100% found this document useful (1 vote)
2K views5 pages

Văn hóa làng xã Việt Nam

Tài liệu nói về văn hóa làng xã Việt Nam, bao gồm cấu trúc và chức năng của làng xã, các đặc trưng văn hóa như tính tập thể, khó thích ứng với sự thay đổi, tính tự quản và cục bộ địa phương.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd
100% found this document useful (1 vote)
2K views5 pages

Văn hóa làng xã Việt Nam

Tài liệu nói về văn hóa làng xã Việt Nam, bao gồm cấu trúc và chức năng của làng xã, các đặc trưng văn hóa như tính tập thể, khó thích ứng với sự thay đổi, tính tự quản và cục bộ địa phương.

Uploaded by

An
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd

Nhóm 2:

- Vi Thị Lan Anh ( nhóm trưởng)


- Trần Hương Giang
- Vũ Hương Giang

Văn hóa làng xã Việt Nam


1. Đôi nét về thể chế làng xã
- Sự ra đời:
 Làng xã Việt Nam vốn bắt nguồn từ công xã nông thôn, ra đời vào giai
đoạn tan rã của công xã nguyên thủy, (khoảng thiên niên kỉ X trở đi).
 Cùng với sự hưng thịnh của chế độ phong kiến, các công xã nông thôn dần
dần bị phong kiến hóa và trở thành các đơn vị hành chính cơ bản của chính
quyền phong kiến với tên gọi chung là xã, cũng có khi gọi là thôn hay làng.
- Vai trò: Làng xã giữ vai trò trung gian nối các cá thể với nhà nước. Tất cả các chỉ
thị từ chính quyền trung ương đến với người dân, đều phải thông qua “bộ lọc” làng
xã và do đó mà bị khúc xạ tán sắc đi nhiều.
Ví dụ: Trong Chỉ thị 08 của BTV Tỉnh ủy về đẩy mạnh vận động nông dân
“Dồn điền đổi thửa” có đưa ra một số quy định chung. Tuy nhiên, khi về từng
làng xã, mỗi làng xã có những thay đổi nhằm phù hợp hơn với hoàn cảnh tại
địa phương.
- Đặc điểm:
 Là một thể chế bền vững, tồn tại hầu như xuyên suốt chiều dài lịch sử dân
tộc.
 Là đơn vị tụ cư, là cộng đồng dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp với quan
hệ huyết thống, là môi trường sinh hoạt văn hóa xã hội từ bao đời nay của
người Việt.
- Thành tựu:
 Khai phá đất hoang
 Đắp đê
 Đào kênh làm thủy lợi.
Đấy là những công trình lao động rất bức thiết trong trong yêu cầu phát triển
của nền nông nghiệp trồng lúa nước của một xứ nhiệt đới gió mùa thường bị
nạn lụt đe dọa, mà đơn vị sản xuất nhỏ là gia đình không thể đảm đương nổi.

2. Đặc trưng văn hóa làng xã

2.1: Đặc trưng thứ nhất: chủ nghĩa tập thể


- Có thể nhận thấy rằng trong truyền thống cộng đồng Việt Nam, ít thấy những
quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà thường là quan hệ trách
nhiệm giữa các cấp cộng đồng.
- VD:
+, Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, khi viết về cái tôi cá nhân trong thơ mới và
văn học lãng mạn nói chung, không ít nhà nghiên cứu có thái độ phê phán con
người cá nhân.
+, Trong đạo đức học, chúng ta tuyên truyền một cách nghĩ tiêu cực đối với chủ
nghĩa cá nhân, coi đây là con người vị kỷ, ích kỷ, chỉ biết đóng kín tháp ngà cá
nhân; ít có những nghiên cứu nghiêm túc về con người cá nhân mà thiên về đề cao
con người tập thể.
+ Trong khuôn khổ làng xã, biểu hiện rõ nét nhất của truyền thống này là quyền
được tham gia bầu chọn ra người đại diện, tham gia vào bộ máy quản lý làng xã.
Trước những quyết định hệ trọng, dân làng được hỏi ý kiến. Trong cơ chế này,
“luật pháp” của làng là những phong tục tập quán, tục lệ được hình thành trong
một quá trình lâu dài. Công cụ điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong cộng đồng
chủ yếu là dư luận, những lời đồn đại, thái độ khích lệ hoặc chê cười của dân làng.
Trong xã hội xưa, làng thậm chí còn áp dụng biện pháp phạt vạ hoặc một số hình
thức bêu riếu, hạ nhục trước tập thể (VD: cắt tóc bôi vôi, thả trôi sông người phụ
nữ chửa hoang)
=> Như vậy, tập thể có vai trò rất quan trọng đối với quá trình “lập pháp” và “hành
pháp” cũng như đối với “tư pháp” trong làng.
2.2: Đặc trưng thứ hai: thể chế làng xã khó chấp nhận những cái mới và
không có năng lực tự biến đổi trước sự biến động của hoàn cảnh xã hội.
- Hương ước, lệ làng là một loại sản phẩm văn hóa pháp lý do cộng đồng dân cư
nông nghiệp làng xã tự sáng tạo ra. Các cộng đồng cư dân làng xã đã sử dụng nó
làm thước đo chuẩn mực để phân biệt đúng sai, phải trái. Điều có ý nghĩa tích cực
và bổ ích là toàn dân làng biết sử dụng nó vào mục đích phát triển, bảo vệ sản xuất,
bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo đảm an ninh của cộng đồng tuy nhiên mặt tiêu cực
của hương ước, lệ làng là sự lỗi thời, lạc hậu.
- Những lệ làng bóp nghẹt mọi tiềm năng sáng tạo, mọi ý thức về cái tôi của chủ
thể. Nhân cách và tính đa dạng của nhân cách bị tan biến trong cộng đồng làng xã.
- PGS, TS Vũ Duy Mền (Viện Sử học Việt Nam) cho rằng: “Cách thức xây dựng
hương ước theo kiểu từ trên xuống hiện nay đang làm cho hương ước mất đi giá
trị, vì những quy định đó không gắn liền với quyền lợi và nhận thức trực tiếp của
người dân”
2.3: Đặc trưng thứ ba: tính tự quản.
1) Trước hết, tính tự quản thể hiện ở việc các thành viên giám sát lẫn nhau:
a) Điều này tạo thành một yêu cầu tự nhiên và là biện pháp quan trọng để duy trì kỉ
cương.
b) Thông qua kết cấu quản trị của làng xã, ta có thể hiểu rõ hơn về cách tính tự
quản vận hành như thế nào ( Tất cả các dân đinh trong làng đều có thể trực tiếp
tham gia vào giải quyết các công việc của xã kể cả một số công việc của nhà nước
trung ương).
*) Bộ máy quản trị làng xã gồm 2 cơ quan:

+) Cơ quan quyết nghị : hay còn gọi là hội đồng kỳ mục ( Hội đồng kì mục là
cơ quan quản lí truyền thống của làng xã người Việt ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ
), hội đồng kỳ hào, hội đồng làng, hội đồng xã,... Người được quyền tham gia hội
đồng kỳ mục là người hội tụ đủ các điều kiện được quy định trong hương ước làng
xã : cử nhân, tú tài, tiến sĩ đã hoặc đang làm quan.
+) Cơ quan chấp hành
2) Tính tự quản của làng xã còn thể hiện rất rõ trong mối quan hệ giữa làng xã với
chính quyền trung ương:
- Về nguyên tắc, vua hay triều đình không giao dịch trực tiếp với dân trong làng xã
=> Nhà nước quản lý làng xã phải thông qua đại diện làng xã.
3) Tuy nhiên, tính tự quản của làng xã dễ dàng biến thành tính tự trị.
- Ta có thể thấy trong lịch sử Việt Nam, sự có mặt của tầng lớp cường hào nhiễu
sách là do làng xã tự quản theo “ lệ” mà không dựa vào “ luật” của chính quyền
trung ương.
- Sự khốn quẫn của người nông dân trong cộng đồng làng xã tự trị được khắc sâu
trong tác phẩm của nhiều nhà văn như Tắt đèn ( Ngô Tất Tố), Lão Hạc ( Nam
Cao), …
=> Làng xã Việt Nam nổi lên như những ốc đảo tự trị.
2.4: Đặc trung thứ tư: chủ nghĩa cục bộ địa phương
Đặc điểm này bị uốn nắn theo quan điểm địa phương chủ nghĩa: phép vua thua lệ
làng. Hương ước được xem như “ Bộ luật” của làng xã. Nội dung của hương ước
bao gồm tất cả các quy tắc liên quan đến đời sống làng xã.

VD: Ở các làng xã Hà Nội xưa, bên cạnh "phép nước", để quản lý trật tự và nhân
đinh còn có "lệ làng" quy định cấm đánh bạc. Người vi phạm phải chịu những hình
phạt khác nhau theo từng vùng. Mặc dù các quy định trong làng xã cấm việc đánh
bạc, cũng như lên án hành đồng này, tuy nhiên, trong một năm vào những thời gian
nhất định, việc đánh bạc dường như được "làm ngơ" cho dân làng. Thời gian đầu
tiên kể đến là trong dịp tết cổ truyền của dân tộc. Trong ngày vui của cả làng (Hội
làng) việc đánh bạc cũng không bị cấm.

- Trong không gian làng xã, pháp luật bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
- Mọi vấn đề phát sinh đều có thể quy về “ giải quyết nội bộ”.

Nguồn:
soha.vn
Nhandan.com.vn
vanhoanghean.com.vn
Sách “Đại cương về Văn hóa Việt Nam” – TS. Phạm Thái Việt (Chủ biên)
Sách “Hương ước, lệ làng Quá khứ, Hiện tại, Tương lai”- luật sư Lê Đức Tiết

You might also like