100% found this document useful (2 votes)
10K views4 pages

* Nghệ thuật thanh sắc và hình khối là gì?

Tài liệu nói về các đặc điểm của nghệ thuật thanh sắc và hình khối Việt Nam như tính biểu trưng, biểu cảm, tổng hợp và linh hoạt. Nghệ thuật Việt thường sử dụng các thủ pháp mang tính ước lệ để truyền tải nội dung một cách trừu tượng hơn là tả thực.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd
100% found this document useful (2 votes)
10K views4 pages

* Nghệ thuật thanh sắc và hình khối là gì?

Tài liệu nói về các đặc điểm của nghệ thuật thanh sắc và hình khối Việt Nam như tính biểu trưng, biểu cảm, tổng hợp và linh hoạt. Nghệ thuật Việt thường sử dụng các thủ pháp mang tính ước lệ để truyền tải nội dung một cách trừu tượng hơn là tả thực.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd

NHÓM 3

CHUYÊN ĐỀ 14: NGHỆ THUẬT THANH SẮC VÀ HÌNH KHỐI


(bản chỉnh sửa)

Phân chia công việc:


1. Tính biểu trưng Nông Khánh Linh
2. Tính biểu cảm Vũ Trần Nguyệt Hà
3. Tính tổng hợp Hồ Thị Khánh Linh
4. Tính linh hoạt Bùi Trần Mai Anh

* Nghệ thuật thanh sắc và hình khối là gì?


- Nghệ thuật thanh sắc là các loại hình nghệ thuật cảm nhận bằng thính giác và thị
giác. Ví dụ: ca, múa, nhạc, kịch,…
- Nghệ thuật hình khối là các loại hình nghệ thuật cảm quan bằng màu sắc và
không gian. Ví dụ: kiến trúc, hội họa, điêu khắc,…
- Hai loại nghệ thuật trên cho phép hình thành kết luận về văn hóa người Việt trong
lĩnh vực nghệ thuật.
1. Tính biểu trưng.
Là đặc điểm tạo nên nét đối lập hoàn toàn với văn hóa phương tây- nơi mang nặng
tính tả thực.
a. Tính biểu trưng trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam.
 Thường sử dụng thủ pháp mang tính ước lệ để truyền tải nội dung. Ví dụ:
- Trên sân khấu tuồng, mặt của Quan Công bôi đỏ- thể hiện cho bản chất
tốt đẹp của nhân vật.
- Bằng những động tác ước lệ với một cái roi, diễn viên có thể làm cho
người xem hình dung được dễ dàng cảnh cưỡi ngựa.
 Nhấn mạnh nội dung tới mức có thể bỏ qua tính hợp lý của hình thức. Ví dụ:
- Trong bức “Phù điêu tiên cưỡi hạc” đã khắc khuôn mặt, đôi cánh và
quầng lửa trên đầu cô tiên to rõ còn thân mình chân tay thì thu nhỏ lại.
- Trong tranh “Đám cưới chuột” của làng tranh dân gian đông hồ,hình ảnh
con mèo- đại diện cho tầng lớp thống trị, to hơn ngựa.
 Lược bỏ các chi tiết phụ để làm nổi bật nội dung , Ví dụ, tranh “Đánh vật”
của làng tranh Đông Hồ, người xem, cây cỏ được cắt bỏ, chỉ giữ lại những
người đấu vật và hai dây pháo.
 Sử dụng ngôn ngữ để tạo sự liên tưởng.Ví dụ:
- Hai chữ “Vinh hoa” trong tranh Đông hồ- Cậu bé ôm gà.
- Hình ảnh con hươu tượng trưng cho “lộc” vì trong tiếng Hán, hươu phát
âm là “lộc” .
b. Lý giải cho tính biểu trưng trong nghệ thuật văn hóa Việt.
- Ta cũng thường hay bắt gặp khuynh hướng biểu trưng này ở các nước
phương Đông, để lý giải cho sự khác biệt giữa hai nền văn nghệ thuật
Đông Tây, trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” giáo sư Trần Ngọc Thêm
cho rằng “Mọi nghệ thuật đều phản ánh khát vọng của con người vươn
tới một cái gì khác với cái mà người ta đang sống” nên do ở hầu hết các
nước phương Tây, với văn hóa gốc du mục thường ngày coi thường và
chế ngự thiên nhiên, nên trong nghệ thuật, họ bộc lộ khát vọng trở về với
tự nhiên, tả thực. Còn ở các nước phương đông với loại hình văn hóa gốc
nông nghiệp, sống hòa hợp với thiên nhiên, nên trong nghệ thuật lại bộc
lộ khao khát thoát khỏi tự nhiên, vươn tới cái biểu trưng ước lệ.
- Ngoài ra còn có thể lý giải trên góc độ điều kiện vật chất: với các nước
nông nghiệp, kỹ thuật, công nghệ, cơ sở vật chất chưa phát triển, làm
hoạt động tả thực gặp nhiểu khó khăn. Nên sử dụng những thủ pháp
mang tính ước lệ sẽ giải quyết được những hạn chế về chi phí, vật chất,
kỹ thuật.

2. Tính biểu cảm


a. Tính biểu cảm của nghệ thuật thanh sắc
- Âm nhạc: mang giai điệu trữ tình, sâu lắng, nhịp điệu trầm, chú trọng
thanh âm và luyến láy, gợi nhiều tình cảm, cảm xúc. 
Ví dụ: dân ca quan họ Bắc Ninh, ca trù, chầu văn, chèo, đờn ca tài tử
Nam Bộ,...
- Vũ kịch: thường sử dụng những động tác mềm dẻo, uyển chuyển, dùng
tay nhiều hơn chân; kín đáo tế nhị trong cách ăn mặc, động tác. Khác với
các dân tộc gốc du mục thiên về múa chân, người Việt nông nghiệp múa
tay là chính
- Sân khấu: trong nghệ thuật sân khấu, thiên về sử dụng ánh mắt, cử chỉ
để biểu lộ cảm xúc... 

b. Tính biểu cảm trong nghệ thuật hình khối


- Tranh: nội dung tranh thường đề cập đến sự an bình của đời sống
thường nhật 
Ví dụ: tranh hứng dừa, chạm gỗ trai gái vui đùa, tranh chăn trâu, thổi sáo,...
Không chỉ tình cảm của con người mà tình cảm của loài vật cũng được thể
hiện mạnh mẽ: cảnh đôi khỉ ôm nhau ở đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng,...

3. Tính tổng hợp.

Các thủ pháp chuyển tải nội dung thường được vận dụng một cách linh hoạt để đề
cao tính ước lệ và chú trọng nhấn mạnh nội dung. Chính sự chấp nhận nhiều thủ
pháp khác nhau ấy đã tạo cho nghệ thuật thanh sắc và hình khối tính tổng hợp.

a. Tính tổng hợp trong nghệ thuật thanh sắc


 Sân khấu truyền thống Việt Nam không có sự phân biệt rõ ràng giữa các loại
hình ca – múa – nhạc
- “Tất cả đều đồng thời có mặt trong một vở diễn. Không phải ngẫu nhiên
mà người Việt Nam có cách nói tưởng chừng phi lí: xem hát chèo, xem
hát tuồng (hát bội). Chỉ có nó mới diễn đạt được khái niệm về một nền
nghệ thuật tổng hợp có cả xem (diễn) và nghe (hát).” (“Cơ sở văn hóa
Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm, 1999)
 Sân khấu truyền thống Việt Nam không chuyên môn hóa nghệ thuật thành
những thể loại chuyên biệt
- Ví dụ: Trong vở chèo Quan âm Thị Kính, điểm xuyết cho cuộc đời bi ai
của Thị Kính là những cảnh Thị Mầu lên chùa, xã trưởng – mẹ Đốp… dí
dỏm, hài hước, mang lại cho người xem tiếng cười ngay sau khi lấy đi
những giọt nước mắt.
b. Tính tổng hợp trong nghệ thuật hình khối
 Về quan hệ hình thức – nội dung: tổng hợp tính biểu trưng và biểu cảm
Ví dụ:
- Ở tranh Đông Hồ “Cậu bé chăn trâu” có hình thức biểu trưng (hình ảnh
cậu bé chăn trâu đặc trưng cho làng quê Việt Nam) còn nội dung biểu
cảm (thể hiện sự bình yên, thanh lạc của cuộc sống nơi làng quê mộc
mạc, giản dị).
- Ở tranh Đông Hồ “Đàn lợn đông dương” có hình thức biểu cảm còn nội
dung thì ước lệ (đàn lợn béo tròn biểu trưng cho sự sinh sôi, nảy nở và
mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc).

 Về phong cách thể hiện: có sự tổng hợp của biểu trưng và tả thực
- Ví dụ: Tượng “Hổ đá” ở lăng Trần Thủ Độ tả thực toàn thân với những
bắp thịt rắn chắc, riêng phần đuôi lại được thể hiện như một khối thép
vuông thành sắc cạnh theo lối biểu trưng.

4. Tính linh hoạt.


 Trong âm nhạc truyền thống, các nhạc công không bị câu thúc bằng giai
điệu chung (giọng chủ) mà có thể tự do biểu diễn để bộc lộ hết khả năng của
mình. Họ không bị đòi hỏi phải chơi giống hệt nhau.
 Điều duy nhất cần tuân thủ chính là khi bắt đầu và khi kết thúc. Còn trong
thời gian biểu diễn, người nghệ nhân tùy trường hợp có thể tùy ý biến ứng
cho thích hợp.

Ví dụ: Tới nơi thích nghe hát thì nghệ nhân cho thêm làn điệu này, câu
hát nọ. Tới nơi thích hài thì vai hề cài thêm những câu ngoài tích phù hợp
với tình hình địa phương.

 Trong sân khấu truyền thống, không tồn tại sự tách biệt rạch ròi giữa không
gian sân khấu và không gian hiện thực. Do đó, diễn viên thường biến tấu các
chi tiết của vở diễn thành những cho phù hợp với tình huống cụ thể. Ví dụ:

- Sàn diễn của chèo truyền thống thường là sân đình;. bốn manh chíếu trải
ngay trước cửa chính, để cho người xem ngồi vây kín ba mặt;. sát tận
mép chiếu.
- Các diễn viên trên sân khấu truyền thống có thể giao lưu với khán giả.
-  Người nghe có thể tham gia bình phẩm khen chê và chen vào những câu
ngẫu hứng.

 Hình thành một loại lời thoại đặc biệt trong sân khấu cổ truyền –
tiếng đế. Nó trở thành một bộ phận của vở diễn, làm cho không khí
của vở diễn trở nên uyển chuyển, linh hoạt. Điều này giải nghĩa vì sao
ở Việt Nam 1 tuồng hay chèo thường có nhiều dị bản.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trầu văn, tranh đông hồ là hai ví dụ về các loại hình
nghệ thuật ở Việt Nam chỉ dừng lại ở tính dân tộc khi so với các loại hình tương tự
trên thế giới như giao hưởng, tranh khắc gỗ Nhật Bản (đã đạt đến trình độ cao siêu,
được cả thế giới công nhận).
Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Thái Việt, Đại cương văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa- Thông tin, 2004, tr66-69.
2. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr 175.
Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999,

You might also like