0% found this document useful (0 votes)
523 views5 pages

CHUYÊN ĐỀ 15: LỄ HỘI (bản đã sửa)

Tài liệu nói về khái niệm và ý nghĩa của lễ hội. Lễ hội là hoạt động văn hóa tập thể phản ánh đời sống xã hội và tinh thần của cộng đồng. Lễ hội gồm có hai phần chính là Lễ và Hội, trong đó Lễ mang tính nghi lễ tôn giáo còn Hội là phần vui chơi, giải trí.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd
0% found this document useful (0 votes)
523 views5 pages

CHUYÊN ĐỀ 15: LỄ HỘI (bản đã sửa)

Tài liệu nói về khái niệm và ý nghĩa của lễ hội. Lễ hội là hoạt động văn hóa tập thể phản ánh đời sống xã hội và tinh thần của cộng đồng. Lễ hội gồm có hai phần chính là Lễ và Hội, trong đó Lễ mang tính nghi lễ tôn giáo còn Hội là phần vui chơi, giải trí.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd

CHUYÊN ĐỀ 15: LỄ HỘI (bản đã sửa)

Nhóm 4:

Lê Đoan Thảo Vy - MSSV: TT47C1-0512

Nguyễn Tuấn Đạt - MSSV: TT47C1-0476

Lê Nguyễn Tuấn Minh - MSSV: TT47C1-0499

(Lê Đoan Thảo Vy)

KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI:

Khái niệm

Trên thế giới, mỗi một quốc gia lại có một loại hình sinh hoạt văn hóa riêng, mang đậm bản
sắc văn hóa của quốc gia mình, và có lẽ “ lễ hội” là loại hình tiêu biểu nhất. Đây là một loại hình
sinh hoạt văn hóa đặc biệt có tính tập thể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong
lao động sản xuất, hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử.

vd: Lễ hội Mardi gras, Mỹ

Lễ hội té nước - Thái Lan

Vìthế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xã hội, nó chứa đựng
và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế- xã hội,văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng
tộc người. Vậy “lễ hội” là gì ?

Ở Việt Nam, khái niệm Lễ hội mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu. Trước hết chỉ có khái niệm
lễ hoặc hội. Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong
tục.

Theo thống kê của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, hiện cả nước có 7.966 lễ hội. Tính ra,
trung bình mỗi ngày diễn ra khoảng 22 lễ hội. Tức là bình quân mỗi giờ, ở Việt Nam lại có một
lễ hội được tổ chức

Thời điểm diễn ra lễ hội

- “Lễ và Hội thường đi kèm với nhau và diễn ra tập trung vào 15 ngày đầu xuân (từ
1-15/1 âm lịch).” Đây là thời điểm nông nhàn hay còn là thời điểm để cho vạn vật sinh
sôi, phát triển, bắt đầu một chu trình mới. Nên thời gian lễ hội là thời gian thư giãn nghỉ
ngơi, nhịp dừng thú vị, là thời điểm những người xa quê hương có thể trở về.

- “Lễ hội, theo quan niệm của đồng bào Tây Nguyên là mùa Ning Nơng, được Ăn
năm uống tháng. Người Việt cổ truyền cũng quan niệm rằng Tháng Giêng là tháng ăn
chơi, tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà...”
“Hầu như các làng xã nào có đình chùa, miếu mạo thì ở đó tùy thuộc vào quy mô mà tồn tại
các lễ hội khác nhau.”

Lễ bao gồm hai phần cơ bản: Lễ và Hội. Với Phần Lễ là phần gốc rễ chủ đạo, Phần Hội là
phần phát sinh tích hợp.

A. Phần Lễ

- “Lễ là nghi thức thờ cúng mang màu sắc tôn giáo tâm linh, các lễ vật và quy trình tế
lễ gắn liền với đặc thù của đối tượng thờ cúng.”

vd: Lễ Thành Hoàng, lễ gia tiên...,

- Theo từ điển Hán -Việt của Thiều Chửu, Lễ có ba nghĩa: 1/Theo cái khuôn mẫu mà
người trước đã định ra các phép tắc từ quan, hôn tang tế cho đến đi đứng nói năng đều có
cái phép nhất định phải như thế gọi là lễ; 2/kính kễ; 3/ đồ lễ: nhân nhà người ta có việc
mà mình đưa vật gì đến tặng gọi là lễ.

- Các chức năng trên đều có trong Phần Lễ của lễ hội ở Việt Nam.

Nội dung chính của Lễ là:

- “Tưởng nhớ và tôn vinh đối tượng thờ cúng.”

- “Cần sự bảo trợ về mặt thần quyền cho sự thịnh vượng và yên bình của cộng đồng
dân cư.”

Không gian diễn ra Phần Lễ

- Phần lễ thường diễn ra ở những nơi trang nghiêm như: trong hoặc trước cửa đình, đền
miếu, chùa,... mục đích là để giao tiếp với thần linh sông núi, các vị thần tổ nghề, anh linh các vị
anh hùng dân tộc, mời tổ tiên các dòng họ về dự hội với dân làng.

B. Phần Hội: (Nguyễn Tuấn Đạt)

* Hội là gì?

- Hội là phần mang tính sinh hoạt giải trí, làm sống lại các truyền thống sinh hoạt và vui chơi đã
từng ăn sâu vào lối sống của cộng đồng.

* Hội bao gồm những gì?

- Hội được cấu thành bởi các hoạt động vui chơi giải trí, các trò chơi dân gian phong phú, trò
diễn… và hầu hết là những người trẻ tuổi tham gia:
+ Các trò chơi thường không mang tính nghi lễ, nhưng cũng có những trò chơi trước kia có mang
tính nghi lễ nhưng đã dần trở nên mờ nhạt hay bị lãng quên hoàn toàn. Ví dụ như trò đấu vật
(Hội vật làng Mai Động)

+ Trò diễn: Khác với hầu hết các trò chơi, trò diễn mang tính nghi lễ bởi về cơ bản, trò diễn là
diễn lại (toàn bộ hoặc một phần) cuộc đời của nhân vật được thờ cúng (và qua đó thể hiện sự gắn
kết của dân làng với nhân vật được thờ cúng). Ví dụ, ta có “Trò Xuân Phả”.

+ Ở những nơi khác nhau, các phương thức sinh hoạt và giải trí trong hội cũng khác nhau -->
Hội mang tính truyền thống đậm đà bản sắc địa phương thông qua tính không lặp lại trong cách
nhìn, cách ứng xử đối với cùng một loại hình giải trí. Ví dụ: Cuộc thi nấu cơm của Hội làng
Nghè, Cầu Giấy khác với hội thi nấu cơm trong hội Thị Cấm, Từ Liêm.

- Hội thường diễn ra ở các bãi đất trống, vạt rừng, trên mặt nước ao, hồ, sông,… - những nơi
rộng rãi để có thể tụ tập đông người.

*Phân loại hội:

Nhìn chung, Hội có thể được chia thành 5 loại:

- Hội lễ nông nghiệp: hội mô tả nhưng gì liên quan đến chu trình (hoặc một phần chu trình) sản
xuất nông nghiệp hoặc biểu dương các sản vật làm từ nông nghiệp. Ví dụ, ta có “Hội trang trí
trâu” (trong Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn ở Hà Nam).

- Hội lễ phồn thực giao duyên: hội gắn với quan niệm tín ngưỡng Phồn thực, cầu mong cho sự
sinh sôi nảy nở của con người và muôn loài. Như “Hội ôm” ở nhiều xã ở Phú Thọ: nam nữ được
đùa nghịch nhau thoải mái trong vòng mười phút.

- Hội văn nghệ: hội thi hát các làn điệu dân ca. Ví dụ: Hội Lim ở Bắc Ninh.

- Hội thi tài: Hội thi nấu cơm, thi bơi chải, thi kéo co…

- Hội lịch sử: Ví dụ chính là Lễ hội Lam Kinh ở Thọ Xuân với phần Hội có trò diễn “Trò Xuân
Phả” đã nói ở trên,…

* Phân loại trò chơi

Xét theo nguồn gốc, phần lớn các trò chơi đều xuất phát từ ước nguyện của con người:

- Uớc nguyện mưa thuận gió hòa: được thể hiện qua các hoạt động tạo ra âm thanh mô phỏng
tiếng sấm như trò đánh pháo đất, trò ném pháo, thi đốt pháo…

- Uớc vọng cầu cạn: các trò thi thả diều để mong gió lên, nước lụt mau rút.

- Uớc vọng phồn thực: Ví dụ như trò cướp cầu thả lỗ, bắt chạch trong chum…

- Uớc vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo: Hội thi thổi cơm, thi luộc gà, thi bắt
lợn…
- Uớc vọng rèn luyện sức khỏe và khả năng chiến đấu: Thi đấu vật, kéo co, chọi gà, …

Ý nghĩa lễ hội (Lê Nguyễn Tuấn Minh)


Lễ hội đóng vai trò rất lớn trong đời sống mỗi cá nhân người Việt. Theo thống kê của Bộ Văn
hóa, truyền thông và du lịch thì mỗi năm nước ta có khoảng tám nghìn lễ hội lớn nhỏ được tổ
chức, tức là khoảng hơn hai mươi lễ hội trong một ngày, một con số đủ để thấy lễ hội mang ý
nghĩa quan trọng thế nào.
Bởi vì phần “lễ” tưởng nhớ và tôn vinh đối tượng thờ cúng nên nó mang lại giá trị giáo dục to
lớn cho cả những người tham gia lẫn những người chuẩn bị.
⮚ Thứ nhất, lễ hội truyền cho các thế hệ hiện tại và tương lai những giá trị văn hóa, truyền
thống, về lịch sử dựng nước, giữ nước, và về cả cội nguồn dân tộc.
VD:
- Nổi bật nhất là lễ hội đền Hùng Phú Thọ được tổ chức trong khoảng mùng 8 tới 11 tháng
3 âm lịch, và mùng 10 là ngày chính lễ, với mục đích tưởng nhớ các vua Hùng đã có công
dựng nước.
- Hay còn cả đó là hội Gióng được tổ chức trong khoảng mùng 6-8 tháng Giêng hàng năm
với mục đích tưởng nhớ và ca ngợi công lao của Thánh Gióng, một trong bốn “tứ bất tử”
của dân tộc, trong cuộc chiến chống giặc Ân để bảo vệ đất nước.
⇨ Những lễ hội này giúp cho các thế hệ sau tiếp thu và nhận thức được về lịch sử một cách
tự nhiên nhất, đơn giản mà hiệu quả nhất chứ không nhất thiết phải thông qua sách vở
hàn lâm. Qua việc tham gia vào các lễ hội, những tri thức ấy sẽ được truyền thẳng vào
tâm thức bằng những hình ảnh, kỉ niệm gắn bó với đời sống.
⮚ Thứ hai, lễ hội còn dạy con người về những lời răn, lời dạy mà thế hệ trước muốn nhắn
nhủ qua các nghi lễ. Đó là những bài học về các quy tắc đạo đức, ứng xử và ngăn cản các
hành vi sai trái, đi ngược với các giá trị chung của dân tộc.
Còn phần “hội” là để làm sống lại các truyền thống sinh hoạt đã ăn sâu vào lối sống cộng đồng
nên nó có giá trị như “một bảo tàng văn hóa, một thứ bảo tàng tâm thức lưu giữ các giá trị văn
hóa, các sinh hoạt văn hóa” (“Cơ sở văn hóa Việt Nam” - Trần Quốc Vượng).
⇨ Lễ hội sẽ như một chứng thực về cội nguồn cũng như sự liên kết của các cộng đồng dân
cư. Nhờ vậy các cộng đồng sẽ xích lại gần nhau hơn khi biết mình là một phần trong một
đại gia đình rộng lớn.
⇨ Bên cạnh tìm ra những sự liên kết thì lễ hội cũng giúp thể hiện nét riêng và sự đặc trưng
của từng cộng đồng.
VD:
- Cuộc thi nấu cơm của Hội làng Nghè, Nghĩa Đô, Cầu Giấy(tôn vinh hai bà Hồng Nương
và Quế Nương trong việc làm hậu phương kháng chiến) sẽ khác với của hội Thị Cấm,
thôn Hòe Thị, xã Xuân Phương, Từ Liêm(vì danh dự của từng ấp tham gia).(“Đại cương
văn hóa Việt Nam” – Phạm Thái Việt).
- Hai hội đền Trần ở Thái Bình và Nam Định cũng sẽ có những nét riêng trong việc làm lễ
và cách tổ chức hội.
⇨ Sau cùng, việc tạo được sợi dây liên kết giữa các cộng đồng cũng là nền tảng để tạo ra
các lễ hội “liên làng”.
VD:
- Hội Cổ Loa không chỉ có sự tham gia của dân xã Cổ Loa mà còn có các xã kết nghĩa khác
nữa do Cổ Loa kết chạ với 8 xã xung quanh thờ An Dương Vương. Lễ hội diễn ra trong 8
ngày, mỗi ngày là một xã đứng lên hành lễ.
- Hội làng Thúy Lĩnh, xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì gắn với tục kết chạ với hai hàng kế
cận là Nam Du thượng và Nam Du hạ.

Chú giải thuật ngữ:

1) Lễ: nghi thức thờ cúng mang màu sắc tôn giáo tâm linh, các lễ vật và quy trình tế lễ gắn liền
với đặc thù của đối tượng thờ cúng.

1) Hội (trong “Lễ hội”): phần mang tính sinh hoạt giải trí, làm sống lại các truyền thống sinh
hoạt và vui chơi đã từng ăn sâu vào lối sống của cộng đồng.

2) Trò diễn: Hoạt động mang tính nghi lễ, diễn lại toàn bộ hoặc một phần hoạt động của cuộc đời
nhân vật phụng thờ.

Tham khảo:
1) “Cơ sở văn hóa Việt Nam” – Trần Quốc Vượng.
2) “Đại cương văn hóa Việt Nam” – Phạm Thái Việt.
3) https://vnembassy-copenhagen.mofa.gov.vn/vi-vn/Menu%20Hide/Vietnam%20country
%20and%20people/Trang/FESTIVALS.aspx
4) http://www.vietnamgreentours.com.vn/vn/cam-nang-du-lich/413_y-nghia-le-hoi-truyen-
thong-.html
5) “CHỮ VÀ NGHĨA: LỄ và HỘI, Thế nào là LỄ HỘI?’’ – Danvietnews

6) https://nhandan.com.vn/photo_news/hoi-vat-lang-mai-dong-316916/

7) http://baophutho.vn/dat-nguoi-phu-tho/200412/le-hoi-dat-to-va-van-hoa-coi-nguon-17672

You might also like