình phosphate hóa là một quá trình hóa, trong đó:
Tại anot: Me → Men+ + ne (Me là kim loại nền)
Tại catot: 2H2+ + 2e → H2
Quá trình ăn mòn xảy ra nhanh thành một lượng lớn ion kim loại tại lớp
dung dịch sát vùng anot. Cùng lúc đó, một lượng tương đương ion H+ (do H3PO4
phân li) bị khử thành H2 tại catot làm giảm nhanh nồng độ H+ tại vùng này. Do
tốc độ của quá trình khuếch tán ion H+ từ lớp dung dịch ngoài vào cũng như quá
trình khuếch tán của ion kim loại từ lớp dung dịch bên trong ra không theo kịp
tốc độ hòa tan kim loại và khử H+ dẫn đến việc kết tủa phosphate kim loại trên
bề mặt các vùng catot.
Mô hình quá trình hình thành lớp phủ phosphat trên bề mặt thép được thể
hiện theo hình 2.1.
Hình 4: Mô hình quá trình hình thành lớp phủ phosphat trên bề mặt thép

Các mầm tinh thể phosphate hình thành tại vùng catot tiếp tục phát triển
và tạo thành màng che kín toàn bộ bề mặt kim loại, ngăn cản quá trình hòa tan
kim loại, khi đó quá trình phosphate hóa sẽ chấm dứt. Màng tạo thành bám chắc
trên bề mặt kim loại được giải thích do sự xâm nhập và đan xen nhau của các
tinh thể phosphate vào những phần gồ ghề trên bề mặt kim loại.
Tuy nhiên, sự bám dính này còn được giải thích do sự tương thích giữa
cấu trúc tinh thể bề mặt kim loại nền và tinh thể phosphate, trong đó kim loại
nền đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển các tinh thể
phosphate. Độ sai lệch giữa mạng kim loại và mạng tinh thể phosphate càng cao,
tính bám dính càng kém.
Có thể nhận thấy rằng lớp phủ phosphate chỉ được hình thành khi tốc độ
các quá trình điện hóa đủ lớn để làm thay đổi đột ngột pH tại lớp dung dịch sát
bề mặt kim loại dẫn đến sự dịch chuyển mạnh các cân bằng (2) và (3) về bên
phải làm kết tủa các muối ít tan lên bề mặt kim loại. Sự dịch chuyển này cũng
xảy ra khi tăng nhiệt độ. Để đạt được điều kiện này, quá trình phosphate hóa
phải được tién hành ở nhiệt độ khoảng 96 - 99℃ với thời gian phosphate hóa 50-
60 phút. Phương pháp phosphate hóa nóng thường có chi phí cao do tốn năng
lượng.
Để giảm nhiệt độ cũng như rút ngắn thời gian phosphate hóa, người ta
thêm chất gia tốc vào trong dung dịch. Các chất gia tốc thường được sử dụng
gồm 2 dạng:
 Một là những chất oxi hóa như: nitrit,nitrat,clorat,cromat, các hợp chất
nito hữu cơ…
 Hai là muối của các kim loại có thế dương hơn kim loại nền như muối
Cu(II).

Vai trò những chất này được giải thích do tác dụng khử phân cực hay do
hình thành trên bề mặt kim loại những vùng microcatot.
Trong trường hợp gia tốc bằng chất oxi hóa, các chất này đóng vai trò
chất khử tại catot thay cho H+ nên không có hoặc giảm lượng khí H2 sinh ra. Với
một số chất gia tốc phổ biến như nitrit, nitrat, phản ứng ăn mòn thép xảy ra:
4Fe + N𝑂3− + 10H+ → 4Fe2+ + 𝑁𝐻4+ + 3H2O
3Fe + N𝑂2− + 8H+ → 3Fe2+ + 𝑁𝐻4+ + 2H2O
Với tác dụng của gia tốc, quá trình phosphate hóa có thể tiến hành nhiệt độ thấp
thậm chí ngay ở nhiệt dộ phòng với thời gian phosphate chỉ trong vài phút.
1.2. Tác dụng chống ăn mòn của lớp phosphate dưới màng sơn
Lớp phủ phosphate được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực làm nền cho
sơn.
Đối với các lớp sơn chống ăn mòn, hai đặc trưng quan trọng nhất là: khả
năng ức chế ăn mòn và độ bám dính. Lớp phủ phosphate có tác dụng nâng cao
hai tính chất này cho màng sơn bề mặt kim loại do chúng có cấu trúc xốp đồng
thời do độ bám dính và độ che phủ cao trên bề mặt kim loại. Lớp phủ phosphate
vừa làm tăng độ bám dính của màng sơn với kim loại nền vừa có tác dụng ngăn
cản sự xâm nhập các tác nhân ăn mòn, hạn chế quá trình ăn mòn dưới màng sơn.
Chính vì vậy khi kết hợp màng phosphate với lớp sơn phủ, độ bền và khả năng
bảo vệ của màng sơn tăng lên đáng kể.
 Cơ chế của màng kết hợp với màng sơn

Khi màng sơn bị hỏng làm cho thép tiếp xúc với môi trường ăn mòn( như
nước, không khí, muối) do mức độ tiếp xúc với môi trường ăn mòn khác nhau
dẫn đến việc hình thành cặp vi pin tại nơi bị hư hỏng. Vùng thép tiếp xúc nhiều
với tác nhân ăn mòn sẽ đóng vai trò catot, trong khi vùng bị lớp sơn phủ tiếp xúc
với môi trường ít hơn sẽ trở thành anot. Khi nền thép không có lớp phosphat bảo
vệ quá trình ăn mòn không bị cản trở. Ví dụ: với tác nhân ăn mòn là oxi quá
trình ăn mòn xảy ra như sau:
Tại anot: Fe → Fe2+ + 2e
Tại catot: O2 + 2H2O + 4e → 4OH-
Sự kết tủa hydroxit sắt: Fe2+ + 4OH- → 2Fe(OH)2
Sự hình thành gỉ: 4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O→ 4Fe(OH)3
Trong trường hợp có lớp phủ phosphate giữa màng sơn và bề mặt thép thì
dòng ăn mòn bị ngăn cản do lớp phosphate có tính cách điện. Dòng ăn mòn chỉ
có thể xuất hiện qua lỗ xốp trong lớp phủ phosphate do đó quá trình ăn mòn bị
cản trở mạnh.
Do đó, có thể thấy rằng khả năng chống ăn mòn của màng sơn tăng khi
chiều dày lớp phosphat tăng và độ xốp của nó giảm. Hiện tượng này có thể do
tính giòn của lớp phủ phosphate.

2. Cơ chế của quá trình sơn điện di


Sơn điện di: là loại dung dịch chống gỉ có khả năng bám vào bề mặt kim
loại dưới tác dụng của dòng điện một chiều. Do được nhúng vào trong dung dịch
sơn, nên trên bề mặt cần sơn, các phần tử sơn sẽ bám đều, kể cả tại các khe nhỏ
nhất. Tạo bề mặt có độ cứng, khả năng chống mòn và khả năng kháng axit rất
cao.
Sơn điện di phân làm hai loại là sơn điện di catot và sơn điện di anot.
Thành phần dung dịch sơn điện di gồm: dung môi, chất hoạt động bề mặt,
chất hữu cơ, chất chống keo tụ, chất nhũ hoá, chất xúc tác và ion cân bằng.
2.1. Quá trình sơn điện di
Cơ chế của quá trình sơn điện di được trình bày qua các giai đoạn:
 Electrolysis/Sự điện phân: Sự điện phân là sự phân ly chất lỏng thành các

ion âm và ion dương khi có dòng điện một chiều chạy qua.

Anot: 2 H2O → O2 + 4H+ + 4e


Catot: 2 H2O + 2 e → H2 + 2 OH-
- Electrophoresis/Sự điện di: Sự điện di là sự di chuyển các phần tử sơn, keo
nhựa mang điện tích trong môi trường dẫn điện bởi tác động của một hiệu
điện thế. Các phần tử sơn sẽ dịch chuyển đến các điện cực theo qui trình
sau:
CH3COOH + R-NH2 -> CH3 COO- + R-NH3+
CH3COO-  move towards the anode
R-NH3+  move towards the cathode

Anot: CH3COO- +H+ → CH3COOH


Catot: R-NH3+ + 2 OH- →R-NH2 + H2O
- Electrodeposition/Sự kết tủa điện phân: Sự kết tủa điện phân là sự kết dính
những phân tử sơn tại một điện cực. Các phần tử mang điện tích dương sẽ
kết tủa tại cực dương, các phân tử mang điện tích âm sẽ tụ tập tại cực
dương. Vì là quá trình sơn âm cực, nên sự kết tủa chỉ sảy ra tại cực âm mà
thôi.

Catot: R-NH3+ + 2 OH-→R-NH2 + H2O

- Electroendosmosis/Sự điện thẩm: Sự điện thấm là bước cuối cùng của quy
trình này. Các hạt sơn bị hút về phía cực âm và kết dính tại đó, tạo nên lớp
sơn bán thấm semi-permeable. Nước tại khu vực xung quanh âm cực sẽ bị
đẩy qua lớp màng sơn này, đó là nguyên nhân khử nước của lớp sơn. Tạo
ra màng sơn có khả năng chống lại sự va chạm vật lý (ta có thể chạm tay
vào bề mặt sơn mà không bị hỏng).

Một dây chuyền sơn điện ly bao gồm các bể xử lý được chế tạo bằng thép
không gỉ. Nếu sử dụng sắt thường, độ bền của bể chỉ vào khoảng 2-3 năm.
2.2. Dây chuyền sơn điện ly
Một dây chuyền sơn điện ly đạt chuẩn phải tuân thủ đầy đủ các bước sau:
 Làm sạch bề mặt kim loại bằng cách bơm dầu hôi để lấy hết dầu mỡ và vụn
kim loại sinh ra trong các công đoạn hàn gắn. Sau đó vỏ xe được nhúng vào
bể dung dịch xút. Bước này sẽ giúp lấy đi khoảng 85-90% dầu mỡ còn bám
trên bề mặt kim loại.
 Tiếp đó, vỏ xe sẽ được nhúng vào bể nước để làm sạch làm xút bám trên
kim loại.
 Vỏ xe được đưa vào bể dung dịch hoạt hoá để làm mịn.
 Vỏ xe được chuyển sang bể phốt phát kẽm, có tác dụng chống gỉ. Lớp
phosphate này rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc lớp sơn tĩnh điện
sau đó có "ăn" hay không.
 Vỏ xe được chuyển sang bể dung dịch kiềm để loại bỏ các yếu tố không
bền vững.
 Đây là khâu quan trọng nhất: sơn điện ly. Vỏ xe sẽ được nhúng trong bể
sơn khoảng 6 phút, sao cho có một lớp sơn dày chừng 20-30 phần nghìn
milimét bám đều trên bề mặt kim loại. Tiếp đó vỏ xe sẽ được làm sạch
những sơn thừa bám trên bề mặt.
 Cuối cùng, vỏ xe được đưa vào lò sấy ở nhiệt độ chừng 170 độ C trong
khoảng 40 phút. Sức nóng sẽ giúp lớp sơn điện ly bám chắc vào vỏ xe.

Sơn điện di catot được ứng dụng cho nhiều kim loại như đồng kẽm, đồng
thiếc, niken, vàng, magie. Sơn điện di catot có các loại sơn epoxy, sơn
acrylat,,…Hạt keo sơn điện di catot mang điện tích dương dưới tác dụng điện
trường di chuyển về catot.
Sơn điện di anot mang điện tích âm nên dưới tác dụng điện trường di
chuyển về phía anot. Có một loại sơn điện di của công ty ALBRIFIN sau khi
điện di có thể nhuộm được các màu giả đồng kẽm, giả đồng, giả vàng,… độ dày
lớp màng đồng đều, màu sắc cũng đồng đều. Ưu điểm của nó là trong cùng một
thùng được các màu khác nhau, tiết kiệm đầu tư thiết bị. Sơn điện di anot chỉ
được ứng dụng trên bề mặt nhôm và nilen, không sử dụng được trên đồng, bạc.
2.3. Ưu điểm và nhược điểm của quá trình sơn điện di
 Ưu điểm:
- Tạo ra được lớp màng sơn chui sâu vào trong các hốc, ngóc ngách trong
thân xe bảo vệ chống gỉ sét cho thân xe.
- Hiệu suất chuyển đổi tốt hơn, giảm được đến 95% lượng sơn thất thoát
trong quá trình làm việc, đặc biệt khi so sánh với phương pháp phun.
- Là loại sơn gốc nước nên giảm thiểu được những mối nguy hiểm cháy nổ,
ô nhiễm môi trường trong khi vận chuyển cũng như sản xuất. Và đương
nhiên giảm được chi phí lắp đặt hệ thống PCCC, xử lý chất thải.
- Độ nhớt của dung dịch thấp (tương đương với nước), dễ dàng bơm vận
hành cũng như khả năng thoát nhanh khỏi xe sau khi nhúng.
- Lớp màng sơn sau khi tạo thành không thể hòa tan trong nước, cho phép
rửa và thu hồi lượng sơn bám trên xe.

- Lớp sơn này đủ khô cho phép chạm vào khi vận chuyên vào lò sấy.
- Không giống như sơn phun, lớp sơn tĩnh điện này sẽ không bị chảy sệ trong
khi sấy khô.
- Qui trình này hoàn toàn tự động, giảm được chi phí lao động trực tiếp cho
doanh nghiệp.
 Nhược điểm

Mặc dù những ưu điểm của quá trình sơn điện ly hoàn toàn lấn át những
nhược điểm của nó, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế.
- Sơn điện ly chỉ có thể thực hiện được trên các vật liệu có tính dẫn điện.
- Khi một chi tiết đã được sơn phủ và sơn điện ly lớp thứ hai là không thể
thực hiện được.

Vì thế lớp sơn điện ly chỉ được sử dụng cho lớp sơn lót đầu tiên, những
lớp sơn màu tiếp theo sẽ sử dụng những phương pháp công nghệ khác.

3. Các yếu tố ảnh hưởng và hóa chất dùng trong quá trình phosphate hóa
3.1. Các yếu tố ảnh hưởng
Trong quá trình công nghệ sẽ không tránh khỏi những vấn đề gây ảnh
hưởng đến quá trình mạ cũng như làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.
Sau đây là một số các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình:
 Hàm lượng Cl-, SO42- nếu vượt quá 0,5g/l sẽ gây lỗ ở màng phosphate do
độ bẩn chống gỉ giảm.
 Khi photphat ở nhiệt độ cao, tránh để photphat ở trạng thái sôi
 Điều chỉnh độ axit dung dịch photphat:
- Độ axit tự do chính là: H3PO4 tự do, nó làm sắt hòa tan, hình thành nhiều
mầm tinh thể, màng mịn. Nếu độ axit thấp, màng phosphate mỏng, có
khi không tạo màng. Nhưng nếu độ axit cao, phản ứng chậm, màng thô
có nhiều lỗ, kết tủa nhiều.
- Độ axit tổng chỉ tổng độ axit, muối nitrat, muối photphat. Độ axit tổng
giới hạn ở nồng độ quy định sẽ làm tăng phản ứng photphat, làm màng
kết tinh mịn. Nếu ngược lại, phosphate hóa chậm, màng dày, thô.
 Ảnh hưởng của tính chật vật liệu: Tính chật vật liệu ảnh hưởng rõ ràng đến
màng photphat.

Ví dụ: Thép hợp kim thấp, thép cacbon cao- trung bình dễ dàng photphat
hóa, màu sắc màng đậm và dày nhưng kết tinh thô. Với thép cacbon thấp, màng
phosphate có màu nhạt, kết tinh mịn. Thép đúc chưa tôi, màng kết tinh thô; thép
đúc qua thô, màng kết tinh mịn....
 Ảnh hưởng gia công bề mặt: Phương pháp gia công bề mặt khác nhau ảnh
hưởng lớn tới việc tạo màng photphat.
Ví dụ: Những chi tiết qua phun cát nhưng qua tẩy rửa axit, chất lượng
màng tốt, kết tinh mịn, chống gỉ tốt. Những chi tiết qua tẩy dầu hóa học, màng
photphat khác nhau theo tính chất kiềm của dung dịch tẩy (tẩy trong dung dịch
kiềm mạnh, màng kết tinh thô,thời gian phosphate dài; những chi tiết qua tẩy
axit mạnh, mang kết tinh thô, khí H2 thoát ra nhiều). Bề mặt gia công nguội có
độ cứng, trước khi phosphate cần phải tẩy axit mạnh để hoạt hóa bề mặt, nếu
không màng không đều, chống gỉ kém...
3.2. Các hóa chất dùng trong phosphate hóa
Dưới đây là một số hóa chất được sử dụng trong quá trình phosphate hóa:
 Zn2+: làm nâng cao tốc độ photphat, làm màng mịn, dung dịch photphat có
kẽm có thể hoạt động trong 1 khoảng rộng. Nhưng nếu hàm lượng ion kẽm
thấp, màng phosphate thô, tối; nhưng ngược lại, nếu hàm lượng ion kẽm
cao màng phosphate sẽ bị thô, giòn.
 Mn2+: có thể nâng cao độ cứng, độ bền bám chắc và độ chống gỉ. Giúp
màng phosphate màu sắc đậm, kết tinh đồng đều. Nhưng nếu ở nhiệt độ
trung bình và thường, hàm lượng Mn2+ cao, màng khó sinh ra. Nhìn chung,
dung dịch phosphate ở nhiệt độ trung bình, Zn2+/Mn2+ = 1,5 ~2 :1 là vừa
phải.
 Fe2+: tăng độ dày màng phosphate, tính năng cơ khí và phạm vi làm việc
rộng. Điều kiện để Fe2+ tương đối ổn định là dung dịch không vượt quá
70oC, hàm lượng gốc nitrat tương đối cao và hàm lượng Mn2+ ở mức nhất
định.
 NO3-: làm tăng tốc độ phosphate hóa, nâng cao độ khít lớp màng. Trong
điều kiện thích hợp, gốc nitrat tác dụng với Fe, tạo thành 1 lượng nhỏ NO
giúp ion Fe2+ ổn định.
 F-: là chất hoạt hóa tốt, giúp tăng sự hình thành hạt nhân kết tinh, độ hạt
mịn, chống gỉ tốt. Khi làm việc ở nhiệt độ thường, ion F- rất cần thiết.
Nhưng khi hợp chất flo cao, làm việc ở nhiệt độ trung bình dễ sinh ra màng
trắng xốp, tuổi thọ dung dịch giảm.
 NO2-: ở nhiệt độ thường làm tăng tốc độ màng phosphate, giảm lỗ xốp, kết
tinh mịn, nâng cao độ bền chống gỉ. Nhưng nếu hàm lượng cao quá, dễ sinh
điểm trắng.
 P2O5 : làm tăng tốc độ tạo màng, làm lớp màng mịn. Nếu hàm lượng thấp
quá, độ mịn của màng và độ chống gỉ kém nhưng nếu cao quá, kết tinh
không đều, độ bám chắc giảm, dễ sinh điểm trắng.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sơn điện di [1]
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ dày sơn điện ly
Độ dày của sơn điện di chỉ chủ yếu phụ thuộc vào điện thế: điện thế càng
cao lớp màng sơn càng dày.
Quan hệ giữa độ dày lớp sơn với thời gian sơn là: trong vài giây đầu, độ
dày càng tăng lên theo thời gian, nhưng khi thời gian đạt đến 90 giây, độ dày
không tăng lên nữa.
Ảnh hưởng của các nhân tố khác đến độ dày sơn điện di xem bảng 5.1
Bảng 3: Ảnh hưởng của các nhân tố khác đến độ dày sơn điện di
Nhân tố Ảnh hưởng đến độ dày sơn điện di
Hàm lượng chất rắn trong nhựa Nếu hàm lượng cao, màng sơn dày
Nhiệt độ sơn điện di Nếu nhiệt độ cao sơn càng dày
(Nhiệt độ sơn điện di thường từ 23- 280C)
Dẫn điện Nếu cao quá màng sơn dày
Hàm lượng axit Nếu cao quá màng sơn mỏng
Độ hạt nhựa Nếu lớn quá sơn dày, thô
pH Nếu thấp quá sơn mỏng

4.2. Các sự cố và nguyên nhân xảy ra trong quá trình sơn điện di
Trong quá trình sơn điện di không tránh khỏi những sự cố xảy ra trong
quá trình. Sau đây là những sự cố và nguyên nhân xảy ra trong quá trình sơn
điện di xem bảng 5.2.
Bảng 4: Các sự cố và nguyên nhân xảy ra trong quá trình sơn điện di
Sự cố Nguyên nhân
Châm kim Hàm lượng dung môi thấp.
Lượng axit quá cao.
Hàm lượng chất rắn thấp.
Sấy gia nhiệt nhanh.
Chỗ không mạ Thuốc đánh bóng chưa làm sạch.
Chi tiết có dầu.
Màu cầu vồng Lớp sơn mỏng.
Đóng cục Lớp sơn quá dày.
Hàm lượng dung môi thấp.
Trong buồng sấy không khí không đủ hoặc đối
lưu không tốt.
Sắp xếp không có quy luật Xử lý trước khi sơn khồng tốt
Bong Dung môi nhiều
Độ cứng không đủ Thời gian sấy không đủ, hoặc khồng đạt đến độ
sấy.
PHẦN 3: ỨNG DỤNG VÀ QUY MÔ CÔNG NGHỆ TRÊN THỊ TRƯỜNG

1. Ứng dụng
Sơn điện ly là công nghệ bảo vệ bề mặt tiên tiến. Có thể sử dụng trên tất
cả các bề mặt dẫn điện. Tạo ra lớp bảo vệ có độ cứng, khả năng chống mòn và
khả năng kháng axit rất cao.

Hình 5: Một số sản phẩm từ công nghệ sơn điện ly


Sơn điện ly được ứng dụng nhiều nhất trong sơn lót ô tô với số lượng lớn
trên dây truyền tự động..
Lớp sơn điện ly có tác dụng chống ăn mòn rất tốt và là lớp sơn đầu tiên
trong số một vài lớp phủ trên thân cũng như các chi tiết xe ôtô. Do vậy, sản
phẩm xe ôtô của hãng xe nổi tiếng thế giới audi có thời gian bảo hành hai năm
nhưng riêng nước sơn được bảo hành với thời hạn tới 10 năm.

2. Quy mô thị trường và hạn chế của công nghệ


2.1. Quy mô thị trường
Quy mô thị trường sơn điện ly phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng các loại
xe ô tô mới như xe chở khách, xe thương mại, các thiết bị xây dựng công suất
cao, các thiết bị nông nghiệp. Do hiệu quả hơn trội, chi phí sản xuất thấp và có
khả năng đáp ứng các yêu cầu chặt chẽ về bảo vệ môi trường nên sơn điện ly
luôn có nhu cầu cao từ các lĩnh vực ứng dụng công nghiệp như sản xuất xe ô tô,
dụng cụ thiết bị, xây dựng, nội thất.
2.2. Hạn chế của công nghệ
Công nghệ sơn điện ly có nhiều ưu điểm và được ứng dụng lớn trong công
nghiệp. Nhưng nó vẫn tồn tại điểm hạn chế, trong đó hạn chế lớn cho sự phát
triển rộng khắp của công nghệ sơn điện ly là chi phí vốn đầu tư cao. Đầu tư cho
một dây chuyền sơn điện ly ở những hãng xe ô tô lớn trên thế giới có thể lên tới
hàng trăm triệu USD.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 1: So sánh giữa hai loại sơn điện di và sơn tĩnh điện?
Sơn tĩnh điện Sơn điện di
Giống nhau Đều là quá trình dưới sự tác dụng của điện
trường hạt nhựa hữu cơ mang điện nào đó kết của
trên bề mặt.
Có 2 loại là công nghệ sơn Có 2 loại là sơn điện
Loại sơn tĩnh điện khô và công nghệ di catot và sơn điện di
sơn tĩnh điện ướt. anot.
Khác Nhựa ,bột màu,chất phụ gia. Dung môi ,nhựa ,chất
nhau Thành phần chông keo tụ,chất xúc
chính tác ,chất nhũ hóa
,chất hoạt động bề
mặt ,ion cân bằng.
Sơn tĩnh điện là sơn khô vì Sơn điện di là dung
Cơ chế tính chất phủ ở dạng bột của dịch keo
nó và khi sử dụng nó sẽ Sơn điện di catot các
được tích một điện tích (+) dung dịch keo điện
khi đi qua một thiết bị được di catot mang điện
gọi là súng sơn tĩnh điện, tích (+) dưới tác
đồng thời vật sơn cũng sẽ dụng của điện trường
được tích một điện tích (-) chuyển động về phía
để tạo ra hiệu ứng bám dính catot vật treo ở catot.
giữa bột sơn và vật sơn. Sơn điện di anot các
dung dịch keo mang
điện tích (-) dưới tác
động của từ trường di
động về phía anot vật
treo ở anot.
Thiết bị dùng Thiết bị chính là súng phun Dùng bể mạ có chứa
để sơn và bộ điều khiển tự động , các dung dịch keo
các thiết bị khác như buồng điện di để có thể
phun sơn và thu hồi bột sơn. nhúng ngập vật cần
mạ.
ứng dụng sơn tĩnh điện có thể sơn lên Chỉ có thể dùng sơn
rất nhiều vật liệu khác nhau các vật dẫn điện và
(không cần phải là chất dẫn chỉ được dùng để sơn
điện) và có thể sơn nhiều lót.
lớp.
Độ dày của lớp Khó điều chỉnh độ dày của Có thể điều chỉnh
mạ lớp mạ. được đọ dày của lớp
mạ dựa vào hiệu điện
thế.
sấy Sau khi phun sơn sản phẩm Thường sấy ở nhiệt
được đưa vào lò sấy .nhiệt độ khoảng 130-160 C
độ sấy 1800C – 2000C trong .và để tránh tình trạng
10 phút Lò có nguồn nhiệt nước sôi làm châm
chính bằng bếp hồng ngoại kim trước khi sấy
tuyến hoặc Burner, nguyên phải để sơn tự khô
liệu đốt là Gas. hoặc sấy ở nhiệt độ
dưới 1000C.
Thu hồi sơn bột sơn không bám vào vật Sơn được thu hồi
sơn sẽ được thu hồi (trên bằng hệ thống siêu
95%) ở buồng thu hồi lọc để lọc rửa các tạp
chất sinh ra trong quá
trình mạ và các ion
các hạt nhựa được
giữ lại và đưa trở lai
bể mạ
Ưu nhược điểm Có thể sơn bị sót những chỗ Có thể sơn được tất
ngóc ngách của sản phẩm cả các ngóc ngách
Có thể sơn nhiều lớp của sản phẩm mà
Có thể sơn trên nhiều loại không bị sót
vật liệu Chỉ có thể sơn lót
Chỉ có thể sơn trên
các vật liệu dẫn điện

Kết luận: Dây truyền sản xuất của phương pháp sơn điện di đòi hỏi kinh phí cao
hơn công nghệ sơn tĩnh điện.

Câu 2: Tác dụng của việc sấy?


Sau khi sơn có công đoạn là sấy..sấy có tác dụng làm bay hơi nước và các
dung môi để làm khô bề mặt sơn và tạo đô cứng cho màng sơng giúp sơn điện di
bám chắc vào bề mặt.và nó thường được sấy ở nhiệt độ là 130-160 độ C.và để
tránh tình trạng nước sôi làm làm châm kim trước khi mạ thì trước khi sấy phải
để tự khô hoặc sấy ở nhiệt độ dưới 100 độ C.
MỘT SỐ CÔNG TY SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠN ĐIỆN LY Ở
VIỆT NAM
1- Dây chuyền sơn điện ly của công ty liên doanh ô tô Việt Nam và
DAEWOO (VIDAMCO).
2- Năm 2003, Công ty TNHH Cơ Điện Hoá Long Hà, có địa chỉ tại Nam
Hồng - Đông Anh - Hà Nội (Điện thoại: 04 9580343; 0989668453 hoặc
0904114391) đã thiết kế chế tạo và lắp đặt cho nhà máy ô tô quân sự
Z551 Tổng cụ Kỹ thuật Bộ Quốc phòng một dây chuyền sơn điện ly để
sơn vỏ ô tô quân sự. Dây chuyền đã đi vào sản xuất ổn định, nhiều doanh
nghiệp đã đến đặt hàng sơn tại Nhà máy.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Nguyễn Văn Lộc (2005) “ Công nghệ mạ điện”. NXB Giáo Dục.
http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-xay-dung-mo-hinh-dieu-khien-va-giam-
sat-be-son-dien-ly-o-to-con-71985/.
http://book365.vn/sach/5571_cong-nghe-ma-dac-biet.html.
http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-nghien-cuu-cong-nghe-son-trong-san-xuat-che-
tao-o-to-307.

You might also like