0% found this document useful (0 votes)
64 views9 pages

Chuyên Đề 20: Văn Hóa Nhà Nước - Dân Tộc

Tài liệu nói về văn hóa nhà nước - dân tộc Việt Nam, bao gồm khái niệm, quan niệm về đất nước, chủ quyền quốc gia và chủ nghĩa yêu nước của người Việt so với các dân tộc khác. Tài liệu cũng phân tích sức mạnh của Phật giáo đối với tinh thần yêu nước của người Việt.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd
0% found this document useful (0 votes)
64 views9 pages

Chuyên Đề 20: Văn Hóa Nhà Nước - Dân Tộc

Tài liệu nói về văn hóa nhà nước - dân tộc Việt Nam, bao gồm khái niệm, quan niệm về đất nước, chủ quyền quốc gia và chủ nghĩa yêu nước của người Việt so với các dân tộc khác. Tài liệu cũng phân tích sức mạnh của Phật giáo đối với tinh thần yêu nước của người Việt.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd

CHUYÊN ĐỀ 20: VĂN HÓA NHÀ NƯỚC – DÂN TỘC

Người thực hiện:


- Nguyễn Thị Thanh Bình
- Nguyễn Thúy Hiền
- Hoàng Thị Hạnh
Lớp CLC1

1. Xung quanh khái niệm nhà nước – dân tộc


 Nhà nước - dân tộc là thuật ngữ riêng có của nền chính trị phương
Tây, dùng để chỉ mô hình nhà nước thời hậu trung cổ ở châu Âu,
được lấy theo mốc ước định là hòa ước Westphalia (1968).
 Mô hình nhà nước dân tộc được phân biệt với các mô hình nhà nước
đã từng tồn tại trong lịch sử bằng dấu hiệu dân tộc.
 Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng
chính trị - xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cùng chung sống trên
một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà
nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc
vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng
nước. Và đất nước Việt Nam ta cũng có 54 dân tộc anh em cũng có
những đặc tính như vậy tạo nên dân tộc Việt Nam.
 Những giá trị nền tảng mà mô hình nhà nước dân tộc vốn trụ vững
trên đó là:
 Quan niệm về lãnh thổ
 Quan niệm về xã hội công dân
 Quan niệm về tổ chức chính quyền
 Quan niệm về chủ quyền

Những yếu tố này gắn bó không tách rời nhau, giả định và chi
phối lẫn nhau

 Xét từ giác độ lịch sử, các khái niệm nhà nước – dân tộc và chủ
quyền quốc gia là những khái niệm riêng có của nền văn minh
phương Tây. Trong lịch sử, quá trình hình thành và tổ chức nên các
nhà nước phương Đông đã đi theo đường hướng khác hẳn so với
phương Tây.
Bảng so sánh:

Nhà nước phương Đông Nhà nước phương Tây


Ý nghĩa phân định lãnh thổ không Ý nghĩa phân định lãnh thổ lớn
lớn
Xã hội thần dân Xã hội công dân
Được tổ chức theo nguyên tắc Phân thành các quyền cát cứ
tập quyền thành các lãnh địa và lãnh chúa
Ý thức về chủ quyền nhà nước, Ý thức về chủ quyền nhà nước,
quốc gia, dân tộc thường là rất quốc gia, dân tộc rõ ràng
mờ nhạt

Tuy vậy nhưng Việt Nam là một trong số ít những nước đã đạt được
những tiêu chí xác định để có thể xem xét như nhà nước – dân tộc (mặc
dù không hoàn toàn chính xác khi gọi như vậy) trong các giai đoạn lịch
sử cổ đại, trung đại và cận đại.
Nguồn tài liệu: ‘Bản sắc Văn Hóa Việt Nam’ tác giả Phan Ngọc

‘Chủ quyền quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa’, ‘Đại cương văn hóa
Việt Nam’ thầy Phạm Thái Việt.

2. Quan niệm về ‘’đất nước’’ của người VN

Theo người Trung Quốc Theo người Việt Nam


Nước là đất phong dưới quyền sở hữu Các vùng đất khác nhau được cai quản
của người cầm đầu theo thứ bậc lớn bởi các phìa tạo 1 và không theo chế độ
nhỏ cha truyền con nối
Đất đai là thuộc quyền sở hữu của nhà Đất nước không phải của vua hay dòng
vua họ mà của chính người dân
(1) Phìa tạo: Giai cấp thống trị trong xã hội dân tộc Thái thời trước
(Theo vtudien.com)
 Người Trung Quốc gắn đất nước với dòng họ cai trị.
Ví dụ: Trong Tam Quốc diễn nghĩa, thiên hạ giết nhau không phải vì
đất nước mà vì việc họ Lưu, họ Tào và họ Tôn muốn tranh giành cai
trị thiên hạ.
‘’Cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ
nghĩa tông tộc, không có chủ nghĩa quốc tộc… còn đối với quốc gia,
trước đến nay người ta chưa hề có một lần hi sinh cực lớn, do đó sức
đoàn kết của người Trung Quốc, chỉ có thể đạt đến tông tộc, chưa
mở rộng đến quốc gia.’’ – Tôn Trung Sơn.
 Đất nước trong quan niệm người Việt hoàn toàn khác so với Trung
Quốc hay các nước châu Âu. Khi có giặc ngoài xâm, các phìa tạo tập
hợp lại với nhau để cùng chống giặc. Sau khi đánh đuổi quân thù ra
ngoài bờ cõi, ai lại về nhà nấy. Thế nên ông vua của Việt Nam chỉ là 1
vị thủ lĩnh mang tính chất danh nghĩa, không có quyền cai trị đất đai
ngoài vùng mình.
 Người Việt Nam sống ở vung đất trẻ, nhiều đầm lầy kênh rạch sông
ngòi và trải dài thoe bờ biển nên để định cưu được họ phải tiến hành
khai hoang mở đất, trị thủy. Bởi vậy đất đai lãnh thổ không phải cái
có sẵn mà phải đấu tranh hoặc tự tạo ra mới có được đất nước.
Ví dụ: Trong bài thơ ‘’Đất nước’’ – Nguyễn Khoa Điềm
‘’....Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Những em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước....’’
 Nếu việc Trung Quốc cắt đất chuyển nhượng cho thế lực bên ngoài
để hình thành nên Hồng Kông hay Ma Cao như bây giờ thì Việt Nam
không thể được phép làm thế vì sẽ gặp sự phản kháng của nhân dân.
 Người Việt Nam ‘’trung với nước’’ là trung thành với vùng đất họ
sinh sống chứ không phải một dòng tộc nào cả. Từ các triều đại Lý,
Trần, Lê tên của nước ta vẫn là Đại Việt, trong khi Trung Quốc tự gọi
nước họ theo tên dòng tộc mình như Hán, Đường, Tống, Nguyên,…
3. Chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ca ngợi: “ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ
quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi sục, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm cả bè lũ bán nước và lũ cướp nước”. Trong tiềm thức của mỗi người con
đất Việt, ai ai cũng đều chứa đựng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn và
trở thành bản sắc độc đáo của văn hóa Việt Nam. Trải qua biết bao thăng
trầm của lịch sử dựng nước và giữ nước, lòng yêu nước, tình cảm gắn bó máu
thịt và trách nhiệm đối với đất mẹ đã đúc kết thành truyền thống và hơn thế
trở thành chủ nghĩa yêu nước của con người Việt Nam. Tuy nhiên, chủ nghĩa
yêu nước thì không phải chỉ ở người Việt Nam mới có. Nhưng sự khác biệt so
với những dân tộc khác chính là ở những sức mạnh cấu thành chủ nghĩa yêu
nước ấy. Trong buổi thuyết trình ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau phân
tích về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam qua những sức mạnh căn bản được trích
từ “ Đại cương Văn hóa Việt Nam” của thầy Phạm Thái Việt:
 Sức mạnh của Phật giáo:
 Để có thể chống lại sức mạnh đồng hóa của một nền văn hóa phát triển
rất cao là văn hóa Trung Hoa, người Việt Nam đã viện đến một nền văn
hóa cũng có một tầm vóc kì vĩ không kém, đó chính là văn hóa Ấn Độ
mà cụ thể trong trường hợp này là Phật giáo.
 Tính bình đẳng, nhân từ và dung chấp của Phật giáo đã dễ dàng thâm
nhập vào tâm thức người Việt bằng con đường hòa bình -> chuyển hóa
thành tâm thức của dân tộc này, trước khi có làn sóng của Trung Hoa
tràn xuống.
 Trong khi các nước kế cận : Lào, Thái Lan, Campuchia thiên về tiểu thừa
thì đại thừa đã trở thành dòng Phật giáo thống trị ở Việt Nam.
-> Người Việt Nam cần đến một thứ tôn giáo bình dân và nhập thế, có tác
dụng thiết thực đối với công cuộc xây dựng đất nước và giữ nước.
 Sức mạnh của Truyền thuyết:
 Truyền thuyết gắn liền với thời kì dựng nước và giữ nước: truyện họ
Hồng Bàng, “Cha Rồng mẹ Tiên- truyện 100 trứng” tương ứng với
các tộc người Bách Việt.
 Truyền thuyết của người Việt gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại
xâm của nhân dân: Truyền thuyết Thánh Gióng
 Áp lực về hoàn cảnh tự nhiên và điều kiện địa lí đối với đời sống của
các tộc người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam:
 Do điều kiện kiến tạo của trái đất, nước ta nằm trong vùng có nhiều tài
nguyên thiên nhiên quý hiếm (rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu). Vị
trí địa lí, điều kiện tự nhiên đó đã tạo nên những tiềm năng to lớn của
sự phát triển kinh tế, nhưng cũng đặt ra không ít thử thách đối với dân
tộc ta. Trong quá trình lao động sản xuất, xây dựng đất nước...chúng
ta phải vừa tìm cách thích nghi với điều kiện tự nhiên, vừa tìm cách
khai thác điều kiện tự nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển của
mình.
 Bên cạnh đó, hàng năm, nước ta phải hứng chịu không ít những thiệt
hại nặng nề về người và của bởi những trận bão lũ, đặc biệt là đồng
bào miền biển.
-> Thế nhưng, cư dân Việt Nam đã liên kết lại với nhau, cùng nhau xây
dựng đất nước, làm thủy lợi, đắp đê sông, đê biển để chống đỡ lụt lội, hạn
hán.
Ví dụ : Đặc biệt, trận bão lũ miền Trung xảy ra vào đợt tháng 10 vừa qua đã
giáng một đòn nặng nề vào đời sống, kinh tế cũng như sức khỏe của người
dân miền biển. Nhân dân cả nước đã chung tay, cùng nhau góp sức, giúp đỡ
để giúp họ phần nào bù đắp được mất mát. Hàng nghìn chiến dịch : Vì miền
Trung ruột thịt, hướng về miền Trung... được thành lập; những bộ quần áo,
lương thực, thực phẩm được mang đến từ các tổ chức cứu trợ; hay một bức
thư thăm hỏi bạn ở vùng lũ từ một cậu học sinh tiểu học đã đủ chứng tỏ sức
mạnh to lớn của tinh thần đoàn kết của người dân Việt Nam trong sản xuất
và chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt - điều mà một cộng đồng đơn lẻ
không thể đảm đương nổi.
 Sức mạnh của ý thức về chủ quyền quốc gia ở người Việt Nam:
Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, là dải đất hẹp nằm giữa núi cao
trùng điệp cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú dồi dào nên
chúng ta luôn là mục tiêu nhòm ngó, lăm le xâm lược và thôn tính của các đế
quốc ngoại bang. Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, dân tộc ta
thường phải đương đầu với kẻ địch mạnh gấp nhiều lần nhưng ta không hề e
sợ. Ngược lại, ý thức về chủ quyền quốc gia của người Việt đã có từ rất sớm,
có thể nói là vào loại sớm nhất trong lịch sử nhân loại.
Điều này được minh chứng qua hàng loạt các tài liệu và văn kiện lịch sử của
dân tộc như : “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” của Lý Thường Kiệt; “ Hịch
tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn và đặc biệt là “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn
Trãi (1428).
“ Bình Ngô Đại cáo” là bản tuyên ngôn đầu tiên trên thế giới về quyền tự
quyết dân tộc, về chủ quyền quốc gia và cũng là định nghĩa sơ khởi về nhà
nước dân tộc. Trong đó, các dấu hiệu cơ bản của nhà nước dân tộc đã được
đề cập đến như:
 Địa lý (lãnh thổ) : ‘’núi sông bờ cõi đã chia’’.
 Phong tục (văn hóa) : ‘’phong tục Bắc Nam cũng khác’’.
 Lịch sử: ‘’ từ Triệu, Đinh, Lý ,Trần bao đời xây nền độc lập’’.
 Chính quyền tự chủ: ‘’mỗi bên xưng đế một phương’’.
 Chế độ cai trị: ‘’chí nhân, đại nghĩa’’.
-> Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam dù truyền thống hay hiện đại suy cho
cùng đều là nội dung cốt lõi của tư tưởng Việt Nam,của nhân sinh quan, thế
giới quan và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Như khẳng định của cố giáo
sư Trần Văn Giàu: “Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung
nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác. Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và
nhân sinh của người Việt Nam”. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam xác định
những nguyên tắc, yêu cầu không phải về mặt pháp lý mà mang tính xã hội,
chứa đựng giá trị văn hóa sâu sắc, nó là sợi dây tinh thần ràng buộc mọi
người trong cộng đồng phải tuân theo trong nhận thức và hành động thực tế.
Nó là mẫu số chung của tư tưởng, đạo đức, lối sống con người Việt Nam, trở
thành tiêu chí cao nhất và là thước đo giá trị của từng con người, từng công
dân trước cộng đồng. Đồng thời, đó cũng là tiêu chí cơ bản để phân biệt bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam với văn hóa của các dân tộc khác.
-> CÓ THỂ NÓI, quan điểm về nước và chủ nghĩa yêu nước là những đặc
thù văn hóa nổi trội nhất trong bản sắc của con người Việt Nam.
Tài liệu tham khảo :
‘’Đại cương văn hóa Việt Nam’’ – Phạm Thái Việt
‘’Bản sắc văn hóa Việt Nam’’ – Phan Ngọc

You might also like