You are on page 1of 34

Biến Đổi Khí Hậu : Tác Động Và Các Biện

Pháp Thích Ứng

I .TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ


GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM.

BĐKH đã trở thành vấn đề của sự phát triển các thay đổi diễn ra trong hệ
thống vật lí, hệ sinh hoạc và hệ thống kinh tế xã hội, đe dọa sự phát triển, đe
dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái → con người đang phải đối
mặt với nhiều vấn đề trong đó có BĐKH.

1.Biến đổi khí hậu là gì?

BĐKH là sự thay đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình trong một
khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỉ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do quá
trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài hoặc do các hoạt động của
con người làm thay đổi thành phần khí quyển hay trong khai thác và sử dụng đất.

- Theo ban liên chính phủ về BĐKH(IPCC) “BĐKH” là bất cứ thay đổi
nào của khí hậu so với thời gian, do đa dạng tự nhiên hay nguyên nhân từ con
người.

-Theo công ước khung của thế giới (UNFCCC) về BĐKH “Sự thay đổi khí
hậu trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của
khí quyển trái đất mà cùng với BĐKH tự nhiên đã quan sát trong một thời kì nhất
định

2.Những thách thức của con người đối với sự biến đổi khí hậu.

- An ninh lương thực: với tốc độ biến đổi khí hậu như hiện nay thì sản
lượng cây lương thực sẽ giảm khoảng 15%
- An ninh năng lượng : Vấn đề có thể ảnh hưởng lâu dài tới sự phát triển bền
vững của các quốc gia.
- Vấn đề nước sạch: Nhiệt độ toàn cầu tiếp tục tăng gây ra hạn hán ở nhiều
nơi sẽ đẩy thêm 50 triệu người trên thế giới rơi vào cảnh nghèo đói trong
vài thập kỷ tới do hạn hán.
- Bảo tồn đa dạng sinh học : tăng nguy cơ tuyệt chủng động thực vật biến
mất các nguồn gen quý hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh.

3.Tác nhân gây biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu trong thế kỉ qua đã và đang tiếp diễn hiện nay chủ yếu là do
con người gây ra. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc phát thải khí nhà kính
chủ yếu là CO2 và metan CH4 là nguyên nhân chủ hàng đầu của biến đổi khí hậu
đặc biệt là từ năm 1950 đến nay thế giới đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và tiêu
dùng , liên quan tới điều đó là tăng cường sử dụng các nguyên liệu hóa thạch như
than đá, dầu mỏ, sản xuất xi măng , phá rừng và gia tăng chăn nuôi gia súc ( phát
thải nhiều phân gia súc tăng nguồn metan).

Vào đầu thời kì cách mạng công nghiệp thế kỉ 19 hàm lượng CO2 trong khí
quyển khoảng 280ppm nhưng ngày nay đã đạt đến 380ppm và dự báo trước khi kết
thúc thế kỉ 21 có thể đạt tới 560ppm. Hàm lượng CO2 trong khí quyển hiện nay cao
hơn bất cứ thời kì nào trong 750 ngàn năm trước. Cùng với metan , sự biến đổi này
cũng làm tăng nhiệt độ khí quyển thêm từ 1,4 đến 5,6o C trong thế kỉ 21.

Hoạt động nông - nghiệp như trồng trọt , thủy lợi,phá rừng, khiến cho khả năng
hấp thụ nhiệt của mặt đất giảm đồng thời tăng phát thải khí metan liên quan đến chất
thải hữu cơ. Báo cáo của tổ chức FAO liên hợp quốc năm 2006 cho biết ngành chăn
nuôi toàn cầu phát xả đến 18% lượng CO2. Ngoài ra ngành chăn nuôi còn tạo ra
65% lượng oxit nito vố có khả năng tạo ra lượng tăng khí quyển cao hơn CO2 đến
296 lần, và 37% lượng metan toàn cầu vốn có khả năng làm tăng nhiệt độ khí quyển
cao hơn CO2 đến 23lần.
4.Kịch bản về BĐKH

Bảng 1: Kịch bản của biến đổi khí hậu toàn cầu theo IPCC năm 2007 đưa ra 6
kịch bản về biến đổi khí hậu.

Thay đổi nhiệt độ thời kì năm 2090- Dâng cao mực nước biển (m) vào thời
2099
kì 2090-2099 so với thời kì 1980-1999
So với thời kì 1980-1999
Các kịch bản Có khả năng cao nhất khoảngbiến khoảng biến thiên chưa tính đến biến
thiên
đổi của băng hà.
kịch bản B1 1,8 1,1-2,9 0,18-0,38
kịch bản A1T 2,4 1,4-3,8 0,2-0,45
kịch bản B2 2,4 1,4-3,8 0,2-0,43
kịch bản A1B 2,8 1,7-4,4 0,21-0,48
kịch bản A2 3,4 2,0-5,4 0,23-0,51
kịch bản A1F 4,0 2,4-6,4 0,26-0,59

Tính trung bình của cả 6 kịch bản thì đến cuôí thế kỉ XXI nhiệt độ rất nhiểu khả
năng tăng thêm 2,80C, mực nước biển dâng cao thêm 0,37m chưa tính đến sự tan
băng và tính đến sự dãn nở của nước các đại dương .IPCC cũng dự báo rằng cuối
thế kỉ 21 mực nước biển có thể tăng tối đa 81cm. Tuy nhiên thì các nhà khoa học
Anh cho rằng nước biển cuối thế kỉ 21 có thể tăng thêm 163cm tức là gấp đôi số liệu
dự báo của IPCC.

Chú ý rằng dự báo trên đây chưa tính đến sự nâng hạ của nền địa chất địa
phương.Tính địa phương của BĐKH thể hiện ở 1 số điểm sau đây:
- Sự ấm lên thể hiện rõ nhất ở các vùng đất có vĩ độ cao và thể hiện thấp nhất ở
các vùn đại dương phía nam bán cầu và bắc đại tây dương.

- Hiên tượng tan băng thể hiện rõ nhất ở những vùng đất băng giá và giảm đi ở
những vùng băng trên đại dương, khu vực bắc cực sẽ gần như biến mất hoàn toàn
vào cuối thế kỉ 21.

- Có nhiều khả năng xuất hiện thường xuyên các đợt nóng cực đoan, sóng, nhiệt
độ và mưa lớn.

- Gia tăng các đợt bão mạnh nhiệt đới nhưng không chắc sẽ giảm các cơn bão
nhiệt đới.

- Dịch chuyển các cơn bão nhiệt đới về phía 2 địa cực cùng với hiện tượng thay
đổi chế độ mưa gió và nhiệt độ.

- Tăng lượng mưa ở các vùng có vĩ độ cao nhưng có thể mưa sẽ giảm ở những
vùng đất cận nhiệt đới, điều này kích thích quá trình hoang mạc hóa ở các vùng này.

- Chắc chắn vào giữa thế kỉ 21 lượng mưa hàng năm và lượng nước sẽ tăng
thêm ở các vùng có vĩ độ cao ( và ở một số vùng nhiệt đới ẩm) và giảm đi tại một số
vùng khô hạn vĩ độ trung bình và nhiệt đới. Và cũng chắc rằng những vùng bán khô
hạn sẽ trở nên cực kì thiêú nước do BĐKH . Do can thiệp của các yếu tố địa phương
như trên nên trong bối cảnh của BĐKH chúng ta đã dự báo vùng bắc cực có thể tăng
tới 7,50C , phần lớn khu vực lục địa của các châu lục có thể tăng từ 4,0-4,5 oC , các
quốc gia của Đông Nam Á có thể tăng lên tới 2-2,5oC

5. BĐKH trên thế giới.

- BĐKH mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng ( do
nồng độ khí nhà kính tăng lên đáng kể) là một trong những thách thức lớn nhất đối
với nhân loại trong thế kỉ 21. .Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác
đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình
toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng thấy và đang là mối lo ngại của nhiều quốc
gia trên thế giới.

- BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường
trên toàn thế giới: đến năm 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2-4% , giá sẽ tăng
13-45% số người bị ảnh hưởng của nạn đói 36- 50%; mực nước biển dâng cao gây
ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp và gây rủi ro
lớn đối với hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai . Các công trình hạ tầng được
thiết kế theo tiêu chuẩn hiện tại sẽ khó an toàn và cung cấp đầy đủ các dịch vụ
trong tương lai.

- Dự tính đến năm 2030 ở các vùng Trung , Đông, Nam, Đông Nam Á đặc
biệt là ở khu vực sông lớn bắt đầu thiếu hụt vùng bờ đặc biệt là ở các châu thổ
sông lớn đông dân của Đông, Nam và Đông Nam Á chịu rủi ro cực lớn do gia tăng
ngập lụt vùng ven bờ, ở một số vùng châu thổ sông lớn còn kèm theo cả lũ sông.

- Nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị
nước biển nhấn chìm hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc Cực và Nam Cực.
Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người vào năm 2015 ít nhất có 21
thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm hoặc 1 phần .

-Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng theo thứ tự là
Trung Quốc, Ấn Độ , Bangladesh, Việt Nam, Indonexia, Nhật bản, Ai Cập, Hoa
kì, Thái Lan và Philippin.

6. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

- Ở Việt Nam trong khoảng 50 năm qua , nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng
0,7o C mực nước biển đã dâng khoảng 20cm. Hiện tượng El- Nino và La- Nina
ngày càng tác động mạnh mẽ tới Việt Nam. Biến đổi khí hậu thực sự đã làm cho
các thiên tai đặc biệt là bão lũ,hạn hán ngày càng ác liệt. Theo tính toán nhiệt độ
trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3o C và mực nước biển có thể dâng tới 1m
vào năm 2100,

- Theo đánh giá của ngân hàng thế giới Việt Nam là một trong 5 nước sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong đó vùng
đồng bằng sông Hồng và sông Mê Công sẽ bị ngập chìm nặng nhất . Nếu mực
nước biển dâng 1m thì sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, Tổn thất
đối với GDP khoảng 10% .Nếu nước biển dâng 3m có thể có khoảng 25% dân số
bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới khoảng 25% khoảng
40nghìn km 2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm , trong đó 80%
diện tích thuộc các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn toàn.

a. Thực trạng về biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951-2000) nhiệt độ trung bình
năm của Việt Nam đã tăng lên 0,7 0C . Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỉ gần
đây (1961-2000) cao hơn nhiệt độ trung bình năm của 3 thập kỉ trước đó (1931-
1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỉ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng,
TPHCM đều cao hơn trung bình của thập kỉ số-1940 lần lượt là 0,8; 0,4: 0,6 o C .
Năm 2007 nhiệt độ trung bình năm của cả 3 nơi đều cao hơn.

- Lượng mưa : trên từng địa điểm , xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình năm trong 9 thập kỉ qua ( 1911-2000) không rõ rệt theo các thời kì và trên các
vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Trên lãnh thổ
Việt Nam xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực.

- Mực nước biển : Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các
trạm Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy mực nước biển trung bình hang năm tăng lên
20cm phù hợp với xu thế chung của toàn cầu trong hai thập kỉ gần đây ( cuối XX
đầu XXI).Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56%
trung bình nhiều năm . Một số biểu hiện dị thường của biến đổi khí hậu diễn ra
gần đây nhất là KKL rét đậm rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.

- Bão: Vào những năm gần đây số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn ,
quỹ đạo bão gần dịch chuyển về hướng các vĩ độ phía Nam và mùa báo kết thúc
muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo chuyển hướng dị thường hơn.

- Số ngày mưa phùn : TBN ở Hà Nội giảm dần trong thập kỉ qua và chỉ còn
gần một nửa ( 15 ngày/ năm) trong những năm gần đây.

b.Nhận định về xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

- Nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 30C vào năm 2100.

- Lượng mưa có xu thế biến đổi không đều giữa các vùng , có thể tưng từ
( 0%- 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0%-5%) vào mùa khô. Tính biến động
của mùa mưa tăng lên.

-Mực nước trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên
100cm vào năm 2100.

c. Nhận định về xu thế tác động tiềm tàng của BĐKH đối với Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều tác động của BĐKH bao gồm các tác
động đến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên , cấu trúc xã hội, hạ tầng kĩ
thuật và nền kinh tế. Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia bị ảnh
hưởng nặng nề nhất của BĐKH và mực nước biển dâng. Để ứng phó với BĐKH
cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH

1.Tác động của BĐKH đến văn hóa thể thao du lịch

BĐKH có tác động trực tiếp đến các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch,
thương mại và dịch vụ và có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các tác động tiêu cực
đến các lĩnh vực khác như giao thông, vậi tải, xây dựng, nông nghiệp, công ngiệp,
sức khỏe cộng đồng…

Nước biển dâng ảnh hưởng đến các bãi tắm ven biển, một số bãi có thể mất
đi, một số khác bị đẩy sâu vào đất liền, ảnh hưởng đến việc khai thác, làm tổn hại
đến các công trình di sản văn hóa, lịch sử, các khu bảo tồn, các khu du lịch sinh
thái, các sân gôn vùng thấp ven biển và các công trình hạ tầng liên quan khác có
thể bị ngập, di chuyển hay ngừng trệ… làm gia tăng chi phí cho việc cải tạo, di
chuyển và bảo dưỡng

Nhiệt độ tăng và sự rút ngắn của mùa lạnh làm giảm sự thu hút của các khu
du lịch, nghỉ dưỡng nổi tiếng trên núi cao. Trong khi du lịch mùa hè có thể kéo dài
thêm.

2.Tác động của BĐKH đến công nghiệp và xây dựng

Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, phát triển nhanh trong quá trình
công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Các khu công nghiệp là các cơ sở kinh tế quan trọng của đất nước đang và
sẽ được xây dựng nhiều ở vùng đồng bằng phải đối diện nhiều hơn với nguy cơ
ngập lụt và thách thức trong thoát nước do nước lũ từ sông và tăng mực nước biển.

Vấn đề này đòi hỏi các đánh giá và tăng đầu tư lớn trong xây dựng các khu
công nghiệp và đô thị, các hệ thống đê biển, đê sông để bảo vệ các hệ thống tiêu
thoát nước
Áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro, đặc biệt những khu công
nghiệp có rác thải là hóa chất độc hại được xây dựng trên vùng đất thấp.

BĐKH làm tăng khó khăn trong việc cung cấp nước cho các ngành công
nghiệp và xây dựng như dệt may chế tạo, khai thác và chế biến khoáng sản, nông,
lâm, thủy hải sản, xây dựng công nghiệp và dân dụng, điện hạt nhân….

Các điều kiện khí hậu cực đoan cùng với thiên tai làm giảm tuổi thọ của các
vật liệu, linh kiện, máy móc, thiết bị và các công trình giảm đi, đòi hỏi chi phí tăng
lên để khắc phục.

BĐKH đòi hỏi các ngành này phải xem xét lại quy hoạch, các tiêu chuẩn kĩ
thuật, tiêu chuẩn ngành nhằm thích ứng với BĐKH .

3.Tác động của BĐKH đến nông nghiệp và an ninh lương thực.

BĐKH có ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm
tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh cho cây trồng, ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản
của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia
cầm

Ngành nông nghiệp phải đối mặt lớn với nhu lớn về phát triển giống cây
trồng và vật nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro do BĐKH và các hiện tượng khí hậu cực
đoan.

BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực
đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc các thiên tai liên quan
đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô, nóng, lũ, ngập úng hay hạn hán, rét hại,
xâm nhập mặn, sâu bệnh làm giảm năng suất của cây trồng, vật nuôi.

BĐKH làm tăng nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Một phần đáng
kể diện tích đất nông nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, đồng bằng sông
Hồng, đồng bằng sông Cửu Long bị ngập mặn do nước biển dâng nếu không có
biện pháp ứng phó thích hợp

4.Tác động của BĐKH đến lâm nghiệp.

Do ảnh hưởng của BDKH hệ sinh thái rừng biến đổi theo các chiều hướng
khác nhau.

Nước biển dâng làm giảm diện tích rừng hiện có, tác động xấu đến rừng
tràm và rừng trồng trên đất phèn ở các tỉnh Nam Bộ.

Ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể bị dịch chuyển
nhiệt độ cao, nguồn ánh sáng dồi dào thúc đẩy quá trình quang hợp, dẫn đến tăng
quá trình đồng hóa của cây xanh

Nguy cơ tuyệt chủng của động vật và thực vật có thể gia tăng, một số loài
thực vaath quan trọng như trầm hương, powmu, gỗ đỏ, lát hoa có thể bị suy kiệt

Nhiệt độ và hạn hạn tăng làm gia tăng nguy cơ cháy rừng

5.Tác động của BĐKH đến thủy sản

Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gây ra các hậu quả sau đây

- Nước mặn lấn sâu vào nội địa gây mất nơi sống của một số loài nước ngọt
- Rừng ngập mặn bị thu hẹp gây ảnh hưởng đến một số loài thủy sản
- Khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái dong biển giảm dẫn đến
giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và cung cấp chất dinh dưỡng
cho sinh vật đáy

+ Nhiệt độ tăng dẫn đến một số hậu quả sau:

- Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thủy vực đứng ảnh
hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật
- Một số loài di chuyển lên phía Bắc hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi phân
bố thủy sinh vật theo chiều sâu

- Quá trình quang hóa và phân hủy các chất hữu cơ nhanh hơn, ảnh hưởng đến
nguồn thức ăn của sinh vật.

- Suy thoái và phá hủy các rạn san hô, thay đổi các quá trình sinh lý sinh hóa
diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh gữa san hô và tảo
- Cường độ và lượng mưa lớn làm cho hàm lượng muối giảm đi dẫn đến sinh
vật nước lợ và ven bờ bị chết hàng loạt do không chịu nổi hàm lượng muối
thay đổi

* BĐKH gây ảnh hưởng với nghề cá

- Nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa, thủy sinh thay đổi làm
cho các quần thể cá thay đổi làm giảm năng suất, trữ lượng giảm sút
- Nhiệt độ tăng làm cho nguồn lợi thủy sản bị phân tán. Các loài cá cận nhiệt
đới có giá trị cao bị giảm hoặc mất hẳn. cá ở các rạn san hô đa phần bị mất
hẳn
- Nác loài thực vật nổi mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi
bị hủy diệt làm giảm mạnh động vật nổi do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ
yếu cho của các động vật tầng giữa và tầng trên.

6.Tác động của BĐKH đến năng lượng

☺Nước biển dâng gây các hậu quả sau đây

- Ảnh hưởng đến các dàn khoan được xây dựng trên biển, hệ thống dẫn khí
và các nhà máy điện chạy khí được xây dựng trên biển làm tăng chi phí bảo
dưỡng, duy tu, vận hành máy móc…
- Các trạm phân phối điện trên các vùng ven biển phải tăng thêm năng lượng
tiêu hao cho việc bơm tiêu nước ở các vùng ven biển, mặt khác dòng chảy
của các sông lớn có các công trình thủy điện cũng bị ảnh hưởng

☺Ảnh hưởng của nhiệt độ tăng:

- Tăng chi phí thông gió, làm mát các hầm lò và làm giảm hiệu suất, sản
lượng của các nhà máy điện
- Tiêu thụ điện sinh hoạt tăng, và chi phí làm mát cho các ngành công
nghiệp, giao thông, thương mại và các lĩnh vực khác cũng gia tăng đáng kể
- Ảnh hưởng đến lượng nước của các hồ thủy điện

7.Tác động của BĐKH đến giao thông vận tải

Có ảnh hưởng tiêu cực đến giao thông vận tải, một ngành tiêu thụ nhiều
năng lượng và phát thải khí nhà kính không ngừng tăng lên trong tương lai
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kì CNH – HDH, việc
kiểm soát và hạn chế phát thải khí nhà kính đòi hỏi ngành phải đổi mới và áp
dụng các công nghệ ít chất thải và công nghệ sạch.

Để ứng phó với BĐKH và nước biển dâng và các thiên tai gia tăng ngành
GTVT cần quy hoạch và thiết kế lại các hệ thống GTVT trên đất liền, trên
biển, ven biển, bến cảng, kho bãi, luồng lạch… xây dựng các tiêu chuẩn quy
phạm phù hợp với BĐKH.

Nhiệt độ tăng làm tiêu hao năng lượng động cơ trong đó có yêu cầu làm
mát thông gió trong các phương tiện giao thông cũng góp phần làm tăng chi
phí trong ngành GTVT

8.Tác động của BĐKH đến con người và sinh vật.

a. Ảnh hưởng đến con người


Khi nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp,dịch vụ
chung quy lại thì cũng là tác động đến cuộc sống con người .Nhưng điều chúng tôi
muốn nói ở đây là những tác động trực tiếp đến sức khỏe,nhà ở, di cư,các vấn đề
mang tính xã hội như chiến tranh giành nguồn nước,thức ăn………

+Kết quả nghiên cứu về tác động biến đổi khí hậu lên con người do tổ chức
Global Humanitarian Forum của cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan vừa
công bố cho biết, hiện nay, biến đổi khí hậu đã cướp đi mạng sống của 300.000
người mỗi năm và ảnh hưởng đến cuộc sống của 300 triệu người trên trái đất do
tác động của những đợt nắng nóng, lũ lụt và cháy rừng gây ra.

- Ông Kofi Annan nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là một cuộc khủng hoảng
nhân đạo thầm lặng. Vì vậy, đó là thách thức nhân đạo lớn nhất trong thời đại của
chúng ta”.

+Như chúng ta đã biết biến đổi khí hậu đã gây ra sự thay đổi chế độ khí hậu
ở nhiều nơi trên thế giới dẫn đến sự chuyển dịch của các đới khí hậu.Nhiều bệnh
lạ ,mới sinh ra và đã “toàn cầu hóa” nhiều bệnh mà trước đây chỉ xảy ra ở những
khu vực địa lý nhỏ(12 bệnh dịch nguy hiểm do Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang
dã liệt kê là các căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được dự báo là sẽ lan truyền do
hiện tượng thay đổi khí hậu ví dụ như cúm gia cầm,sốt xuất huyết,tiêu chảy,bệnh
sốt vàng da,cúm H1N1 và bệnh sat………..)

+Làm thay đổi nhịp sinh học của con người như nhịp điệu mùa,và các phản
ứng của con người trước các điều kiện bất lợi của môi trường chậm do chúng xảy
ra thất thường,con người dễ bị nhiễm bệnh(sức đề kháng của con người giảm)

+Ngoài ra, BĐKH còn dẫn đến hậu quả xấu về sức khoẻ tinh thần ở các
cộng đồng nông dân phải trải qua tình trạng hạn hán, suy giảm về sản lượng lương
thực... do đó gây ra suy giảm sức khoẻ dinh dưỡng.
- Theo UNEP ước tính thì hàng năm biến đổi khí hậu trên thế giới gây tổn
thất về năng suất lương thực tới 42 tỷ USD.

- Liên hợp quốc cho hay năm 2008, khoảng 1 tỷ 100 triệu người trên thế
giới bị đói tăng hơn 100 triệu so năm 2007 do cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Cơ quan lương thực Liên hợp quốc (FAO) cho rằng con số này lớn đến mức kỷ lục

+Khí hậu nóng lên làm gia tăng sự phát triển của các loài vi sinh vật gây
bệnh.Một số loài biến đổi tạo nên các chủng mới thích ứng với điều kiện khí hậu
ấm nên nhanh chóng lây lan trên toàn cầu .Một số khác biến đổi chuyển từ động
vật sang người( vi rut cúm gia cầm,e.coli,thương hàn…….)

+Biến đổi khí hậu là môi trường để một số bệnh gia tăng.

Mặc dù bệnh sốt rét, các bệnh liên quan đến côn trùng hiện đã được khống
chế ở các nước nhiệt đới. Nhưng nếu nhiệt độ tăng lên, muỗi mang mầm bệnh sốt
rét sẽ phát triển, sống lâu hơn. Theo một báo cáo của Trung tâm Dịch tễ học và
Sức khỏe của Australia, sẽ có khoảng 20 đến 80 triệu người sống trong những
vùng dịch sốt rét đến năm 2080

+Theo thống kê nếu mực nước biển dâng cao 1m thì 322 triệu người trên
thế giới mất nhà cửa, chủ yếu là dân cư sống ở những vùn đất trũng ven
biển(Riêng tại việt nam việc nước biển dâng cao có thể khiến22 triệu người mất
nhà. Một phần lớn diện tích của đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có thể bị
ngập lụt do nước biển dâng, theo các chuyên gia cảnh báo. )
+Vấn đề lương thực lại đặt ra khi biến đổi khí hậu năng suất nông nghiệp
giảm,nhiều loài sinh vật bị tiệt chủng,hệ sinh thái rừng và biển suy thoái đây là
nguồn cung cấp thức ăn lớn cho khu vực dân nghèo()

+Khi các nguồn tài nguyên đặc biệt là nước và đất bị thiếu hụt sẽ gây ra
những biến động lớn trong xà hội loài đó là chiến tranh.Chiến tranh giành nguồn
nước giữa các cộng đồng người trong điều kiện nguồn tài nguyên này cạn kiệt,hạn
hán.Còn về đất khi mực nước biển dâng lên một phần lớn diện tích đất đai ven
biển bị nhán chìm những cộng đòng người này sẽ phải đi tìm nguồn đất mới dãn
tới những xung đột(Điều này đã được bàn luận trong cuộc hội thảo ở Caen (1999))

+Thiên tai thường xuyên xảy ra dãn đến người nghèo ngày càng nghèo
hơn.Sa mạc hóa,hạn hán,bão……..khiến nhiều vùng đất trở thành đất chết,con
người không thể sinh tồn ở đó nên họ phải di cư(tị nạn môi trường)

+Tuy nhiên vấn đề này gây ảnh hưởng nhiều nhất ở các nước đang phát
triển và các nước ở thế giơi thứ ba.Nguyên nhân do điều kiện y tế không đảm
bảo,nghèo đói,điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Theo bản báo cáo, 99% người dân
chết vì những nguyên nhân gắn với thay đổi khí hậu sống ở những nước đang phát
triển, trong khi đó những người này thải ra môi trường dưới 1% tổng lượng khí
gây hiệu ứng nhà kính. 98% những tổn thất kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra sẽ
rơi vào các nước đang phát triển và dân cư tại tiểu vùng Sahara, Trung Đông và
Nam Á và một số đảo nhỏ thuộc Thái Bình Dương.

+Trẻ em và người già là những đối tượng chịu tác động mạnh nhất

b)Ảnh hưởng đến sinh vật

+Làm giảm đa dạng sinh học các loài:

- Ở biển san hô chết trắng ngày càng nhiều,nhiều khu vực được mệnh danh
là rừng nhiệt dới dưới biển với nhiều loài cỏ biển ,sinh vật quý biến mất.Do các
thủy vực ấm lên bất thường gây ra hiện tượng “tẩy trắng” san hô,ít nhất một nửa
lượng san hô đã mất trong nửa sau thế kỷ XX.Cho đến nay ,trên toàn cầu san hô
đang mất dần với tốc độ 1%/năm,gấp 2 lần tốc độ biến mất của rừng mưa nhiệt
đới.Vỉa hô lớn nhất nằm ở eo biển Australia có đang bị ảnh hưởng lớn

- Biến đổi khí hậu gây biến dị,đột biến gen ở một số loài động vật ,xuất
hiện nhiều giống sinh vật ngoại lai gây ảnh hưởng đến các loài sinh vật và hệ sinh
thái bản địa (ví dụ như ốc bưu vàng ở Việt Nam,hải ly…..).Các loài sinh vật ngoại
lai này chúng thường bắt đầu xâm nhập vào những hệ sinh thái nhạy cảm,kém bền
vững như cửa sông,bãi bồi,hệ sinh thái nông nghiệp độc canh.Do chúng có khả
năng sản xuất nhanh,biên độ thúc ăn rộng,vùng phân bố lớn,có khả năng phát tán
thích ứng nhanh với những thay đổi về khí hậu,khả năng cạnh tranh cao,nên chúng
sẽ cạnh tranh ngăn cản khả năng sinh sản,phát triển của loài bản địa dẫn tiêu diệt
loài và cao hơn nữa có thể tiêu diệt hệ sinh thái bản địa.

- Gây gia tăng suy thoái các loài cây dại làm giảm nguồn gen quý để lai tạo
các giống mới.hiện nay trên thế giới khoảng ¼ trong tổng số 40 loài khoai tây dại
đã biến mất.

- Không chỉ có các loài động vật bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu mà
các loài thực vật còn bị ảnh hưởng mạnh hơn.Do các cơ chế thích ứng với sự thay
đổi khí hậu chậm muốn xây dựng phải qua hàng trăm năm,còn động vật thì có thể
thích ứng nhanh hơn do chúng có thể di chuyển,di trú khi gặp điều kiện bất
lợi.Theo ước tính dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong vài chục năm tới 9%
các loài thực vật sẽ bị tuyệt chủng.

- Theo báo cáo của hơn 1395 nhà khoa học đến từ 95 quốc gia trong báo
cáo đánh giá thiên niên kỷ về hệ sinh thái thì chúng ta đang phải chứng kiến một
làn sóng tiệt chủng lớn nhất kể từ khi loài khủng long trên trái đất biến mất.Mức
độ tiệt chủng tăng lên theo con số gấp 1000 lần tỷ lệ tuyệt chủng cơ sở.Cứ mỗi
ngày có 150 loài bị mất đi,cứ mỗi năm có khoảng 18000-55000 loài bị tuyệt chủng
trên thế giới

-Theo báo cáo của ủy ban bảo vệ động thực vật hoang dã thì với tốc độ tan
băng như hiện nay thì loài gấu Bắc Cực nói riêng và các sinh vật sống ở khu vực
này này như chim cánh cụt,hải cẩu……nói chung sẽ bị tuyệt chủng trong vài chục
năm nữa.Nguyên nhân là do mất nơi cư trú và kiếm ăn.
+ Nhiều loài đã phải thay đổi vùng phân bố và chu kỳ sống của chúng để
thích ứng với biến đổi khí hậu.Do các đới khí hậu bị chuyển dich về 2 cực

+Vùng phân bố của nhiều loài chim,cây,cá,côn trùng bị di chuyển lên phía
bắc và các vùng cao hơn.Nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn,nhiều loài chim bắt
đầu mùa di cư sớm hơn.Nhiều loài côn trùng xuất hiện nhiều hơn ở Bắc bán cầu

Việt Nam được coi là một trong 15 trung tâm đa dạng sinh học cao của thế
giới.Có sự đa dạng về thành phần loài,kiểu gen,các cảnh quan sinh thái.Có nhiều
loài quý hiếm có tên trong sách đỏ như sếu đầu đỏ ,bò tót,vooc trắng,đồi mồi.Vì
vậy vấn đề suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam sẽ rất nghiêm trọng dưới tác
động của biến đổi khí hậu

+Nhiều loài sinh vật thích nghi với khí hậu ấm hơn sẽ phát triển một cách
rầm rộ thì sẽ không có cách nào kìm hãm nổi gây ra sự mất cân bằng trong hệ sinh
thái.Nhất là các loài vi khuẩn virut gây bệnh sẽ tạo ra các dịch bệnh lớn ở quy mô
toàn cầu.Các loài động vật chịu nóng tốt sẽ phát triển và ngày càng mở rộng phạm
vi cư trú

III. CÁC BIỆN PHÁP THÍCH ỨNG VÀ GIẢM THIỂU NHỮNG TÁC
ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1. Những biện pháp giảm thiểu tác động của BĐKH .

Để giảm tác động của biến đổi khí hậu chúng ta phải giảm nguyên nhân gây
tra biến đổi khí hậu. Đó là các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính,giảm ô
nhiễm,suy thoái rừng, biển những bể lọc CO2 tự nhiên.Muốn vậy ta phải tăng
cường áp dụng công nghệ sạch trong công nghiệp, tìm nguồn năng lượng sạch ,
trong nông nghiệp tăng diện tích che phủ rừng, giảm phát thải CH4 từ chăn
nuôi,phát triển khoa học kỹ thuật nhằm tìm ra những biện pháp thu CO2.Tuy
nhiên trong tình hình hiện nay biến đổi khí hậu đã tác động đến chúng ta vì vậy để
có thể giảm thiểu tác động từ biến đổi khí hậu ta phải có cơ chế quản lý như tăng
cường dự báo,phòng chống thiên tai, xây đê ngăn nước biển, xây đập tích nước
phòng hạn,thay đổi chế độ mùa vụ.

a. Những biện pháp khoa học công nghệ và kỹ thuật

+Phát triển công nghệ sạch trong công nghiệp đó là sử dụng máy mác trang
thiết bị hiện đại không sử dụng nhiên liệu hóa thạch,tăng hiệu suất sử dụng nhiên
liệu giảm lượng khí thải,phát triển các dòng sản phẩm thân thiện với môi trường
như tủ lạnh không dùng CFC,xe ô tô chạy bằng hidro

+Tìm ra những nguồn năng lượng sạch như gió,mặt trời,sóng,nhiên liệu
sinh học .Đây là những nguồn năng lượng vô hạn trong quá trình sản xuất và sử
dụng không tạo ra khí nhà kính và ô nhiễm môi trường

+Tăng diện tích che phủ rừng,trồng rừng vừa phát triển lâm nghiệp,vừa
giảm CO2 do rừng là là phổi xanh của trái đất,thông qua hoạt động quang hợp cây
đã hấp thụ CO2 đồng thời thải ra O2

+Giảm phát thải CH4 từ hoạt động chăn nuôi và trồng trọt (nhất là trồng lúa
nước) có thể xây dựng các hầm biogas để thu CH 4 từ phân động vật và phế phụ
phẩm nông nghiệp. Dùng CH4 để nhiên liệu sưởi ấm hoặc tạo điện

-Ước tính lượng khí nhà kính mà nông nghiệp toàn cầu tạo ra hàng năm
bằng 20% tổng lượng khí nhà kính do loài người phát thải ra

+Tìm ra những giải pháp mới hấp thụ CO2 ví dụ biện pháp chôn CO2 xuống
đáy biển,hấp thụ CO2 bằng vật liệu mới.

Tuy nhiên nếu biện pháp cắt giảm này không hiệu quả chúng ta phải tính
đến những giải pháp cuối cùng mang tính sống còn đối với tương lai của cả hành
tinh.Các nhà khoa học đã nghĩ đến biện pháp Geoengineering .đây là biện pháp
làm mát trái đất.
+Biện pháp Geoengineering : đây là biện pháp làm mát trái đất bao gồm
2 kỹ thuật(SRM) và (CDR)

Theo báo cáo mới (do Viện hàn lâm khoa học  Vương quốc Anh, Royal
Society, công bố ngày 1 tháng 9  vừa qua) đã chỉ ra rằng trừ khi các nỗ lực giảm
thiểu lượng khí nhà kính thải ra thành công  vượt bậc so với hiện tại,nếu không
con người  sẽ cần tiến hành nhiều biện pháp geoengineering để làm mát Trái đất.
Tuy nhiên, báo cáo đã xác định những rủi ro tiềm tàng liên quan tới hiệu quả, chi
phí kinh tế  và tác động môi trường  của những biện pháp này.

Do giáo sư John  Shepherd, người đứng đầu nghiên cứu  về geoengineering


của Viện Royal Society. Kĩ thuật geoengineering cùng các hệ quả của nó chính là
cái giá con người  phải trả cho thất bại của mình trong việc ngăn chặn biến đổi khí
hậu.”

Báo cáo tiến hành đánh giá  hai dạng kĩ thuật geoengineering chính – Loại
bỏ Cacbon Dioxit (CDR) và Điều khiển Bức xạ ánh sáng mặt trời (SRM). Các kĩ
thuật CDR nỗ lực đưa Trái đất trở lại trạng thái bình thường; chúng tập trung vào
nguồn gốc của vấn đề (lượng CO2 đang tăng lên nhanh chóng trong khí quyển), do
đó chắc chắn hơn và ít rủi ro hơn. Chúng được coi là khả dĩ hơn các biện pháp
SRM, mặc dù cả hai nhóm này đều chưa thực sự hiệu qủa so với chi phí bỏ ra, với
điều kiện những tác động phụ đối với môi trường  ở mức có thể chấp nhận.

+Các kĩ thuật SRM hoạt động  bằng cách phản chiếu lại năng lượng mặt
trời, không cho chúng tiếp cận được mặt đất. Điều này đồng nghĩa với giảm nhiệt
độ Trái đất một cách nhanh chóng, nhưng không giảm được lượng khí CO 2. Do
đó, chúng không có tác dụng giải quyết các tác động rộng hơn của việc tăng lượng
CO2,ví dụ như axit hóa đại hóa, và cần được áp dụng trong một khoảng thờigian
dài. Mặc dù kinh phí bỏ ra tương đối thấp, nhóm biện pháp này vẫnchứa những rủi
ro đáng kể về các tác động phụ, và chúng chỉ giảm được một vài trong số những
tác động của biến đổi khí hậu, trong khi lại ẩnchứa nhiều tác hại tiềm tàng. Báo
cáo kết luận rằng các kĩ thuật SRMchỉ hữu ích khi chúng ta buộc phải giảm nhanh
nhiệt độ Trái đất, và rằng đây không phải là cách thay thế cho các nỗ lực giảm
thiểu lượngkhí thải hay các biện pháp CDR.

Giáo sư Shepherd lưu ý thêm, “Không có bất kì công nghệ geoengineering


nào thực sự là một phép màu cho nhân loại, và mọi biện pháp đều có những bất
trắc, rủi ro đi kèm. Điều quan trọng  hàng đầu làchúng ta tiếp tục nỗ lực cắt giảm
lượng khí thải, đồng thời sẵn sàngđối mặt với trường hợp xấu nhất  nếu chúng ta
thất bại. Trong trường hợp sau, công nghệ  geoengineering sẽ là lựa chọn duy nhất
cho tương lai. Dovậy ngay từ bây giờ cũng cần nghiên cứu  và phát triển một cách
nghiêmtúc các biện pháp khác nhau, các tác động của chúng đối với môi trườngvà
các vấn đề quản lí liên quan. Nếu sử dụng các biện phápgeoengineering một cách
vô trách nhiệm hoặc không lưu tâm tới tác động bên lề, rất có thể loài người sẽ lại
phải đối mặt với những hậu quả thảm khốc tương tự như biến đổi khí hậu. Chúng
ta cần có sẵn một khungquản lý rõ ràng để phòng ngừa điều này xảy ra.”

+Trong số các kĩ thuật CDR được đưa ra, những biện pháp sau được xem
tiềm năng hơn cả:

• Tách khí CO2 trong không khí và lưu trữ  chúng - đây là một biện pháp
geoengineering rất được quan tâm  do nó làm thayđổi trực tiếp  nguyên nhân  của
biến đổi khí hậu.

• Tăng cường phong hóa - đây là biện pháp tận dụng các phản ứng tự nhiên  của
CO2 trong không khí với đá và các chất khoáng, và được xem như một lựachọn
dài hạn khả quan.

• Sử dụng đất và trồng rừng – báo cáo chỉ ra rằng quản lý việc sửdụng đất đóng vai
trò tuy nhỏ nhưng quan trọng  trong việc giảm mức tăngCO2 trong khí quyển.

+Khi nhiệt độ tăng tới mức báo động và cần đến những biện pháp nhanh
chóng hơn, các kĩ thuật SRM sau đây tỏ ra khả quan  hơn cả:
• Phun sulfur vào tầng bình lưu để tạo ra các đám mây bức xạ ánhsáng mặt trời –
đây là một biện pháp khả thi, các đợt phun trào núi lửatrong quá khứ chính là
những cuộc thử nghiệm  sơ bộ ngắn hạn cho mức độhiệu quả của biện pháp này.
Chi phí được đánh giá  là tương đối thấp vàthời gian thực hiện ngắn. Tuy nhiên,
vẫn có nhiều câu hỏi  lớn xung quanh tác động phụ cần được trả lời, đặc biệt là
việc phá hủy tầng bình lưu.

• Các biện pháp liên quan thông số suất phản chiếu (albedo) của mây,tăng lượng
mây

• Các biện pháp liên quan thông số suất phản chiếu của mặt đất (cáckỹ thuật SRM,
bao gồm sơn trắng mái nhà, trồng cây có khả năng phảnchiếu ánh sáng và đặt
gương phản quang trên sa mạc) – đây là những biệnpháp tỏ ra không mấy hiệu
quả, chi phí đắt đỏ và, trong một số trườnghợp, có thể gây ra những tác động
nghiêm trọng tới thời tiết trong vùng.

b. Giải pháp về quản lý

+Quản lý thiên tai để giảm tác động :Cần phải xây dựng và thực hiện hiệu
quả các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại trước,trong,sau thiên tai xảy
ra

- Nghiên cứu phân tích thiên tai xảy ra ảnh hưởng của nó đến con người từ
đó tuyên truyền tăng cường nhận thức của người dân

- Xem xét gốc rễ vấn đề giải quyết nguyên nhân

- Dự báo,chuẩn bị sẵn sàng,hành động khẩn cấp,kịp thời.hiệu quả khi thiên
tai xảy ra

-Khôi phục đời sống sau thiên tai


Việt nam là một nước nằm trong khu vực trung tâm bão phía tây thái bình
dương ,việt nam hằng năm phải hứng chịu một số lượng bão lớn cả về tần suất và
cường độ ngoài ra còn có lốc,lũ,sét…….Vì vậy công tác quản lý phòng tránh giảm
thiểu những tác động lớn của thiên tai càng phải chú trọng

+Giải pháp về cơ chế phát triển sạch (CDM -Clean Development


Mechanism) là cơ chế hợp tác được thiết lập trong khuôn khổ nghị định thư
Kyoto(Nhật Bản) tháng 12 năm 1992 nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hướng gia
tăng phát thải khí nhà kính đưa ra các mục tiêu giảm phát thải chính và thời gian
thực hiện cho các nước phát triển, theo đó các nước phát triển hỗ trợ, khuyến
khích các nước đang phát triển thực hiện các dự án thân thiện với môi trường,
nhằm phát triển bền vững.

+Theo đó các các quốc gia có hoạt động trồng rừng sẽ được hỗ trợ từ nước
muốn phát thải khí nhà kính với giá từ 3-4 USD trên 1 tấn CO2.

+Xây dựng các con đê ven biển để ngăn cản xâm nhập mặn.Ở Anh ,một kế
hoạch quản lý lũ bảo vệ Lon Don và cửa sông Thêm trong 100 năm tới với 9 con
đê được xây dựng để bảo vệ 337 Km bờ biển .Việt Nam cũng đang có dự án xây
dựng những đập ngăn nước biển này

+Đối với mùa màng phải quản lý thay đổi để hạn chế những tác động của
biến đổi khí hậu.Cải tạo đất nghèo dinh dưỡng nằm sâu trong lục địa để phát triển
nông nghiệp.Thu hoạch trước bão,lũ tránh tổn thất

+ Công nghiệp thì sử dụng vật liệu chống ăn mòn axit.Kh xây dựng cần
tính đến tác động của biến đổi khí hậu
2. Các biện pháp thích ứng với BĐKH

a. Thích ứng với BĐKH:

- Là một quá trình, qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của
khí hậu đến sức khỏe, đời sống đồng thời sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi
trường mang lại.

Thích ứng với khí hậu hiện tại không đồng nghĩa với sự thích nghi với
BĐKH trong tương lai.

Sự thích ứng diễn ra ở cả trong tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội.

b. Các phương pháp thích ứng.

 Chấp nhận sự tổn thất: phương pháp thích ứng này là phản ứng cơ bản
“không làm gì cả”
 Chia sẻ tổn thất: chia sẻ tổn thất giữa cộng đồng dân cư, bảo hiểm.
 Làm thay đổi nguy cơ: giảm nhẹ BĐKH.
 Ngăn ngừa các tác động: thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động
của BĐKH và bất ổn cùa khí hậu.
 Thay đổi cách sử dụng: BĐKH khiến các hoạt động kinh tế không thể thực
hiện được thì có thể thay đổi cách sử dụng.
 Thay đổi/chuyển địa điểm: thay đổi/ chuyển địa điểm các hoạt động kinh tế.
 Nghiên cứu: Phát triển công nghệ mới và phương pháp mới về thích ứng.
 Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: phổ biến kiến thức
thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục dẫn đến việc thay đổi
hành vi.

c. Một vài ví dụ về hoạt động thích ứng với BĐKH.


 Ở Hà Lan: thiết kế các công trình có tuổi thọ dài hạn ven biển sẽ xét thêm
50cm do nước biển dâng.
 Đến 2015 lũ thiết kế trên sông Rhine sẽ tăng từ 15.000m3/s16.000m3/s
và dự báo sẽ tăng tới 18.000m3/s trong những năm tiếp theo.
 Ở Anh: thiết kế lũ bảo vệ London và cửa sông Thames trong 100 năm tới.
Chuẩn bị xây dựng 9 đê bao và 337 km đường biển.

Tần suất lũ thiết kế tăng 20% để đối phó tác động của BĐKH.

 Ở nước ta.

a) Trong lĩnh vực nông nghiệp

 Sử dụng giống lúa ngắn ngày, chịu hạn tốt và ít sâu bệnh.

Giống lúa PC6 (do Viện cây Lương thực - cây thực phẩm lai tạo và chọn
lọc) ngắn ngày, thích hợp cho sản xuất vụ hè thu tại các tỉnh miền Trung. Giống đã
được đưa vào khảo nghiệm thành công và được đánh giá là giống mới có nhiều
triển vọng trong sản xuất…

Về quá trình sinh trưởng và khả năng chống chịu, giống PC6 có thời gian
sinh trưởng ngắn (85 đến 87 ngày), phù hợp với sản xuất vụ hè thu tại tỉnh Quảng
Bình. Chiều cao cây trung bình từ 91- 96 cm, thân lá cứng, bộ lá gọn thẳng đứng,
chống đổ và chống chịu sâu bệnh khá (chưa thấy xuất hiện rầy nâu và khô vằn),
chịu thâm canh, chua phèn và có khả năng thích ứng rộng trên các chân đất khác
nhau.

Giống PC6 đẻ nhánh khá, tổng số hạt chắc trên bông cao, từ 80- 90 hạt/ bông
(ruộng gieo, ruộng cấy); tỷ lệ hạt lép trung bình 21%; cho năng suất từ 50-51
tạ/ha, cao hơn so với giống IR50404 và CN2 từ 7 đến 10%. Ngoài ra, gạo PC6 có
dạng hạt dài, trong, không bạc bụng, cơm mềm, chất lượng ngon hơn hẳn giống
IR50404 và CN2.
 Rút ngắn chu kỳ sản xuất chiếm ruộng bằng biện pháp kỹ thuật làm mạ

Thời gian chiếm ruộng có thể rút còn 70 ngày như mô hình đã thực hiện ở
huyện Châu Thành và Càng Long, tỉnh Trà Vinh năm 2000 với giống lúa cao sản
xuất khẩu OMCS 21 chỉ trên 80 ngày, mạ làm trên vỉ plastic với những lỗ đựng
đất mầu cho từng khóm gồm 2-3 cây mạ. Mạ 12-14 ngày tuổi được bóc ra khỏi vỉ
plastic để tung/ném (mạ ném), vẫn đạt 6-8 tấn/ha. Kỹ thuật gieo thẳng lúa kéo dài
thời gian vụ lúa chiếm ruộng vì gồm cả thời kỳ mạ trên ruộng, nhất là đối với lúa
xuân ở miền Bắc. Nhưng dùng giống lúa cực sớm, nhất là làm trong vụ mùa, gieo
trồng bằng máy gieo lúa theo hàng như ở Nam bộ còn giải quyết được khâu khan
hiếm lao động cấy lúa.  

 Dùng giống lúa cao cây dài ngày mẫn cảm chu kỳ sáng để sống chung với

Giống lúa sống chung với lũ là lúa nước sâu cao 170-180 cm và nhất là lúa
nổi ở ĐBSCL hay lúa ngoi ở Quảng Bình, chiều dài tới vài mét. Ở ĐBSCL đã có
hàng chục giống lúa nổi mẫn cảm với chu kỳ sáng. Người nông dân gieo gối vào
vụ mầu xuân hè. Thu hoạch mầu (đậu đỗ, rau củ quả, ngô...) xong thì lũ về, lúa
ngoi lên dần, cho đến khi mỗi ngày dài thêm 10-20 cm, gốc rễ bám vào đất, thân
nổi lềnh bềnh trên mặt nước với rễ phụ phù du mọc ra từ đốt lúa ngâm trong nước
hóng hút phù sa, đổ rạp theo chiều lũ rút nhưng bông lúa vẫn ngoi lên, cho năng
suất 2,5-4,0 T/ha lúa hữu cơ cao giá. Vùng ven biển có nhiều giống lúa nước sâu
với tập quán canh tác thích hợp chịu mặn, chịu phèn khá. (Nguyễn Văn Luật,
1984, 1996).

Thu hoạch bông lúa nổi xong còn lại lớp rơm rạ dầy 20-30 cm, giữ được
nhiều phù sa hơn và giữ ẩm lâu hơn. Vụ mầu trồng tiếp không cần làm đất, không
cần hay cần ít phân bón, sâu bệnh ít.
Tuy lúa nổi đã bị “xóa sổ” trong sản xuất vì an ninh lương thực, nhưng vẫn
còn giống ở các ngân hàng gene lúa của cơ quan nghiên cứu. Quá trình BĐKH đến
mức không trồng lúa được phải đến hàng thế kỷ nữa. Trước đó, mực nước lên cao
vào mùa mưa do biển dâng, mưa dữ, lũ về vô hiệu hóa nhiều bờ bao. Lúc đó cần
lúa nổi và lúa nước sâu hồi sinh sống chung với lũ.

 Trồng giống ngô lai chống chịu tốt và cho năng suất cao.

Giống ngô lai đơn DK 9901 mới được Bộ NN-PTNT công nhận vào tháng
2/2009. DK 9901 là giống có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn, chịu úng và
chống đổ tốt, thời gian sinh trưởng từ 95 đến 105 ngày (miền Nam) và 115 đến
125 ngày (miền Bắc), trồng được 3 vụ trong năm.

 Luân canh, thâm canh tăng vụ nhiều loại cây trồng ngắn ngày để đạt được
hiệu quả cao nhất và tránh được những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
 Có thể luân canh giữa lúa – ngô, lúa – cây họ đậu. biện pháp luân canh này
giúp cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, tránh được sâu bệnh gây hại và hạn
chế được nguồn phân bón vào đất.
 Trồng các loại cây có tác dụng chống xói mòn ở hai bên bờ đê.
Trồng tre, cỏ vantivơ để tạo độ che phủ cho sườn đê. Loại cây này có rễ ăn sâu vào
lớp đất giúp hạn chế xói mòn, sạt lở đê bao trong mùa mưa lũ.

Trồng cỏ Vertiver chống xói mòn và sạt lở bờ sông


 Ngoài những giống cây, được tuyển chọn nghiên cứu vào trong trồng trọt,
chúng ta cũng cần phải bảo tồn những giống cây địa phương thuần chủng cho
năng suất cao như giống lúa khang dân, quy 5.
 Di chuyển giống cây trồng lên vùng đất có khí hậu ôn hòa, ổn định hơn.
Tuy nhiên khi di chuyển giống cần xem xét kỹ về điều kiện khí hậu ở vùng mà ta
chuyển giống cây đó lên trồng liệu có phù hợp không. Trước tiên, ta chỉ trồng với
diện tích nhỏ sau đó mới tăng dần diện tích gieo trồng lên.
Những biện pháp trên nhằm đảm bảo tốt nguồn lương thực cho con người
khi gặp phải thiên tai, bão lũ để giảm tối đa thiệt hại có thể xảy ra.
b) Trong lĩnh vực dịch vụ công nghiệp, dịch vụ.

 Nhà chống bão giúp hàng trăm người vượt thiên tai

Qua kinh nghiệm của khoảng thời gian phục vụ trong quân đội từ năm
1979 đến những năm 2000, kỹ sư Hà Trọng Dũng đặt ra ba tiêu chuẩn quan trọng
hàng đầu cho nhà cơ động HD-21N là: nhanh chóng, mạnh mẽ và hiệu quả.

Mỗi ngôi nhà cơ động HD-21N có diện tích là 16 m2 (3m x 6m) hoặc 24
m2 (4m x 6m), trọng lượng chưa tới 200 kg, có thể lắp đặt xong trong vòng một
giờ, đặt được trên mọi địa hình có bề mặt phẳng, kể cả phao trên sông và di
chuyển dễ dàng với bốn người khiêng.

Những ngôi nhà này còn được thiết kế theo dạng mở, có thể dễ dàng mở rộng diện
tích ra trước sau hoặc hai bên bằng các vật liệu bổ sung và nâng chiều cao của mái theo ý
muốn của người sử dụng.
Quy trình lắp dựng nhà cơ động HD-21N.

Thiết kế của kỹ sư Dũng mô phỏng một ngôi nhà cấp 4, kết cấu của ngôi
nhà gồm ba phần: phần khung, phần vách và phần mái.

Phần khung được làm bắng những tuýp nước mạ kẽm chống han gỉ và có
khả năng chịu lực rất cao. Toàn bộ khung nhà được lắp ghép thành một khối hình
học vững chắc với mặt đế là một khối liên kết ngang có trọng tâm chịu lực ở giữa.

Phần vách được làm bằng những tấm pano nhựa nhẹ và bền, trong trường
hợp chuyển đổi thành nhà sử dụng lâu dài có thể thay bằng vật liệu kiên cố hơn
như xi măng.

Phần mái được lợp bằng tôn, căng bằng bạt hoặc sử dụng các vật liệu sẵn có ở địa
phương, tùy thuộc từng hoàn cảnh cụ thể.
Mô hình nhà cơ động HD-21N triển khai trên tầng thượng nhà kỹ sư

Mô hình đã triển khai tại một đơn vị xây dựng ở thành phố Hạ Long, Quảng
Ninh và nhà kỹ sư Dũng. Tại tầng thượng nhà ông Dũng, trong một ngõ hẻm của
phố Hàng Đậu, nhà cơ động HD-21N được dựng mô phỏng nhà của một gia đình
nông dân trong điều kiện lũ lụt ập đến bất ngờ.

Khi nước dâng cao, vách nhà sẽ được rút để không cản trở luồng lưu thông
của lũ, phần trần nhà được kê các vật liệu sẵn có như ván, thân tre, nứa sẽ trở
thành tầng gác dùng làm nơi ở và chứa đồ đạc, còn cửa sổ thành thang leo.
Trần nhà trong tình huống lụt bão được tận dụng làm tầng gác. Ảnh:
Hồng Quân
Không chỉ ứng dụng để làm nhà vùng lũ, nhà cơ động HD-21N còn có ý nghĩa rất
lớn trong công tác khắc phục hậu quả thiên tai. Kỹ sư Dũng cho rằng, ngoài việc
dự trữ lương thực, nước uống, quần áo, thuốc men thì Nhà nước cần phải tính đến
việc dự trữ cả nhà ở cho người dân.

Theo tính toán của ông Dũng, các khung nhà sẽ được chế tạo sẵn tại xưởng, lưu
trữ tại các kho bãi. Khi cần có thể đưa ngay lên ô tô hoặc thuyền bè để phục vụ
công tác ứng cứu.

Một ô tô tải nhỏ có thể chở được đến ba “ngôi nhà”. Mỗi ngôi nhà đi kèm với sơ
đồ hướng dẫn để người dân có thể tự lắp ráp.

Tuy nhiên, việc sản xuất hàng loạt nhà cơ động HD-21N chưa thể triển khai trên
thực tế do những đòi về điều kiện mặt bằng, nguồn vốn và hệ thống tổ chức sản
xuất, phân phối quy mô lớn.

Kỹ sư Hà Trọng Dũng cho hay: “Từ ý tưởng đến sản xuất thật còn quá xa và nằm
ngoài tầm với của chúng tôi. Do vậy, trân trọng giới thiệu ý tưởng này như một
sự cống hiến và sẻ chia. Mong sớm nhận nhận được sự quan tâm của dư luận, sự
cộng tác của các đơn vị và cá nhân, Chính phủ và các tổ chức Quốc tế… “

 Nhà nổi của ông Nguyễn Xuân Cư, Nghĩa Đô, Hà Nội.

Nhà bằng bê tông cốt thép, tự nổi lên và hạ xuống theo mực nước, có tiềm
năng ứng dụng rộng rãi cho các vùng ngập lũ và phân lũ.

Nhà có kích thước 4 x 7 mét, nặng khoảng 12 tấn và có thể mang được tải
trọng 3 tấn (tính cả người). Phần thân dưới và đế nhà làm bằng bê tông cốt thép,
thân trên và mái được lợp tôn nhẹ (hoặc cót ép tùy theo khả năng kinh tế của
người dùng).
*Nguyên lý của nhà là tự nổi theo mực nước do lực đẩy Archimet. Trên nền
đất khô, nhà nằm trên một móng bê tông như các công trình bình thường, nhưng
khi nước ngập 50 cm, nó sẽ bắt đầu nổi lên trên. Một tấm sắt có gắn gioăng cao su
được chắn tại cửa ra vào, ngăn không cho nước tràn vào nhà. Người sống trong
nhà sẽ đi vào qua cửa sổ. Với mỗi tấn đồ chở thêm, nhà sẽ chìm xuống khoảng 3
centimét.

Tại bốn đầu hồi là các cọc sắt đế bê tông, neo cho nhà nổi trong nước. 4 con
trượt gắn với nhà sẽ chạy lên chạy xuống trong các cọc sắt này, tùy theo mức nước
dâng. Với cấu tạo như vậy, ông Cư cho rằng nhà có thể chịu được dòng nước chảy
và gió theo mức dự tính. Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến cáo không nên làm
nhà ở những nơi nước chảy xiết.

Ngoài ra, để tránh tác động của gió bão, người sử dụng có thể gập một phần
thân nhà lên (như kiểu cửa liếp ở vùng nông thôn) để cho gió đi qua, tránh áp lực
lớn lên nhà. Trường hợp xấu nhất là nhà bị ngập hoàn toàn, người ở trong có thể
thoát lên mái bằng cửa thoát hiểm. Khi muốn hạ nhà xuống để tránh tác động của
gió, người ở trong có thể tháo nước vào qua một cái lỗ ở sàn. Sức nặng của nước
sẽ làm nhà chìm xuống.

Nhóm nghiên cứu còn chế tạo ra một thiết bị cảm biến nhỏ, phát ra tín hiệu
báo động khi nền nhà ẩm (dấu hiệu rò rỉ hoặc thấm nước).

Ông Cư cho biết một căn nhà như vậy có giá 12-15 triệu đồng (nếu sản xuất
theo quy mô công nghiệp), phù hợp với mức thu nhập thấp của người nông dân.
Nhà có thể ứng dụng rộng rãi cho bà con vùng ngập lũ hoặc các vùng trong diện
quy hoạch phân lũ.

(Mô hình căn nhà đã được Ngân hàng thế giới (WB) trao giải thưởng sáng tạo
năm 2003.) 

(theo nguồn tin của Vnexpress, 27/3/2004)


Nhà ở trạng thái nổi
khi nước dâng.
 Cần có những thông tin dự báo cảnh báo, theo dõi diễn
biến hướng di chuyển của những cơn bão, hay hiện tượng thời tiết xấu để có thể di
chuyển kịp thời và có kế hoạch đối phó có hiệu quả.

c.Trong lĩnh vực xã hội.

Khuyến khích người dân dùng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng và thân
thiện với môi trường: - sử dụng bình nước nóng bằng năng lượng mặt trời để góp
phần giảm thiểu nguồn điện năng tiêu thụ.

- Sử dụng bóng đèn compact trong thắp sáng.


- Tắt các thiết bị điện không cần thiết để giảm lượng điện năng tiêu thụ.
- Tuyên truyền sâu rộng tới cộng đồng dân cư về những biện pháp đối phó
với các thảm họa thiên tai có thể xảy ra.
- Hưởng ứng tích cực các hoạt động như “giờ trái đất”
IV. KẾT LUẬN

BĐKH là một thảm họa môi trường toàn cầu đang diễn biến và nếu con
người không hành động khẩn cấp thì tình hình sẽ ngày càng tồi tệ hơn. Việt Nam
là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Đến cuối thế kỉ 21
nhiệt độ khí quyển ở VN có thể tăng thêm từ 4-4.50C theo kịch bản cao nhất và
2.0-2,20C theo kịch bản thấp nhất. Kèm theo là mực nước biển dâng cao, thậm chí
có dự báo lên tới 163cm chưa tính đến sự suy hạ địa chất tại một số khu vực. Tác
động của BĐKH rất đa dạng và cũng rất khó lường: mất mùa; mất đất cư trú của
hàng chục triệu người Việt Nam gia tăng lũ lụt ở một số vùng nhưng lại hạn hán ở
một số khu vực khác, bùng phát các dịch bệnh, gia tăng nghèo đói,thúc đâỷ tị nạn
môi trường trên diện rộng.

You might also like