NHÓM 1
VĂN HÓA ĐÔ THỊ
A – THÀNH VIÊN
1. Nguyễn Phan Quốc Huy (phần I)
2. Lương Phương Linh (phần II 1+2)
3. Giang Thị Hải Đăng (phần II 3+4+5)
B – NỘI DUNG
I. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM
Trước hết, là trung tâm chính trị, sau đó là kinh tế và văn hóa.
Không nảy sinh bằng con đường phát triển tự nhiên, tức không phải là hệ
quả của sự phát triển tiểu thủ công nghiệp và thương mại; mà trái lại là
do Nhà nước sinh ra.
Ví dụ: Các đô thị lớn nhỏ, ra đời vào các giai đoạn khác nhau như Văn
Lang, Cổ Loa, Luy Lâu, Thăng Long, Phú Xuân (Huế)… đều hình
thành theo con đường như thế. Ngay các đô thị mới như Xuân Mai,
Xuân Hòa… cũng không thoát ra ngoài quy luật trên. (Tham khảo từ:
(*) Tham khảo:
http://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/co-so-van-hoa-viet-nam/van-hoa-to-chuc-
doi-song-tap-the/to-chuc-do-thi/)
Thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu và chịu sự quản lí trực tiếp
của nhà nước phong kiến.
Giải thích: Trong đô thị có bộ phận quản lí và bộ phận làm kinh tế
(buôn bán); thường thì bộ phận quản lí hình thành trước theo kế
hoạch, rồi dần dần, một cách tự phát, bộ phận làm kinh tế mới được
hình thành. Thậm chí trong nhiều trường hợp, bộ phận quản lí của đô
thị đã hoạt động rồi mà bộ phận làm kinh tế vẫn không phát triển được
hoặc phát triển rất yếu ớt như trường hợp các kinh đô Hoa Lư của nhà
Đinh, phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô của nhà Hồ, Lam Kinh
của nhà Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn…
Số lượng và quy mô không đáng kể so với nông thôn: cho đến tận thế kỉ
XVI, Đại Việt mới chỉ có một đô thị, một trung tâm chính trị - kinh tế -
văn hóa là Kẻ Chợ (Thăng Long). Từ sau thế kỉ XVI, xuất hiện thêm một
số đô thị mà chủ yếu là gắn với ngoại thương (Phố Hiến, Thanh Hà, Hội
An, Nước Mặn, Sài Gòn,…)
Trong lịch sử Việt Nam, đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn
hóa; tư duy nông nghiệp, căn tính nông dân đã in đậm dấu ấn trong văn
hóa đô thị của Việt Nam.
Ví dụ:
- Các quán cóc vỉa hè với nước trà, điếu cày, bàn cờ tướng - cảnh giải
lao, nói chuyện của dân quê
- Chợ cóc có mặt nhiều nơi – khung cảnh buôn bán ở nông thôn
- Ở các thành phố vẫn có huyện được công nhận “nông thôn mới”:
Đông Anh, Thanh Trì (Hà Nội),...
Biểu hiện sự chi phối của nông thôn đối với đô thị:
Tổ chức hành chính của đô thị được sao phỏng theo tổ chức nông
thôn (ví dụ: chia đô thị thành các cấp độ hành chính như: phủ,
huyện, tổng, thôn). Ngoài ra, đô thị còn có một khu vực hành chính
mà nông thôn không có đó là phường.
Phố nằm xen kẽ với làng
Cổng làng Thụy Khê
Lối sống của đô thị Việt Nam cũng tương tự như ở nông thôn vì có
tính cộng đồng và tập thể cao.
II. LÝ GIẢI CÁC ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA
1. Thể chế làng xã bao trùm các cộng đồng lớn hơn (đô thị, nhà nước) là
sự phóng chiếu của chính nó.
Theo Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Nhật Vượng (chủ biên): “Siêu làng
lớn nhất là nước, là dân tộc”.
Văn hóa Việt Nam xưa: không phải văn hóa thành thị, không có hiện
tượng thành thị chỉ huy nông thôn (chuyển nền kinh tế tự túc sang kinh tế
hàng hóa).
Ngược lại: thành thị bị nông thôn hóa.
Lý giải: đô thị chịu ảnh hưởng và mang đặc tính của nông thôn
- Tổ chức hành chính mô phỏng theo tổ chức nông thôn: chia thành phủ,
huyện, tổng, thôn
- Do tính cộng đồng: khu tập thể, bể nước, nhà vệ sinh tập thể... Tự phát
tổ chức theo lối phường (việc mua bán của 36 phố phường ở Hà Nội
khi xưa). Tái phường hóa: trước kia bán một mặt hàng sau chuyển
sang mặt hàng khác.
- Tính tự trị: các đô thị đều có cổng làng, các phố nhỏ bên trong cũng
vậy.
Dẫn chứng:
Đô thị lớn như Thăng Long chỉ là của hàng bán các sản phẩm nông
thôn.
Phường chỉ là cái đuôi của từng làng với thành hoàng làng, gắn
chặt chẽ với làng (Phan Ngọc, Bản sắc Văn hóa Việt Nam, NXB
Văn hóa-Thông tin).
2. Làng nghề không thể phát triển thành các thị trấn, để phát triển tiếp
lên thành các đô thị, vì:
“Nghề”: hoạt động phụ thu so với canh tác nông nghiệp của làng.
Các làng nghề không chịu tác động về sức ép khan hiếm đất đai
can tác đến dộ chuyển hẳn sang sống bằng nghề thủ công.
Hệ thống giao không phát triển.
Việc lưu thông và trao đổi các sản phẩm thủ công rất khó khăn.
Thị trường tiêu thụ không mở rộng được.
Hàng hóa tiểu thủ công nghiệp mà các làng nghề sản xuất chủ yếu
phục vụ nhu cầu nhỏ hẹp của tầng lớp quan lại phong kiến.
Các hoạt động bôn bán này do quan lại quản lý.
Tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” + thủ công và thương
nghiệp bị bóp nặn kiệt sức, không có khả năng tái sản xuất mở
rộng.
Lý giải: - Do tính cộng đồng: cả làng làm cùng một nghề, bán cùng
một sản phẩm.
- Do tính tự trị: dân cư sống tự túc, khép kín, không có nhu
cầu buôn bán, giao lưu.
➡ Không có trao đổi hàng hóa thì không thể trở thành đô thị.
Không thể thoát khỏi làng xã nông thôn để trở thành bộ phận kinh
tế độc lập.
3. Chế độ phong kiến Việt Nam mang tính tập quyền
Nhà nước phong kiến tìm mọi cách để loại trừ những tác nhân gây phân
quyền: nghề thủ công, thương mại, tầng lớp thương nhân và văn hóa đô
thị (vì sợ khi tầng lớp thương nhân hùng mạnh làm chủ kinh tế và có khả
năng thay đổi triều đại)
Chính quyền phong kiến tập quyền và thể chế làng xã cùng kìm hãm thủ
công nghiệp và thương nghiệp (vì sợ cấu trúc khép kín của chúng bị phá
vỡ)
(*) Tham khảo Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin, HN,
2002, tr64
4. Thành kiến đối với thương nghiệp
Tư tưởng “trọng nông, ức thương” bám sâu trong nhân dân: người Việt
truyền thống gắn với sự ổn định làng xã, coi thường dân ngụ cư, coi đô
thị là nơi hội tụ “tứ chiếng giang hồ”.
(*) Tham khảo Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999.
➡Thương nghiệp không phát triển thì không thể có văn hóa đô thị đúng nghĩa
5. Thương nhân gắn chặt với làng quê
Xuất thân từ làng quê và chịu ảnh hưởng của nó, không có văn hóa riêng
➡ không có văn hóa đô thị đích thực
C – TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Thái Việt, Đại cương về Văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa –
Thông tin, 2004
2. Phan Ngọc, Bản sắc Văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin.
3. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999.
4. Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên), NXB Giáo dục,
tái bản lần thứ năm, 2002
5. http://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/co-so-van-hoa-viet-nam/van-hoa-
to-chuc-doi-song-tap-the/to-chuc-do-thi/)